|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 44/2024/HS – PT Ngày: 06 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vương Thị Hà.
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Trọng Trường.
Ông Cao Việt Hoàng
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hồng Anh – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Bà Thân Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh xét xử phúc thẩm công khai hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số: 69/2024/TLPT – HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn C do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 69/2024/HS-ST ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh.
* Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn C, sinh năm 1992; HKTT: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn C1, sinh năm 1970 (đã chết) và bà Đỗ Thị P, sinh năm 1974; gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất; vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1994; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ 08/01/2024 đến nay, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. Có mặt tại điểm cầu trại tạm giam.
Trong vụ án còn có bị cáo Nguyễn Văn L kháng cáo nhưng đã rút kháng cáo trước khi mở phiên tòa; bị cáo Nguyễn Văn G, 01 bị hại và 02 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào hồi 00 giờ 30 phút ngày 08/01/2024, tổ tuần tra kiểm soát Công an huyện Y phát hiện, kiểm tra và bắt quả tang Nguyễn Văn C sinh năm 1992 trú tại thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh có hành vi trộm cắp tài sản.
Vật chứng thu giữ: 01 xe cải tiến bằng kim loại; 06 cuộn cáp điện giống nhau, mỗi cuộn dây có chiều dài 11,4 mét, đường kính 3,5cm, vỏ bọc ngoài bằng cao su màu đen, bên trong đều có lõi đồng; 01 kéo bằng kim loại có chuôi màu đỏ; 01 bút thử điện màu đỏ; 02 cuộn băng dính màu đen; 01 cờ lê; 01 dao dọc giấy màu xanh; 01 đèn pin loại nhỏ; 01 bộ tay công và các đầu bu long.
Lực lượng Công an đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang rồi đưa C cùng toàn bộ vật chứng về trụ sở Công an huyện Y để xác minh, làm rõ.
Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn C khai nhận:
Do không có tiền tiêu sài cá nhân nên Nguyễn Văn C và Nguyễn Văn G, sinh năm 1992 cùng trú tại thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh rủ nhau đi trộm cắp tài sản. Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 07/01/2024, C và G hẹn gặp nhau tại cổng nhà xe gần ký túc xá Công ty TNHH S thuộc Khu công nghiệp Y để chui vào trong Công ty TNHH S1 (Công ty S1) ở bên cạnh đó để trộm cắp dây cáp điện. Khi đi C mang theo một bao tải dứa màu trắng, bên trong có 01 chiếc kìm cắt bằng kim loại dài 60cm, 01 kìm cắt loại nhỏ, 02 cuộn băng dính màu đen. G mang theo một túi nilong màu trắng, bên trong có 01 chiếc cờ lê, 01 dao dọc giấy màu xanh, 01 đèn pin loại nhỏ, bộ tay công và 06 đầu bu lông. Khi đến cổng Công ty S1, G và C chui qua khe cổng chính của Công ty rồi đi vào bên trong sân. Tại đây, C và G gặp Nguyễn Văn L, sinh năm 1991 ở cùng thôn cũng đang tìm tài sản để trộm cắp. G và C rủ L tham gia trộm cắp dây cáp điện cùng. L đồng ý. Sau đó, G, C và L đi đến trạm biến áp điện đặt bên trong Công ty S1, L và C trèo lên trên trạm biến áp để tháo dây cáp điện, còn G đứng ở dưới cảnh giới. Cương trèo lên trạm biến áp và dùng bút thử điện kiểm tra thấy không có điện nên C và L dùng kìm mang theo để cắt dây cáp điện nhưng không cắt được. Sau đó, C dùng tay công lắp đầu bu lông vào vặn tháo ốc của các đầu dây cáp điện loại cáp 0,6/1KVCu/MICA/XLPE/FR-PVC/2012, chiều dài 11,4m/cuộn, đường kính 3,5 cm, vỏ bọc cao su có lõi đồng, còn L cầm đèn pin đứng soi cho C. Sau khi C tháo xong 06 đầu dây cáp điện bên trên thì C và L xuống nghỉ còn G tiếp tục dùng tay công tháo các đầu dây cáp điện phía dưới. Sau khi G tháo xong các đầu dây phía dưới thì L, C và G cùng nhau cuộn tròn các đoạn dây cáp điện lại thành 06 cuộn. G bảo L bê một cuộn dây ra phía cổng công ty rồi đi về lấy xe mô tô để chở số dây cáp điện đã trộm cắp được còn G và C sẽ bê 05 đoạn dây cáp điện còn lại. L đồng ý rồi kéo 01 cuộn dây cáp điện ra cổng Công ty S1 rồi đi bộ về quán nước của anh Nguyễn Văn D sinh năm 1980 tại thôn T, xã Y (anh trai của L) để lấy chiếc xe mô tô Honda AIRBLADE, biển kiểm soát (BKS) 99Y1 - 6931 màu đen của L gửi trước đó. Sau đó, L điều khiển xe mô tô BKS: 99Y1 - 6931 đi đến bãi đất trống thôn T lấy một chiếc xe cải tiến kéo đến cổng Công ty C&T. L đứng giữ càng xe cải tiến để C và G bê 06 cuộn dây cáp điện trộm cắp được lên xe rồi L lấy một chiếc chăn cũ ở bên đường trùm lên che các cuộn dây cáp điện. Sau đó, L điều khiển xe mô tô, G ngồi phía sau kéo theo xe cải tiến còn C chạy theo sau đẩy xe cải tiến đi về hướng thôn T. Khi cả ba đi đến đoạn ký túc xá Công ty S thì bị lực lượng Công an phát hiện và bắt quả tang C, còn L và G phóng xe bỏ chạy thoát.
Ngày 08/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y ra Lệnh bắt Nguyễn Văn L và thu giữ của L: 01 điện thoại Vivo ROM số Imei: 867695059368372; 01 chùm chìa khóa, gồm 01 chìa khóa xe máy và 08 chìa khóa các loại; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade màu đen; số máy: JF18E-5030587; số khung: RLHJF18007Y53047.
Ngày 09/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y ra Yêu cầu định giá số 115A đề nghị Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Y định giá đối với: “06 cuộn dây cáp điện, trên vỏ in chữ: 0,6/1KVCu/MICA/XLPE/FR-PVC/2012, chiều dài 11,4m/cuộn, đường kính 3,5 cm, vỏ bọc sao su, lõi đồng đã qua sử dụng”.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 03/KLĐGTS ngày 10/01/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Y, kết luận: số dây cáp điện kể trên có trị giá tại thời điểm định giá là: 53.352.000 đồng.
Ngày 21/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã bắt tạm giam Nguyễn Văn G.
Với nội dung trên, bản án hình sự sơ thẩm số: 69/2024/HS-ST ngày 07 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh đã xét xử và tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Văn C 26 (Hai mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 08/01/2024.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về tội danh và hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Văn G, Nguyễn Văn L; tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo là xin được hưởng án treo. Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thừa nhận bản án sơ thẩm đã xét xử đúng người, đúng tội, không oan. Bị cáo đã nhận thức được hành vi sai trái của mình, thành khẩn khai nhận, ăn năn hối cải, vì vậy mong Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã đề nghị HĐXX căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng Hình sự: Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn C, giữ nguyên bản án sơ thẩm, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bị cáo Nguyễn Văn C không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
Về tố tụng: Quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án, các cơ quan và người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, không bị khiếu nại. Sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo Đỗ Nguyễn Văn L1, Nguyễn Văn C có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định do vậy kháng cáo của các bị cáo là hợp lệ, được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Ngày 26/7/2024, bị cáo Nguyễn Văn L1 có Đơn xin rút kháng cáo. Xét thấy bị cáo L1 rút toàn bộ kháng cáo trước khi mở phiên tòa phúc thẩm nên Tòa án đã ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với bị cáo L1 là đúng quy định pháp luật.
-
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như án sơ thẩm đã quy kết. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và các bị cáo khác, phù hợp với vật chứng thu giữ được và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, vì vậy có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 00 giờ 00 phút ngày 08/01/2024, tại Công ty TNHH S1 thuộc khu công nghiệp Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, Nguyễn Văn C, Nguyễn Văn L1 và Nguyễn Văn G đã cùng nhau thực hiện hành vi trộm cắp 06 cuộn dây cáp điện, trên vỏ in chữ: 0,6/1KVCu/MICA/XLPE/FR-PVC/2012, chiều dài 11,4m/cuộn, đường kính 3,5 cm, vỏ bọc sao su, lõi đồng đã qua sử dụng, trị giá 53.352.000 đồng của Công ty S1. Vì vậy có đủ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, án sơ thẩm đã xét xử bị cáo Nguyễn Văn C là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của Công ty S1, làm mất an ninh trật tự trên địa bàn, tạo dư luận xấu đối với nhà đầu tư nước ngoài. Do vậy cần xử lý bị cáo nghiêm khắc và kịp thời mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
-
Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, sau khi phạm tội, bị cáo đã tác động gia đình nộp số tiền 5.000.000đ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Phong để khắc phục một phần hậu quả, vì vậy bị cáo C được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bản án sơ thẩm đã xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo và quyết định mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không xuất trình thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Vì vậy HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị cáo C, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
-
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
-
Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn C, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Văn C 26 (Hai mươi sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 08/01/2024.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án xử phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vương Thị Hà |
|
CÁC THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Cao Việt Hoàng |
Nguyễn Trọng Trường |
Vương Thị Hà |
6
Bản án số 44/2024/HS – PT ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 44/2024/HS – PT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
