Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN CẨM LỆ - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44 /2024/HNGĐ-ST

Ngày: 13-8-2024

“ V/v tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Cương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Đông

Bà Lê Thị Thu Hường

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Hà – Thư ký Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa: Bà Trần Lê Phượng – Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số: 127/2024/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 4 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 133/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 22/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 112/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Mai Thị Minh K, sinh ngày 28/02/1983; Địa chỉ: A đường C, phường H, quận C, TP Đà Nẵng; Có mặt.

- Bị đơn: Ông Phan Cảnh H, sinh ngày 30/3/1980; Địa chỉ: A đường C, phường H, quận C, TP Đà Nẵng; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 01/4/2024 và bản tự khai ngày 30/5/2024 và tại phiên tòa nguyên đơn Mai Thị Minh K trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Mai Thị Minh K và ông Phan Cảnh H kết hôn với nhau vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận H, TP Đà Nẵng (Theo giấy chứng nhận kết hôn số 93/2013 ngày 13/9/2013). Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại 125 đường C, tổ I phường H, quận C, TP Đà Nẵng. Quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, đến đầu năm 2024 thì mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng hơn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp; vợ chồng không có tiếng nói chung, không đồng thuận về quan điểm chăm sóc, giáo dục con chung nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Bản thân bà K còn thương yêu chồng, muốn tạo cơ hội để vợ chồng hòa giải, nuôi dạy con cái tốt hơn. Tuy nhiên ông H không thay đổi quan điểm, nhận thức trong việc chăm sóc, giáo dục con chung. Đặc biệt ông H thường ngăn cản bà K không cho con chung Phan Nghi B, sinh ngày 09/11/2022 được gần gũi, tiếp xúc với ông bà ngoại, vì ông H cho rằng cháu B1 sẽ dễ bị lây nhiễm vi rút HP từ ông, bà ngoại. Mặc dù vợ chồng đã rất nhiều lần trao đổi, hòa giải nhưng ông H vẫn không thay đổi quan điểm, nhận thức trong việc chăm sóc, giáo dục con chung dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng không thể hòa giải được. Do đó, bà Mai Thị Minh K đề nghị giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phan Cảnh H.

- Về con chung: Bà Mai Thị Minh K xác định vợ chồng bà có 02 con chung tên Phan Nghi D, sinh ngày 21/6/2014 và Phan Nghi B2, sinh ngày 09/11/2022. Ly hôn bà K đề nghị Tòa án giải quyết giao 02 con chung cho bà trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi, bà không yêu cầu ông Phan Cảnh H cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung: Bà K xác định vợ chồng tự nguyện thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Bà K xác định không có nợ chung.

Quá trình tố tụng tại biên bản hòa giải ngày 30/5/2024, bản tự khai ngày 30/5/2024 và tại phiên tòa bị đơn ông Phan Cảnh H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Phan Cảnh H thống nhất với trình bày của bà K về thời gian, điều kiện kết hôn. Quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng không hòa hợp; không cùng quan điểm về việc chăm sóc, giáo dục con chung; việc ông H ngăn cản, hạn chế cho con chung cháu Phan Nghi B2 tiếp túc, gần gũi với bên ngoại là vì sợ con bị lây nhiễm vi rút HP ảnh hưởng đến sức khỏe của con sau này. Mỗi lần vợ chồng xảy ra mâu thuẫn vợ không tìm cách giải quyết mà chỉ muốn ly hôn. Vợ chồng đã nhiều lần hòa giải nhưng không thành, nay bà K khởi kiện ly hôn đơn phương với ông, ông H đồng ý ly hôn theo nguyện vọng của bà K.

- Về quan hệ con chung: Ông Phan Cảnh H thống nhất với trình bày của bà Mai Thị Minh K xác định vợ chồng ông bà có 02 con chung tên Phan Nghi D, sinh ngày 21/6/2014 và Phan Nghi B2, sinh ngày 09/11/2022. Nếu Tòa án giải quyết cho vợ chồng ông ly hôn thì ông H đồng ý giao con Phan Nghi D cho bà K trực tiếp nuôi dưỡng theo nguyện vọng của con. Ông H yêu cầu Tòa án giao con chung Phan Nghi B2 cho ông trực tiếp nuôi dưỡng. Vì hiện nay ông ngoại, bà ngoại bị nhiễm vi rút HP nếu giao con nhỏ cho vợ nuôi thì con sẽ dễ bị lây nhiễm vi rút HP. Hơn nữa khi giao con cho vợ nuôi gia đình vợ sẽ gây khó khăn cho ông trong việc thăm nuôi, chăm sóc, giáo dục con.

- Về tài sản chung: Ông H thống nhất với bà K xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Ông H thống nhất với bà K xác định vợ chồng không có nợ chung.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cẩm Lệ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án theo quy định tại các Điều từ Điều 239 đến Điều 243; Điều 247; Điều 249 đến Điều 252; Điều 258 và Điều 260 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Việc tuyên thủ pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng: Bị đơn chưa tuân thủ đúng quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự, cụ thể bị đơn không tham gia phiên hòa giải ngày 04/7/2024; không tham gia phiên tòa ngày 01/8/2024.

Về nội dung: Xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng bà Mai Thị Minh K và ông Phan Cảnh H đã thực sự trầm trọng, không hòa giải được; Bản thân bị đơn ông Phan Cảnh H cũng đồng ý ly hôn theo nguyện vọng của nguyên đơn. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết cho bà Mai Thị Minh K được ly hôn với ông Phan Cảnh H.

Về con chung: Ly hôn bà K đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng 2 con chung Phan Nghi D, sinh ngày 21/6/2014 và Phan Nghi B2, sinh ngày 09/11/2022; ông H đồng ý giao con chung Phan Nghi D cho bà K trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc theo nguyện vọng của con, yêu cầu Tòa án giao con chung Phan Nghi B2 cho ông được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc. Xét yêu cầu của các đương sự thì thấy: Việc giao con cho ai nuôi dưỡng phải đảm bảo điều kiện phát triển tốt nhất cho trẻ em, trên cơ sở tôn trọng nguyện vọng của con chung và phải đảm bảo phù hợp với quy định của pháp luật. Theo nguyện vọng của cháu Phan Nghi D được ở với mẹ, cháu Phan Nghi B2, sinh 09/11/2022 hiện chưa đủ 36 tháng tuổi. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà K giao 02 con chung cho bà K trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Do bà K không yêu cầu nên không xem xét.

Về tài sản chung: Bà K, ông H thống nhất xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

Về nợ chung: Bà K, ông H xác định không có nợ chung nên không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn bà Mai Thị Minh K phải chịu án phí Hôn nhân gia đình theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh luận tại phiên tòa và những tình tiết của vụ án, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án hôn nhân gia đình “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung” bị đơn là ông Phan Cảnh H có địa chỉ nơi cư trú tại: số A đường C, tổ I, phường H, quận C, TP Đà Nẵng. Do đó, Tòa án nhân dân quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng thụ lý giải quyết vụ án là đúng về thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung: Xét yêu cầu của các đương sự, trên cơ sở xem xét các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án, ý kiến trình bày, nguyện vọng của các bên và ý kiến đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Mai Thị Minh K và ông Phan Cảnh H kết hôn với nhau vào năm 2013, có đăng ký kết hôn tại UBND phường H, quận H, TP Đà Nẵng, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết vợ chồng chung sống tại A đường C, tổ I phường H, quận C, TP Đà Nẵng. Quá trình chung sống thì vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, đến đầu năm 2024 thì mâu thuẫn trở nên trầm trọng hơn, nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn theo bà K, ông H trình bày là do vợ chồng không hòa hợp; không có tiếng nói chung trong cuộc sống hôn nhân, không đồng thuận về quan điểm chăm sóc, giáo dục con chung nên thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, vợ chồng đã nhiều lần hòa giải nhưng không hòa hợp được. Do mâu thuẫn vợ chồng đã thực sự trầm trọng và không thể hòa giải được, vì vậy, bà K đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Phan Cảnh H; Bị đơn ông Phan Cảnh H đồng ý ly hôn theo nguyện vọng của bà K.

Theo kết quả xác minh tại địa phương xác định vợ chồng bà K, ông H có mâu thuẫn hay không và nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn như thế nào địa phương không nắm được.

Hội đồng xét xử thấy mâu thuẫn giữa bà Mai Thị Minh K và ông Phan Cảnh H đã thực sự trầm trọng, không thể hòa giải, hàn gắn được, cuộc sống chung không thể kéo dài; quá trình tố tụng và tại phiên tòa bị đơn cũng đồng ý ly hôn theo nguyện vọng của nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Mai Thị Minh K xử cho bà được ly hôn với ông Phan Cảnh H.

[3] Về quan hệ con chung: Bà Mai Thị Minh K và ông Phan Cảnh H thống nhất xác định vợ chồng ông, bà có 02 con chung tên Phan Nghi D, sinh ngày 21/6/2014 và Phan Nghi B2, sinh ngày 09/11/2022. Ly hôn bà K đề nghị Tòa án giải quyết giao 02 con chung cho bà trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi các con đủ 18 tuổi, bà không yêu cầu ông Phan Cảnh H cấp dưỡng nuôi con chung. Ông H đồng ý giao con chung Phan Nghi D cho bà K trực tiếp nuôi dưỡng theo nguyện vọng của con. Ông H Yêu cầu Tòa án giao con chung Phan Nghi B2 cho ông trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc.

Xét thấy, việc giao con cho ai nuôi dưỡng phải đảm bảo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển của trẻ em trên cơ sở tôn trọng ý kiến nguyện vọng của con chung và phải phù hợp với quy định của pháp luật. Xét thấy cháu Nghi D sinh năm 2014 hiện nay đã hơn 8 tuổi, theo nguyện vọng cháu D muốn được ở với mẹ; cháu Phan Nghi B2 sinh ngày 09/11/2022 hiện nay chưa đủ 36 tháng tuổi. Bản thân nguyên đơn bà K có công việc, có thu nhập ổn định đảm bảo việc nuôi dưỡng con chung. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà K, giao 02 con chung Phan Nghi D, Phan Nghi B2 cho bà K trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi con đủ 18 tuổi.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà Mai Thị Minh K không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[4] Về tài sản chung: bà K, ông H thống nhất xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

[5] Về nợ chung: Bà K, ông H xác định không có nên không xem xét.

[6] Về án phí: Bà Mai Thị Minh K phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  1. Căn cứ:

    Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Các Điều 147, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

    Các Điều 51, 56, 80, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014;

    Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án;

  2. Tuyên xử:

    Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Mai Thị Minh K đối với ông Phan Cảnh H về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.

    1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho bà Mai Thị Minh K được ly hôn với ông Phan Cảnh H.

    2. Về con chung: Giao 02 con chung tên: Phan Nghi D, sinh ngày 21/6/2014 và Phan Nghi B2, sinh ngày 09/11/2022 cho bà Mai Thị Minh K trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc cho đến khi các con đủ 18 tuổi.

      Bên không trực tiếp nuôi con có quyền đi lại, thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền cản trở. Khi cần thiết vì lợi ích con chung, các bên đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

      Về cấp dưỡng nuôi con chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

    3. Về tài sản chung: Bà K, ông H thống nhất xác định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.

    4. Về nợ chung: Bà K, ông H thống nhất xác định không có nợ chung nên không xem xét.

  3. Về án phí:

    Bà Mai Thị Minh K phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại biên lai thu số 0001505 ngày 15/4/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Cẩm Lệ (như vậy bà K đã nộp đủ án phí).

  4. Quyền kháng cáo:

    Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND quận Cẩm Lệ;
  • - Đương sự;
  • - Chi cục THA DS quận Cẩm Lệ;
  • - UBND P. Hải Châu 2, quận Hải Châu
  • (GCNĐKH số 93/2013 ngày 13/9/2013)
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà

Phan Văn Cương

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/HNGĐ-ST ngày 13/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 44/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 13/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án NHGĐ Mai Thị Minh K, Phan Cảnh H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger