|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG TÍN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 44/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 16/12/2024
V/v Tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG TÍN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Duy Trí.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hiếu Luân, ông Lương Văn Hùng.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thanh Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thường Tín.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín, TP Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thuý Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 16/12/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 177/2024/TLST - HNGĐ ngày 02/7/2024 về việc tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2024/QĐXX-ST ngày 29/11/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Thu H, sinh năm 1997; HKTT: Thôn T, xã M, huyện T, thành phố Hà Nội; nơi ở tại: Xóm V, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An. (Có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn là: Luật sư Nguyễn Giáng M - Công ty L1, thuộc Đoàn Luật sư thành phố H, (Có mặt).
Bị đơn: Anh Phạm Duy T, sinh năm 1993; HKTT và trú tại: Thôn T, xã M, huyện T, thành phố Hà Nội. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và tại phiên tòa:
*Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Thu H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Phạm Duy T tự nguyện, có đăng ký kết hôn ngày 18/5/2021, tại UBND xã M, huyện T, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Tôi bán cửa hàng dược, còn anh T là lao động tự do.
Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được hơn một năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính do anh T không chịu khó làm ăn, mải chơi (điện tử) và mâu thuẫn với cả gia đình nội, ngoại hai bên. Chị H và gia đình khuyên nhủ nhiều lần nhưng không được. Trong thời gian chung sống anh T có nhiều lần đánh và đe dọa chị, cuộc sống chung phát sinh nhiều mâu thuẫn căng thẳng. Dẫn đến, tháng 5/2024, chị H bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại xóm V, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An để ở, vợ chồng sống ly thân và chấm dứt mọi quan hệ tình cảm từ thời gian đó đến nay. Từ khi ly thân chị H thỉnh thoảng có liên hệ với anh T qua điện thoại chủ yếu là hỏi thăm con chung, mặc dù rất nhớ con nhưng chị H không thường xuyên gọi điện cho con vì không muốn liên lạc nhiều với anh T, không muốn anh T nghĩ rằng vợ chồng vẫn còn cơ hội quay về đoàn tụ. Nay, chị H nhận thấy cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mâu thuẫn vợ chồng thật sự trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Phạm Thị Tâm A, sinh ngày 27/12/2021. Do cháu Tâm A còn nhỏ, dưới 36 tháng tuổi rất cần sự chăm sóc của người mẹ, chị H đề nghị giao cháu Tâm A cho chị H được trực tiếp nuôi dưỡng. Lý do hiện tại cháu ở với anh T là khi chị H bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại Nghệ An, chị không thể mang con theo do trước đó anh T đã mang con về nhà nội, thời gian đấy bố chồng chị H bị suy thận, phải điều trị tại bệnh viện, chị nghĩ để con về chơi với ông nội cho ông đỡ buồn. Đến tháng 10/2024 chị H ra đón con nhưng gia đình anh T ngăn cản, đe dọa tài xế lái xe sẽ đập xe nếu cố tình chở mẹ con chị H.
Nếu được nuôi con, chị H không đề nghị anh T cấp dưỡng nuôi con. Việc anh T tự nguyện cấp dưỡng như thế nào thì chị H cũng đồng ý. Nếu Tòa án giao cháu Tâm A cho anh T nuôi dưỡng thì chị H tự nguyện cấp dưỡng cho cháu Tâm A số tiền 5.000.000 đồng/01 tháng kể từ khi bản án có hiệu lực cho đến chi cháu Tâm A đủ 18 tuổi.
Hiện nay, chị H đang ở cùng bố mẹ đẻ tại xóm V, xã T, huyện N, tỉnh Nghệ An. Chị H là dược sỹ bán thuốc, thu nhập hàng tháng trung bình là 10 triệu đồng. Chị H làm việc giờ hành chính, giờ làm việc có thể linh hoạt để thuận lợi cho việc chăm sóc con. Hiện tại sức khỏe của mẹ chị H không tốt do bị tai nạn nhưng bố chị H vẫn có thể giúp đỡ chăm nom cháu Tâm A khi chị H bận.
Về tài sản, công sức và công nợ chung của vợ chồng: Không đề nghị Tòa án xem xét giải quyết.
Bố mẹ đẻ của chị H là ông Nguyễn Thành L, bà Nguyễn Thị N đều thể hiện quan điểm đồng ý với yêu cầu ly hôn của chị H và mong muốn Toà án sẽ giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng. Ông, bà sẽ tạo điều kiện về chỗ ở, kinh tế và thời gian chăm sóc để giúp đỡ chị H nuôi dưỡng cháu Phạm Thị Tâm A.
* Bị đơn là anh Phạm Duy T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh T1 xác nhận vợ chồng tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 18/5/2021 tại UBND xã M, huyện T, thành phố Hà Nội. Nghề nghiệp: Hiện tại bán hàng qua mạng.
Quá trình chung sống: Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 7/2022, thì xảy ra mâu thuẫn xuất phát từ việc chăm con nhỏ do chị H nhận chăm con của chị chủ nhà nơi hai vợ chồng thuê trọ và bán hàng mà không quan tâm chăm sóc con của mình. Vợ chồng thường xuyên to tiếng cãi chửi nhau (từ mâu thuẫn vợ chồng dẫn đến mâu thuẫn gia đình) anh T1 có lần bất đồng và to tiếng với bố và anh trai chị H, chị H cũng có mâu thuẫn với gia đình anh. Dẫn đến tháng 5/2024, anh T1 mang con về nhà bố mẹ đẻ tại thôn T, xã M, huyện T, thành phố Hà Nội, còn chị H bỏ về nhà bố mẹ đẻ tại Nghệ An. Vợ chồng sống ly thân từ thời gian đó cho đến nay. Từ khi ly thân anh cũng đưa con về Nghệ An chơi, nói chuyện và mong muốn vợ chồng về đoàn tụ để cùng nuôi dạy con chung nhưng chị H không đồng ý về. Nay chị H có đơn xin ly hôn, nguyện vọng của anh T1 vẫn mong muốn được đoàn tụ và đưa ra giải pháp như anh hiện tại đã có việc làm và thu nhập ổn định, về phía gia đình anh cũng mong muốn vợ chồng về đoàn tụ. Nếu vợ chồng về đoàn tụ gia đình anh tạo điều kiện về nhà, đất để cho vợ chồng ổn định. Trường hợp chị H kiên quyết ly hôn thì anh cũng đồng ý ly hôn chị H.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Phạm Thị Tâm A, sinh ngày 27/12/2021. Anh T1 cho rằng anh là người chăm sóc con từ bé đến nay vì chị H phải đi bán hàng...do vậy chủ yếu anh là người trực tiếp chăm sóc con và con chung ở với anh và gia đình đều được đảm bảo mọi thứ. Trường hợp vợ chồng ly hôn anh T1 đề nghị giao cháu Tâm A cho anh được trực tiếp nuôi dưỡng. Trường hợp Tòa án giao cháu Tâm A cho anh nuôi dưỡng thì anh T1 không đề nghị chị H cấp dưỡng nuôi con. Còn nếu giao cháu Tâm A cho chị H nuôi dưỡng thì anh T1 tự nguyện cấp dưỡng cho cháu Tâm A số tiền 3.000.000 đồng/01 tháng kể từ khi bản án có hiệu lực cho đến chi cháu Tâm A đủ 18 tuổi.
Hiện nay, anh T1 ở cùng bố mẹ tại thôn T, xã M, huyện T, thành phố Hà Nội. Anh T1 làm công việc bán hàng qua mạng, thu nhập trung bình hàng tháng từ 13 đến 18 triệu đồng. Do làm kinh doanh tự do nên anh T1 có thời gian để chăm sóc cháu Tâm A. Bố mẹ anh T1 cũng tạo điều kiện phụ giúp anh T1 việc chăm sóc con.
Về tài sản chung, nhà ở, công nợ chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không tranh chấp và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết.
Mẹ đẻ của anh T1 là bà Chu Thị V đồng ý với ý kiến của anh T1, đồng thời cũng mong muốn Toà án sẽ giao con chung cho anh T1 trực tiếp nuôi dưỡng. Vợ chồng bà V sẽ tạo điều kiện thuận lợi về chỗ ở, kinh tế và thời gian chăm sóc để giúp đỡ anh T1 nuôi dưỡng cháu Phạm Thị Tâm A.
Xác minh tại UBND xã M cho thấy: Chị Nguyễn Thị Thu H và anh Phạm Duy T tự nguyện đăng ký kết hôn ngày 18/5/2021 tại UBND xã M, huyện T, thành phố Hà Nội. Việc chị H, anh T thoả thuận ly hôn chính quyền địa phương không có ý kiến gì. Việc nuôi con và các vấn đề khác liên quan đề nghị Toà án giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại phiên tòa, qua hòa giải chị H và anh T cũng như Luật sư bảo vệ quyền và nghĩa vụ hợp pháp của chị H đều giữ nguyên quan điểm như đã trình bày. Riêng về phần con chung chị H và Anh T1 đều có quan điểm xin được trực tiếp nuôi con và không đề nghị bên kia phải có nghĩa vụ đóng góp cấp dưỡng nuôi con, kể cả tự nguyện. Do các bên đương sự không thống nhất được với nhau về vấn đề người nuôi con, do vậy Tòa án không tiến hành hòa giải được theo luật định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thường Tín tham gia phiên toà trình bày quan điểm:
Về tố tụng: Quá trình tố tụng cũng như tại phiên toà, Thẩm phán, Thư ký được phân công giải quyết vụ án đã thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền; thu thập chứng cứ, chấp hành đúng pháp luật tố tụng; các đương sự như nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo đúng quy định của pháp luật.; Việc gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng thời hạn quy định tại Điều 220 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Trên cơ sở nội dung vụ án và diễn biến tại phiên tòa; Căn cứ theo quy định tại Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015... Đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận đơn xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu H và xử cho chị H được ly hôn anh Phạm Duy T.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Phạm Thị Tâm A, sinh ngày 27/12/2021. Giao con Phạm Thị Tâm A cho chị H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc cho đến khi có quyết định thay đổi khác. Anh T1 có quyền đi lại thăm hỏi, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được ngăn cản.
Về cấp dưỡng nuôi con: Do chị H tại phiên tòa không đề nghị nên cần tạm hoãn nghĩa vụ góp phí tổn nuôi con cho anh T1 theo quy định của pháp luật.
Về tài sản, công sức, các khoản vay và cho vay của vợ chồng: Chị H, anh T1 không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết
Về án phí và quyền kháng cáo: Chị H, anh T1 phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật. Chị H và anh T1 có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra, tranh luận tại phiên toà và quan điểm của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền giải quyết: Xét về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được xác định quan hệ pháp luật giải quyết của vụ án là “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” quy định tại khoản 1 Điều 28 - Bộ luật Tố tụng dân sự, do vậy thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án. Anh Phạm Duy T có nơi cư trú tại thôn T, xã M, huyện T, thành phố Hà Nội. Vì vậy, căn cứ điểm a Khoản 1 Điều 35; điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Thường Tín thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền. Tại phiên tòa các bên đương sự đều có mặt.
[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu H, anh Phạm Duy T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có sự tìm hiểu và cưới có đăng ký kết hôn ngày 18/5/2021 tại UBND xã M, huyện T, thành phố Hà Nội. Đây là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận, hạnh phúc được thời gian ngắn (Hơn 01 năm) thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân chính do tính tình không hợp dẫn đến bất đồng về tính cách, lối sống (từ mâu thuẫn vợ chồng dẫn đến mâu thuẫn cả hai bên gia đình). Việc mâu thuẫn của vợ chồng diễn ra trong thời gian dài, hai bên gia đình đều biết nhưng không thể hóa giải để tìm được tiếng nói chung. Theo chị H do vợ chồng không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị đề nghị Tòa giải quyết cho chị được ly hôn anh T theo quy định của pháp luật. Về phía anh T đều thừa nhận quá trình chung sống vợ chồng cũng có những mâu thuẫn (mâu thuẫn vợ chồng và mâu thuẫn gia đình hai bên), anh cho rằng anh cũng có một phần lỗi và có đưa ra một số giải pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được chị H chấp nhận. Qua xác minh tại địa phương và quan điểm của đại diện hai bên gia đình. Hội đồng xét xử xét thấy, mâu thuẫn giữa chị H và anh T thật sự trầm trọng, thời gian sống ly thân đã lâu, vợ chồng không còn khả năng đoàn tụ, đời sống chung không thể kéo dài, các giải pháp của bị đơn đưa ra không được nguyên đơn chấp nhận, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình cần chấp nhận đơn xin ly hôn của chị H và cần xử cho chị H được ly hôn anh T là phù hợp với quy định của pháp luật.
[3] Về con chung: Chị H và anh T có 01 con chung là cháu Phạm Thị Tâm A, sinh ngày 27/12/2021 (Hiện con chung đang ở với anh T). Ly hôn, chị H, anh T đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu Tâm A; về vấn đề góp phí tổn nuôi con chung trong quá trình thu thập tài liệu chứng cứ và hòa giải thì không đặt ra để giải quyết mà do sự tự nguyện của mỗi bên (các bên cũng đều có quan điểm tự nguyện góp phí tổn nuôi con nếu không được nuôi con). Tại phiên tòa, sau khi hòa giải không thành thì các bên đều mong muốn được nuôi con, không yêu cầu bên kia góp phí tổn nuôi con và đều đưa ra các điều kiện để chứng minh đủ khả năng nuôi dạy con chung của mình. Hội đồng xét xử xét thấy, về điều kiện kinh tế để nuôi dưỡng cháu Tâm A của chị H và anh T là ngang nhau, hai bên đều đảm bảo điều kiện về chỗ ăn, ở, nuôi dưỡng con chung và thời gian chăm sóc con. Tuy nhiên, do cháu Tâm A còn nhỏ dưới 36 tháng tuổi, hơn nữa cháu Tâm A là con gái, cần sự quan tâm, chăm sóc của người mẹ không chỉ ở giai đoạn trước mắt mà cả về lâu dài, nên cần giao cháu Tâm A cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về việc cấp dưỡng nuôi con: Do chị H tại phiên tòa không đề nghị nên cần tạm hoãn nghĩa vụ góp phí tổn nuôi con cho anh T theo quy định của pháp luật.
[4] Về tài sản, công sức, các khoản vay và cho vay của vợ chồng: Chị H, anh T không yêu cầu nên không đặt ra để giải quyết. Dành quyền khởi kiện cho các bên đương sự ở một vụ án khác nếu có yêu cầu theo quy định của pháp luật.
[5] Về án phí: chị Nguyễn Thị Thu H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Chị H và anh T có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 51; Điều 56, Điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2015; Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Nguyễn Thị Thu H đối với anh Phạm Duy T;
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Thu H được ly hôn anh Phạm Duy T.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Phạm Thị Tâm A, sinh ngày 27/12/2021. Giao con Phạm Thị Tâm A cho chị H được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung cho đến khi con chung trưởng thành (đủ 18 tuổi) hoặc cho đến khi có quyết định thay đổi khác. Anh T1 có quyền đi lại thăm hỏi, chăm sóc và giáo dục con chung không ai được ngăn cản.
- Về cấp dưỡng nuôi con: Tạm hoãn nghĩa vụ góp phí tổn nuôi con cho anh T1 cho đến khi có yêu cầu hoặc cho đến khi có quyết định thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
- Về tài sản, công sức, các khoản vay và cho vay của vợ chồng: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Thu H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm. Được đối trừ 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số: 0016317 ngày 02/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thường Tín.
- Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Thu H, anh Phạm Duy T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Duy Trí |
Bản án số 44/2024/HNGĐ - ST ngày 16/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 44/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Thu H ly hôn anh Phạm Duy T
