Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ TỊNH BIÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 24-5-2024

“V/v tranh chấp hôn nhân và gia

đình, về cấp dưỡng”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: bà Võ Thị Ngọc Mỹ.

Các Hội thẩm nhân dân: bà Nguyễn Thị Mai; ông Phạm Thanh Hải.

Thư ký phiên tòa: bà Lê Thị Cẩm Tiên, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tịnh Biên, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: bà Bùi Thị Kim Chi - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 361/2023/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, về cấp dưỡng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 09 tháng 5 năm 2024, giữa:

- Nguyên đơn: Bà Trần Ký T, sinh năm 1980; nơi cư trú: khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Ông Lê Thành N, sinh năm 1981; nơi cư trú: khóm X, phường T, thị xã T, tỉnh An Giang.

Nguyên đơn bà Trần Ký T, có mặt; bị đơn ông Lê Thành N, xin vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ghi ngày 09/11/2024 và trong quá trình giải quyết nguyên đơn và tại phiên toà nguyên đơn bà Trần Ký T trình bày: Bà với ông N trước đây là vợ chồng nhưng đã ly hôn theo Quyết định số 164/2020/QÐST-HNGĐ ngày 31/7/2020 của Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên. Bà là người trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung Lê Trần Thảo Q, sinh ngày 02/04/2007 và Lê Trần Trung K, sinh ngày 03/07/2014; ông N có nghĩa vụ cấp dưỡng mỗi tháng 2.000.000 đồng.

Công việc của bà là giáo viên tại Trường B ngoài ra không có thu nhập gì khác, do đó không đảm bảo nuôi dưỡng hai cháu Lê Trần Thảo Q, sinh ngày 02/04/2007 và Lê Trần Trung K, sinh ngày 03/07/2014, do có nhiều chi phí khác phát sinh trong cuộc sống và học tập của hai cháu. Để đảm bảo cuộc sống của hai cháu được tốt hơn, bà yêu cầu ông N tăng mức cấp dưỡng con chung Lê Trần Thảo Q từ 1.000.000 đồng/tháng lên 2.000.000 đồng/tháng và Lê Trần Trung K từ 1.000.000 đồng/tháng lên 2.000.000 đồng/tháng.

* Tại phiên toà bị đơn ông Lê Thành N xin vắng mặt, trong quá trình giải quyết vụ án ông N có ý kiến trình bày như sau: Ông với bà Trần Ký T là vợ chồng, nhưng đã ly hôn theo Quyết định số 164/2020/QÐST-HNGĐ ngày 31/7/2020 của Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên.

Theo Quyết định số 164/2020/QÐST-HNGĐ ngày 31/7/2020 của Toà án nhân dân thị xã Tịnh Biên, ông đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cấp dưỡng cho con chung Lê Trần Thảo Q là 1.000.000 đồng/tháng và Lê Trần Trung K là 1.000.000 đồng/tháng.

Việc bà Trần Ký T yêu cầu tăng mức cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng cho Lê Trần Thảo Q và Lê Trần Trung K, là ông không đồng ý do hiện nay ông đã lập gia đình mới nên mọi thứ chi tiêu dựa vào thu nhập chính hàng tháng tại Ngân hàng Liên Việt huyện T, ngoài ra ông không còn thu nhập nào khác.

* Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục xét xử vụ án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Đối với người tham gia tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn cơ bản đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ theo quy định tại Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về giải quyết vụ án: Tại Quyết định số 164 ngày 31/7/2023 giữa bà và ông N thống nhất thuận tình ly hôn theo đó các bên thoả thuận về người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con hàng tháng. Theo ý kiến trình bày của nguyên đơn thì bà T là giáo viên, có thu nhập ổn định, 02 con chung đang được đi học và có cuộc sống tốt, mức cấp dưỡng hiện tại đã hơn 50% mức lương cơ sở, nên việc yêu cầu của bà T là không có cơ sở chấp nhận.

Từ những phân tích nêu trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 83, 107, 110 và Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

- Về thẩm quyền: Nguyên đơn bà Trần Ký T khởi kiện tranh chấp về cấp dưỡng với bị đơn ông Lê Thành N; bị đơn có nơi cư trú tại khóm X, thị xã T, tỉnh An Giang. Đây là tranh chấp về cấp dưỡng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tịnh Biên theo quy định tại khoản 5 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (viết tắt BLTTDS).

- Về sự vắng mặt của đương sự: bị đơn ông Lê Thành N được triệu tập hợp lệ tham gia phiên toà lần thứ nhứt, có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại khoản 1 Điều 227 và khoản 1 Điều 228 của BLTTDS.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về yêu cầu của nguyên đơn: giữa bà Trần Ký T và ông Lê Thành N đã thống nhất thuận tình ly hôn theo quyết định số 164/2020/QÐST-HNGĐ ngày 31/7/2020 của Toà án nhân dân huyện Tịnh Biên (nay là thị xã T, các bên thoả thuận về quan hệ hôn nhân, nuôi con chung và cấp dưỡng, theo đó ông Lê Thành N có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung Lê Trần Thảo Q, sinh ngày 02/04/2007 và Lê Trần Trung K, sinh ngày 03/07/2014 cho mỗi cháu là 1.000.000 đồng/tháng, ông N thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ cấp dưỡng theo thoả thuận.

Đến nay, bà Trần Ký T cho rằng mức cấp dưỡng không còn phù hợp, do có nhiều chi phí khác phát sinh trong cuộc sống và trong việc học tập của hai cháu.

Tại Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về mức cấp dưỡng: “1. Mức cấp dưỡng do người có nghĩa vụ cấp dưỡng và người được cấp dưỡng hoặc người giám hộ của người đó thỏa thuận căn cứ vào thu nhập, khả năng thực tế của người có nghĩa vụ cấp dưỡng và nhu cầu thiết yếu của người được cấp dưỡng; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết. 2. Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.”

Xét, hiện nay bà Trần Ký T là người trực tiếp nuôi dưỡng các con chung sau khi ly hôn với ông Lê Thành N. Bà có công việc, thu nhập ổn định vẫn đảm bảo điều kiện sinh hoạt, học tập cho các cháu Lê Trần Thảo Q và Lê Trần Trung K. Căn cứ vào mức sống và hoàn cảnh, thu nhập của nguyên đơn và bị đơn, thì mức cấp dưỡng của ông Lê Thành N đối với các con chung, mỗi đứa 1.000.000đ/tháng là phù hợp. Mức cấp dưỡng của ông Lê Thành N thoả thuận tại quyết định số 164/2020/QÐST-HNGĐ ngày 31/7/2020, so với tại thời điểm xét xử sơ thẩm (ngày 24/5/2024) thì không dưới 1/2 (một phần hai) mức lương tối thiểu (hiện nay gọi là mức lương cơ sở) do Nhà nước quy định. Vì vậy, theo yêu cầu khởi kiện của bà Trần Ký T là không có cơ sở chấp nhận.

[2.2] Theo ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên là có căn cứ.

[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định, do yêu cầu không được chấp nhận; Bị đơn không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điều 83, 107, 110 và Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • - Điều 147, 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - khoản 1 và khoản 3 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Xử:

[1] Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Ký T đối với bị đơn ông Lê Thành N về yêu cầu cấp dưỡng;

[2] Về án phí: bà Trần Ký T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0010560 ngày 09/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tịnh Biên, bà T đã nộp xong.

[3] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung một số điều; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh An Giang (1);
  • - VKSND tx. Tịnh Biên (1);
  • - Chi cục THADS tx. Tịnh Biên (1);
  • - Các đương sự (2);
  • - Lưu HS + VP (2).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Võ Thị Ngọc Mỹ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/HNGĐ-ST ngày 24/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG về tranh chấp hôn nhân và gia đình, về cấp dưỡng

  • Số bản án: 44/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình, về cấp dưỡng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TỊNH BIÊN, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger