Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 44/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 25/4/2024

V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi

con khi ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lê Thị Thủy

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Danh Lơi

Bà Phạm Thị Sơn

-Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Dương Xuân Tú, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

-Đại diện VKSND tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên tòa:

Bà Lữ Thị Phương Q

- Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 38/2024/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/3/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09/4/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Tống Thị N, sinh năm: 1976, vắng mặt.
  2. Địa chỉ: Số G phố T, phường P, TP T, tỉnh Thanh Hóa.

  3. Bị đơn: Ông Vũ Văn S, sinh năm: 1972, vắng mặt.
  4. Nơi ĐKHKTT: Số G phố T, phường P, TP T, tỉnh Thanh Hóa.

    Nơi ở hiện nay: Bulgaria.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 02/02/2024, bản tự khai và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn là trình bày:

1. Về hôn nhân: Bà N và ông Vũ Văn S kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 05/01/2012 tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.

Sau khi kết hôn, vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc. Do kinh tế khó khăn năm 2014, ông S đi xuất khẩu lao động tại Bulgaria. Thời gian đầu vợ chồng còn gọi điện hỏi thăm nhau nhưng từ năm 2018 ông S không gửi tiền về cho gia đình, không còn quan tâm đến vợ con. Hiện tại ông S đang sinh sống tại Bulgaria, nhiều lần bà N nhắn tin đề nghị ông S về nước để vợ chồng làm thủ tục ly hôn, nhưng ông S không về. Sau đó thì ông S cắt liên lạc.

Vợ chồng bà sống ly thân từ lâu, không ai quan tâm đến ai. Bà không biết địa chỉ nơi ở và nơi làm việc cụ thể của ông S bên Bulgaria.

Nay bà xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Vũ Văn S.

2. Về con : Ông S và bà N có 01 con chung là cháu Vũ Khánh T, sinh ngày 14/10/2013. Ly hôn bà N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu T, không yêu cầu ông S cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

3. Về tài sản, công nợ chung: Bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Bà N trình bày bà không biết địa chỉ cụ thể của ông Vũ Văn S tại Bulgaria nên không thể cung cấp cho Tòa án. Ông S vẫn thường xuyên liên lạc với anh trai ông S là ông Vũ Tiến T1, địa chỉ số A Đ, phường H, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa (bố mẹ đẻ ông S đã chết). Đề nghị Tòa án tiến hành thu thập thêm thông tin của ông S từ ông T1.

Tại các biên bản lấy lời khai, ông Vũ Tiến T1 trình bày:

Ông Vũ Tiến T1 là anh trai của ông Vũ Văn S. Bà Tống Thị N là vợ ông Vũ Đình S1 và là em dâu của ông. Năm 2012, ông S1 và bà N kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thành phố T. Sau khi kết hôn ông S1 về chung sống với bà N tại số G phố T, phường P, TP T, tỉnh Thanh Hóa. Đến năm 2014, ông S1 đi Bulgaria làm ăn. Ông không biết địa chỉ cụ thể của ông S1 ở Bulgaria nên không thể cung cấp cho Tòa án nhưng ông vẫn thường xuyên liên lạc với ông S1 nên ông đồng ý nhận các văn bản của Tòa án và có trách nhiệm thông báo cho ông S1. Bà N có đơn đề nghị Tòa án giải quyết ly hôn ông S1, ông cũng biết sự việc. Ông thông tin cho ông S1 về việc bà N xin ly hôn thì ông S1 cũng đồng ý ly hôn. Vợ chồng ông S1 và bà N có một con chung là cháu Vũ Khánh T, sinh ngày 14/10/2013, hiện nay cháu T đang ở với bà N. Ly hôn bà N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi cháu T và không yêu cầu ông S1 cấp dưỡng tiền nuôi con chung; ông đã trao đổi với ông S1 thì ông S1 cũng đồng ý. Vợ chồng ông S1 và bà N không có tài sản, công nợ chung.

Ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa tại phiên tòa:

  • Về tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  • Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận đơn khởi kiện của bà Tống Thị N, xử cho bà N được ly hôn ông S1. Về con: Giao cháu Vũ Khánh T, sinh ngày 14/10/2013 cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng, ông S1 không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Căn cứ các Điều 56; 81; 82; 83 Luật Hôn nhân gia đình. Bà N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà, ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng:

[1.1]. Về thẩm quyền của Tòa án:

Bà Tống Thị N là nguyên đơn đang cư trú tại tỉnh Thanh Hóa, bị đơn là Ông Vũ Văn S đăng ký hộ khẩu tại thành phố T, tỉnh Thanh Hóa nhưng hiện nay đang sinh sống tại Bulgaria. Do trong vụ án có bị đơn cư trú ở nước ngoài. Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

[1.2]. Về việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị đơn:

N chỉ cung cấp được địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của ông S ở Việt Nam nhưng không cung cấp được địa chỉ của ông S tại nước ngoài. Tòa án đã yêu cầu đến lần thứ hai nhưng ông Vũ Tiến T1 là anh trai của ông S trình bày không biết địa chỉ của ông S ở Bulgaria. Tuy ông S thường xuyên liên lạc với gia đình nhưng cố tình không cung cấp địa chỉ của ông hiện nay ở nước ngoài. ông Vũ Tiến T1 vẫn thường xuyên liên lạc với ông S nên đã nhận các văn bản tố tụng để thông báo cho ông S. Vì vậy, Tòa án giải quyết vụ án theo thủ tục bị đơn cố tình giấu địa chỉ.

[1.3]. Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Tống Thị N có đơn xin xử vắng mặt; bị đơn là ông Vũ Văn S mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng qua người thân đến lần thứ hai nhưng vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xét xử vắng mặt các đương sự.

[2]. Về nội dung:

[2.1]. Về hôn nhân: Bà Tống Thị N và ông Vũ Văn S kết hôn trên cơ sở tự nguyện; có đăng ký kết hôn tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền nên là hôn nhân hợp pháp.

Trong lời khai, các tài liệu gửi đến Tòa án, bà N đều trình bày vợ chồng bà mâu thuẫn nhiều năm nay, không còn quan tâm đến nhau. Do mâu thuẫn vợ chồng ông bà đã không liên hệ với nhau, bà N không có địa chỉ của ông S tại Bulgaria nên không cung cấp địa chỉ của ông S tại Bulgaria cho Tòa án được. Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa ông S và bà N đã lâm vào tình trạng trầm trọng, vợ chồng sống ly thân đã lâu, không ai quan tâm đến ai, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ Điều 51; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận cho bà N được ly hôn ông S.

[2.2]. Về con: Ông S và bà N có 01 con chung là cháu Vũ Khánh T, sinh ngày 14/10/2013. Cháu T đang ở với bà N. Bà N có nguyện vọng được trực tiếp nuôi con. Mặt khác, nguyện vọng của cháu T xin được ở với mẹ. Xét thấy nguyện vọng của bà N xin được trực tiếp nuôi con là chính đáng vì hiện nay ông S đang lao động tại Bulgaria không thể trực tiếp nuôi con được. Do đó để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho cháu, cần giao cháu T cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Bà N tự nguyện không yêu cầu ông S cấp dưỡng tiền nuôi con, xét thấy đây là sự tự nguyện của bà N nên chấp nhận. Căn cứ Điều 81; 82; 83 Luật hôn nhân và gia đình.

[2.3]. Về tài sản, công nợ chung: Bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xét. Ông S không có văn bản thể hiện quan điểm giải

quyết về tài sản chung, công nợ chung nên sau này nếu ông S yêu cầu thì có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng vụ án khác.

[3]. Về án phí: Bà N là nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp.

[4]. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 4 Điều 147; Điều 273; khoản 2 Điều 479 của Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Xử:

  1. Chấp nhận đơn khởi kiện của Bà Tống Thị N.
    • Về hôn nhân: Cho bà Tống Thị N được ly hôn ông Vũ Văn S.
    • Về con: Công nhận cháu Vũ Khánh T, sinh ngày 14/10/2013 là con chung của bà Tống Thị N và ông Vũ Văn S. Giao cháu T cho bà N trực tiếp nuôi dưỡng. Ông S không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.

    Ông Vũ Văn S có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.

    • Về tài sản: Không yêu cầu, Tòa án không giải quyết.
  2. Về án phí: Bà Tống Thị N phải chịu 300.000đ tiền án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào 300.000đ tiền tạm ứng án phí bà N đã nộp theo Biên lai thu số 193 ngày 05/3/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.
  3. Quyền kháng cáo:

Tống Thị N có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Ông Vũ Văn S có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 01 tháng ngày kể từ ngày nhận được bản án, hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • VKSND tỉnh Thanh Hoá (P9);
  • Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • UBND phường Phú Sơn, TP Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa;
  • Các đương sự;
  • Tổ HC-TP; - Lưu hồ sơ vụ án;
  • Lưu Tòa GD & NCTN.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thị Thủy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/HNGĐ-ST ngày 25/04/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 44/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 25/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về quyền nuôi con khi ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger