|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT TỈNH BÌNH ĐỊNH Bản án số: 44/2024/HS-ST Ngày: 29/10/2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Lê Lân .
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phan Thanh Long
- Bà Nguyễn Thị Tuyết Vân.
Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Đặng Hải Yến – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định tham gia phiên toà: Ông Lê Đức Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số: 39/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 42/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 10 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Mai Công C; tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 10/9/1988 tại P, Bình Định; Nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nông; Trình độ học vấn: 05/12; Con ông: Mai Công K, sinh năm: 1964 và bà Võ Thị T, sinh năm: 1964; Vợ: Phan Thị Thanh N, sinh năm: 1992; Con: 02 người, lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã C, huyện P, tỉnh Bình Định từ ngày 09/5/2024 cho đến nay.
(Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa).
2. Họ và tên: Mai Công Đ; tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 08/11/1983 tại P, Bình Định; Nơi cư trú: Thôn C, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Nông; Trình độ học vấn: 04/12; Con ông: Mai Á, sinh năm: 1931 (đã chết) và bà Nguyễn Thị K1, sinh năm: 1941; Vợ: Nguyễn Thị Kim P, sinh năm: 1980; Con: 04 người, lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại xã C, huyện P, tỉnh Bình Định từ ngày 09/5/2024 cho đến nay.
(Bị cáo tại ngoại có mặt tại phiên tòa).
* Nguyên đơn dân sự:
Ủy ban nhân dân xã C, huyện P, tỉnh Bình Định.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Đức C1 – Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã C, huyện P, tỉnh Bình Định. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 28/12/2018, Ủy ban nhân dân tỉnh B ban hành Quyết định số 4854/QĐ-UBND về việc phê duyệt kết quả rà soát, điều chỉnh 3 loại rừng giai đoạn 2018-2025, định hướng đến năm 2030 tại Bình Định. Trong đó có rừng tại khoảnh 4 tiểu khu B, suối L, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định được quy hoạch là rừng đặc dụng và giao cho UBND xã C, huyện P – là cơ quan, đơn vị quản lý rừng. Sau khi có Quyết định, ngày 30 tháng 5 năm 2019, các ngành chức năng của tỉnh Bình Định tổ chức công bố Quyết định số 4854/QĐ-UBND ngày 28/12/2018 của UBND tỉnh B và bàn giao hồ sơ rừng đã được điều chỉnh tại huyện P cho UBND huyện P, có sự tham dự của UBND các xã. Sau đó, UBND huyện P, đã bàn giao hồ sơ rừng cho từng xã để quản lý, bảo vệ. Hiện rừng đặc dụng tại khoảnh 4, tiểu khu B suối L, xã C, huyện P chưa được Nhà nước giao, cho thuê hay khoán bảo vệ cho 01 tổ chức, cá nhân nào, vẫn thuộc sự quản lý, bảo vệ của UBND xã C. Sau khi được giao quản lý, bảo vệ rừng, UBND xã C, qua công tác kiểm tra, bảo vệ rừng, ngày 23 tháng 10 năm 2023, cán bộ UBND xã C phối hợp với lực lượng Kiểm lâm địa bàn đã phát hiện một số hộ dân vào khu vực suối L chặt phát rừng làm nương rẫy nên UBND xã C báo cáo các ngành chức năng. Qua điều tra đã được xác định như sau:
Mai Công C, Mai Công Đ và những đối tượng khác – là những công dân sinh sống tại thôn C, xã C, huyện P, gần khu vực rừng suối L, thường lên rừng suối L để tìm kiếm thực vật rừng nên thấy khu vực rừng tại khoảnh 4, tiểu khu B suối L, gần nguồn nước, đất tương đối bằng phẳng, có thể trồng được một số loại cây như: chanh, ớt, bầu, bí, ... nên nảy sinh ý định sẽ chặt, phát, đốt rừng tại khu vực này để lấy đất canh tác, cụ thể:
Ngày 09/11/2023, Mai Công C (sinh năm: 1988 ở thôn C, xã C, huyện P), một mình đem theo rựa và máy cưa cầm tay (nhãn hiệu Husqvarna 353) lên khu vực rừng thuộc lô 29.7, khoảnh 4, tiểu khu B suối L, thôn C, xã C, huyện P để chặt, phát rừng tại khu vực này. Khi đến nơi, C bắt đầu dùng rựa chặt, phát dây leo, bụi rậm trước, sau đó sử dụng máy cưa cầm tay, cưa ngã những cây rừng tự nhiên có đường kính từ 06-40cm; ban ngày C lao động, ban đêm C ngủ tại rừng, có khi về nhà lấy thực phẩm rồi tiếp tục lên rừng để chặt, phát tiếp. Cứ như vậy, C chặt, phát rừng liên tục trong khoảng 06 ngày thì xong. Sau khi chặt, cưa toàn bộ dây leo, bụi rậm và cây rừng tự nhiên, C để vậy và dự định khi cây khô sẽ đốt, lấy đất canh tác nhưng chưa kịp đốt thì bị lực lượng Kiểm lâm địa bàn phối hợp với cán bộ UBND xã C kiểm tra, phát hiện và xác định được khu vực rừng thuộc lô 29.7, khoảnh 4, tiểu khu B là do Mai Công C chặt, phát. Khi lực lượng chức năng khám nghiệm hiện trường thì vẫn còn nguyên hiện trạng như lúc C vừa chặt, phát xong và C thừa nhận khu vực rừng này là do C tự chặt, phát và cưa.
* Theo Kết luận giám định rừng số 21/KL-TTQH ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Trung tâm quy hoạch nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bình Định thì khu vực rừng bị phá thuộc lô B, khoảnh 4, tiểu khu B thôn C, xã C, huyện P do Mai Công C thực hiện, cụ thể:
- - Tại hiện trường, toàn bộ cây gỗ rừng tự nhiên đã bị chặt hạ, thân và gốc cây còn ở hiện trường, xung quanh là rừng tự nhiên;
- - Diện tích rừng bị thiệt hại: 6.542m² (0,65ha);
- - Cơ quan, đơn vị quản lý rừng: UBND xã C;
- - Loại rừng bị thiệt hại:
- + Theo mục đích, chức năng rừng: Rừng đặc dụng;
- + Phân theo nguồn gốc: Rừng tự nhiên;
- + Phân theo loài cây, nhóm gỗ: Rừng thường xanh cây gỗ thông thường;
- + Phân theo trữ lượng: Rừng nghèo kiệt (TXK);
- + Trữ lượng bình quân: 16,20m³/ha;
- + Trữ lượng gỗ rừng thiệt hại: 10,60m³;
- + Giá trị rừng bị thiệt hại: 36.080.008 đồng.
Cũng giống Mai Công C, ngày 03/10/2023, Mai Công Đ (sinh năm: 1983, ở thôn C, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định), một mình mang theo rựa lên khu vực rừng thuộc lô 29.3, khoảnh 4, tiểu khu B suối L, thôn C, xã C, huyện P để chặt, phát rừng tại khu vực này. Khi đến nơi, Đ bắt đầu dùng rựa chặt, phát dây leo, bụi rậm từ hướng Đông Bắc trước, rồi phát dọn lên khu vực phía Nam; chặt, phát được hơn ½ lô 29.3 thì trời tối nên Đ đi về nhà nghỉ ngơi. Ngày 04/10/2023, Đ mang theo rựa và máy cưa cầm tay (nhãn hiệu Husqvarna 353) tiếp tục lên khu vực đã chặt, phát hôm trước, sử dụng máy cưa cầm tay, cưa ngã những cây rừng tự nhiên có đường kính 05-10cm, đến 17 giờ cùng ngày thì chặt, phát xong tại lô 29.3. Sau khi chặt, cưa toàn bộ dây leo, bụi rậm và cây rừng tự nhiên, Đ dự định khi cây khô sẽ đốt và đốt chung cỏ tranh ở lô 29.4 khoảnh 4, tiểu khu B (vì lô 29.4 đã do ai phát, đốt trước đó, chưa có rừng, chỉ có cỏ tranh xen lẫn cây tái sinh, không có gốc chặt của cây gỗ), để lấy đất canh tác nhưng chưa kịp đốt thì bị lực lượng Kiểm lâm địa bàn phối hợp với cán bộ UBND xã C kiểm tra, phát hiện và xác định được khu vực rừng thuộc lô 29.4, khoảnh 4, tiểu khu B là do Mai Công Đ chặt, phát. Khi lực lượng chức năng khám nghiệm hiện trường thì vẫn còn nguyên hiện trạng như lúc Đ vừa chặt, phát xong và Đ thừa nhận khu vực rừng này là do Đ tự chặt, phát và cưa.
* Theo Kết luận giám định rừng số 17/KL-TTQH ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Trung tâm quy hoạch nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bình Định thì khu vực rừng bị phá thuộc lô B, khoảnh 4, tiểu khu B thôn C, xã C, huyện P do Mai Công Đ thực hiện, cụ thể:
- - Tại hiện trường, toàn bộ cây gỗ rừng tự nhiên đã bị chặt hạ chỉ còn gốc chặt, xung quanh là rừng tự nhiên;
- - Diện tích rừng bị thiệt hại: 1.123m² (0,11ha);
- - Cơ quan, đơn vị quản lý rừng: UBND xã C;
- - Loại rừng bị thiệt hại:
- + Theo mục đích, chức năng rừng: Rừng đặc dụng;
- + Phân theo nguồn gốc: Rừng tự nhiên;
- + Phân theo loài cây, nhóm gỗ: Rừng thường xanh cây gỗ thông thường;
- + Phân theo trữ lượng: Rừng nghèo kiệt (TXK);
- + Trữ lượng bình quân: 16,20m³/ha;
- + Trữ lượng gỗ rừng thiệt hại: 1,82m³;
- + Giá trị rừng bị thiệt hại: 6.192.599 đồng.
* Theo Kết luận giám định rừng số 18/KL-TTQH ngày 18 tháng 01 năm 2024 của Trung tâm quy hoạch nông nghiệp, nông thôn tỉnh Bình Định thì khu vực rừng bị phá thuộc lô B, khoảnh 4, tiểu khu B thôn C, xã C, huyện P do Mai Công Đ thực hiện, cụ thể:
- - Tại hiện trường, chưa có rừng, có cỏ tranh xen lẫn cây tái sinh, không có gốc chặt của cây gỗ; xung quanh là rừng tự nhiên;
- - Diện tích rừng bị thiệt hại: 237m² (0,02ha);
- - Cơ quan, đơn vị quản lý rừng: UBND xã C;
- - Loại rừng bị thiệt hại: Diện tích chưa có rừng, có cây gỗ tái sinh (DT2) thuộc quy hoạch chức năng đặc dụng.
* Về dân sự:
Quá trình điều tra, bị cáo Mai Công C đã tự nguyện nộp số tiền 36.080.000 đồng, bị cáo Mai Công Đ đã tự nguyện nộp số tiền 6.193.000 đồng để bồi thường, khắc phục hậu quả của vụ án theo Kết luận giám định.
* Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện P tạm giữ và chuyển giao Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Cát bảo quản: 02 (hai) cưa xăng cầm tay nhãn hiệu Husqvarna 353 màu đỏ cam; 01 (một) cái rựa, cán bằng tre dài 30cm, lưỡi bằng kim loại dài 24 cm; 01 (một) cái rựa, cán bằng tre dài 38cm, lưỡi bằng kim loại dài 38 cm; 02 giấy nộp tiền khắc phục hậu quả đề ngày 21/6/2024.
(Có đặc điểm như biên bản giao nhận tài liệu, vật chứng ngày 11/10/2024).
Tại bản Cáo trạng số: 42/CT-VKSPC, ngày 01 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định đã truy tố các bị cáo Mai Công C về tội “Hủy hoại rừng” quy định tại điểm d khoản 3 Điều 243 của Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015; bị cáo Mai Công Đ về tội “Hủy hoại rừng” quy định tại điểm d khoản 1 Điều 243 của Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Mai Công C về tội “Hủy hoại rừng” quy định tại điểm d khoản 3 Điều 243 của Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015; bị cáo Mai Công Đ về tội “Hủy hoại rừng” quy định tại điểm d khoản 1 Điều 243 của Bộ luật Hình sự (BLHS) năm 2015 và không có thay đổi bổ sung gì thêm.
* Về tội danh: Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) tuyên bố các bị cáo Mai Công C và Mai Công Đ phạm tội: “Hủy hoại rừng”
* Về trách nhiệm hình sự: Đề nghị HĐXX:
- - Áp dụng điểm d khoản 3 Điều 243; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54, Điều 38 của BLHS năm 2015 để xử phạt bị cáo Mai Công C từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng.
- - Áp dụng điểm d khoản 1 Điều 243; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của BLHS năm 2015 để xử phạt bị cáo Mai Công Đ từ 15 tháng đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện P, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
* Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Mai Công C phải bồi thường số tiền 36.080.000 đồng, bị cáo Mai Công Đ 66.192.599 đồng để khắc phục hậu quả cho UBND xã C. Các bị cáo đã nộp hết số tiền khắc phục hậu quả nên trả lại toàn bộ số tiền các bị cáo đã nộp cho UBND xã C quản lý, sử dụng đúng mục đích.
* Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 02 (hai) cưa xăng cầm tay nhãn hiệu Husqvarna 353 màu đỏ cam; 01 (một) cái rựa, cán bằng tre dài 30cm, lưỡi bằng kim loại dài 24 cm; 01 (một) cái rựa, cán bằng tre dài 38cm, lưỡi bằng kim loại dài 38 cm.
Tại phiên tòa, trong phần tự bào chữa các bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Trong phần tranh luận, các bị cáo, nguyên đơn dân sự không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng, các bị cáo thực sự ăn năn, hối cải và mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:
[1]. Xét về mặt thủ tục tố tụng: Trong các giai đoạn điều tra, truy tố, Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo, nguyên đơn dân sự đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, có đủ căn cứ để xác định: ở các giai đoạn tố tụng này, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của những người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp; quyền và nghĩa vụ của những người tham gia tố tụng được đảm bảo, các nguyên tắc trong tố tụng hình sự được tôn trọng và thực hiện đầy đủ theo quy định của pháp luật hình sự.
[2]. Xét nội dung của vụ án và hành vi của bị cáo thực hiện, tính chất nguy hiểm của hành vi, HĐXX thấy rằng:
Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi diễn biến của vụ án như nội dung bản Cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Lời khai của các bị cáo trước Tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, Kết luận giám định rừng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra làm rõ tại phiên tòa. Như vậy, HĐXX có đủ cơ sở chứng cứ và yếu tố pháp lý kết luận:
Xuất phát từ ý thức muốn có đất canh tác, trồng một số cây ăn quả để tăng thêm thu nhập cho gia đình nên Mai Công C và Mai Công Đ đã cố ý vi phạm những quy định của Nhà nước về quản lý, bảo vệ rừng, tự ý đến khu vực rừng suối L thuộc loại rừng đặc dụng ở thôn C, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định, do UBND xã C quản lý, bảo vệ. Các bị cáo đã dùng rựa, cưa cầm tay để chặt, phát cây rừng tự nhiên. Trong đó, Mai Công C đã chặt, phát rừng trong khoảng thời gian từ 09/11/2023 tại lô 29.7, khoảnh 4, tiểu khu B với diện tích rừng bị thiệt hại là 6.542m² (0,65ha), gây thiệt hại 36.080.000 đồng; Mai Công Đ đã chặt, phát rừng trong khoảng thời gian từ 03/10/2023 tại lô 29.3, khoảnh 4, tiểu khu B với diện tích rừng bị thiệt hại là 1.123m² (0,11ha), gây thiệt hại 6.192.599 đồng.
Hành vi của các bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về khai thác và bảo vệ rừng mà còn xâm hại đến sự ổn định bền vững của môi trường sinh thái, gây ra những hậu quả nghiêm trọng khác, gây mất trật tự an toàn xã hội ở địa phương nên cần xử lý theo quy định của pháp luật hình sự.
Hành vi chặt phá cây rừng trái phép của các bị cáo Mai Công C và Mai Công Đ đủ các yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại rừng”.
Trong vụ án, có 02 bị cáo thực hiện hành vi chặt phá rừng nhưng hành vi của mỗi bị cáo đều tự mình thực hiện độc lập, tại vị trí, thời gian khác nhau, không có sự rủ rê, câu kết với nhau do đó không phải chịu chung hậu quả mà mỗi bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự riêng về hành vi phạm tội của mình. Trong đó, hành vi của bị cáo Mai Công C đã hủy hoại rừng đặc dụng với diện tích 6.542m², tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 3 Điều 243 Bộ luật Hình sự năm 2015; Hành vi của bị cáo Mai Công Đ đã hủy hoại rừng đặc dụng với diện tích 1.123m², tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 1 Điều 243 Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định truy tố các bị cáo Mai Công C và Mai Công Đ về tội “Hủy hoại rừng” là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[3]. Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của các bị cáo để quyết định hình phạt, HĐXX thấy rằng:
Các bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong giai đoạn điều tra, truy tố và cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải. Sau khi phạm tội, các bị cáo đã tự nguyện bồi thường hết số tiền thiệt hại về rừng để khắc phục toàn bộ hậu quả. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xét các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, ngoài lần phạm tội này chưa có lần phạm tội nào khác, các bị cáo có hoàn cảnh gia đình thực sự khó khăn, là lao động chính trong gia đình nên HĐXX cũng xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ khác quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS. Bên cạnh đó, về nguyên nhân của vụ án cũng có một phần thiếu sót của Ủy ban nhân dân UBND xã C, huyện P trong công tác quản lý và tuyên truyền rộng rãi trong nhân dân, các bị cáo có trình độ học vấn thấp, nghỉ học từ nhỏ để làm thuê nên thiếu hiểu biết pháp luật nên đã thực hiện hành vi phạm tội.
HĐXX cũng xem xét gia đình của các bị cáo Mai Công C và Mai Công Đ đều có người thân là người có công với cách mạng, được Nhà nước tặng thưởng các Huân chương hạng Nhất, hạng Ba; mục đích phạm tội của bị cáo cũng vì hoàn cảnh khó khăn, không có đất canh tác nên đã hủy hoại rừng vì mục đích trồng một số cây ăn quả để cải thiện đời sống kinh tế gia đình, không vì mục đích khai thác lâm sản nên HĐXX áp dụng các quy định pháp luật để giảm một phần hình phạt cho các bị cáo. Cụ thể, đối với bị cáo Mai Công C, HĐXX áp dụng Điều 54 BLHS giảm cho bị cáo một phần hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà Viện kiểm sát đã truy tố để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà ân tâm cải tạo, sớm tái hòa nhập cộng đồng. Đối với bị cáo Mai Công Đ thực hiện hành vi phạm tội với diện tích không lớn nên HĐXX áp dụng Điều 65 BLHS miễn chấp hành hình phạt có điều kiện cho bị cáo cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Trong vụ án còn có các đối tượng đã phá rừng đặc dụng tại khu vực rừng suối L, thôn C, xã C, huyện P, tỉnh Bình Định gồm: Nguyễn Công T1 phá rừng tại lô B, khoảnh 4, tiểu khu B với diện tích rừng bị thiệt hại là 440m²; Phạm Ngọc L phá rừng tại lô B, khoảnh 4, tiểu khu B với diện tích rừng bị thiệt hại là 192m²; Mai Thị Kim L1, phá rừng tại lô B, khoảnh 4, tiểu khu B với diện tích rừng bị thiệt hại là 178m². Tuy nhiên, diện tích rừng do các đối tượng này phá chưa đủ định lượng cấu thành tội “Hủy hoại rừng” quy định tại Điều 243 BLHS 2015 nên cơ quan CSĐT Công an huyện P, chuyển xử lý vi phạm hành chính là đúng quy định. Ngoài ra, còn 01 số lô khác thuộc rừng đặc dụng suối L bị phá nhưng chưa xác định được đối tượng phá nên cơ quan CSĐT tách ra xử lý sau.
Đối với công tác quản lý, bảo vệ rừng theo chủ trương của Nhà nước, HĐXX xác định địa phương cũng chưa thực hiện tốt, do đó kiến nghị đến cơ quan quản lý Nhà nước cần nâng cao trách nhiệm hơn nữa trong công tác quản lý, bảo vệ rừng.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng phù hợp với nhận định trên nên được HĐXX chấp nhận.
[4]. Về trách nhiệm dân sự và các biện pháp tư pháp khác:
[4.1]. Về trách nhiệm dân sự.
Các bị cáo đã tự nguyện nộp toàn bộ số tiền thiệt hại để khắc phục hậu quả. Do vậy, HĐXX ghi nhận sự tự nguyện của các bị cáo, giao toàn bộ số tiền các bị cáo đã nộp cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện P, tỉnh Bình Định quản lý, sử dụng đúng mục đích theo quy định.
[4.2]. Về xử lý vật chứng:
Đối với 02 (hai) cưa xăng cầm tay nhãn hiệu Husqvarna 353 màu đỏ cam; 01 (một) cái rựa, cán bằng tre dài 30cm, lưỡi bằng kim loại dài 24 cm; 01 (một) cái rựa, cán bằng tre dài 38cm, lưỡi bằng kim loại dài 38 cm; xét thấy vật chứng này là tang vật mà các bị cáo dùng trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội còn giá trị sử dụng nên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.
[5]. Về án phí: Căn cứ theo khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc các bị cáo Mai Công C và Mai Công Đ phải chịu án phí HSST sung vào ngân sách Nhà nước.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm d khoản 3 Điều 243; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Mai Công C;
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 243; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đối với bị cáo Mai Công Đ;
Căn cứ các Điều 584, 585, 586 của Bộ luật Dân sự; Điều 48 Bộ luật Hình sự;
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ vào a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố các bị cáo Mai Công C và Mai Công Đ phạm tội “Hủy hoại rừng”.
2. Về hình phạt:
2.1. Xử phạt bị cáo Mai Công C 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt đi chấp hành án.
2.2. Bị cáo Mai Công Đ 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 24 (Hai mươi bốn) tháng kể từ ngày tuyên án 29/10/2024.
Giao bị cáo Mai Công Đ cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện P, tỉnh Bình Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Toà án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
3. Trách nhiệm dân sự và các biện pháp tư pháp:
3.1. Trách nhiệm dân sự:
Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường thiệt hại của bị cáo Mai Công C với số tiền 36.080.000 đồng; của bị cáo Mai Công Đ số tiền 6.193.000 đồng. Giao trả toàn bộ số tiền 42.273.000 đồng cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện P, tỉnh Bình Định do ông Nguyễn Đức C1 là người đại diện theo pháp luật quản lý, sử dụng đúng mục đích. Hiện toàn bộ số tiền trên đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Cát.
3.2. Xử lý vật chứng:
Tịch thu sung ngân sách Nhà nước: 02 (hai) cưa xăng cầm tay nhãn hiệu Husqvarna 353 màu đỏ cam; 01 (một) cái rựa, cán bằng tre dài 30cm, lưỡi bằng kim loại dài 24cm; 01 (một) cái rựa, cán bằng tre dài 38cm, lưỡi bằng kim loại dài 38cm.
(Các vật chứng nêu trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 11/10/2024, hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định).
4. Về án phí: Các bị cáo Mai Công C và Mai Công Đ, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào ngân sách Nhà nước.
5. Quyền kháng cáo đối với bản án: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các bị cáo, nguyên đơn dân sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án.
6. HĐXX kiến nghị: Ủy ban nhân dân huyện P tiếp tục chỉ đạo UBND các xã, thị trấn trên địa bàn huyện cần tăng cường công tác tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật; thực hiện các biện pháp quản lý Nhà nước về bảo vệ rừng và thực hiện theo Quyết định số 4854/QĐ-UBND ngày 28/12/2018 của UBND tỉnh B về việc phê duyệt kết quả rà soát, điều chỉnh 3 loại rừng giai đoạn 2018-2025, định hướng đến năm 2030 tại Bình Định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Phan Lê Lân |
Bản án số 44/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH về hủy hoại rừng
- Số bản án: 44/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hủy hoại rừng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Mai Công C và MAi Công Đ - Hủy hoại rừng
