|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN TỈNH THANH HÓA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 44/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 04/11/2024
V/v: “Ly hôn, TC nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN –TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Phong
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1 - Ông Hoàng Thi
- 2 - Ông Phạm Văn Hay
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hồng Nhung - Thư ký tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sầm Sơn tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Anh Quang – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 11 năm 2024, Tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án HNGĐ thụ lý số: 78/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”.
Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2024/QĐXX-ST ngày 18 tháng 10 năm 2024, giữa:
- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Trang – Sinh năm 1988
- Bị đơn: Anh Vũ Đình Nguyên – Sinh năm 1983
Địa chỉ: TDP Công Vinh, phường Quảng Cư, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên tòa vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. (Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 14/10/2024, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 11/10/2024)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 6 năm 2024 cũng như qua khai báo, nguyên đơn chị Trần Thị Trang, trình bày: Chị và anh Nguyên kết hôn với nhau vào năm 2013 là do tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Quảng Cư, thành phố Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm, tính cách không hợp nhau, không có tiếng nói chung nên thường xuyên cãi vã, anh Nguyên không chăm lo cho cuộc sống gia đình, không quan tâm vợ con, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2018 cho đến nay, không còn quan tâm nhau nữa, tình cảm không còn, hôn nhân không có hạnh phúc, nên chị đề nghị giải quyết cho chị được ly hôn anh Nguyên.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Vũ Đình Tuấn Kiệt, sinh ngày 14/01/2014, ly hôn chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được nuôi cháu Kiệt, không yêu cầu anh Nguyên cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản, công nợ: Chị không yêu cầu giải quyết.
Ngày 24/6/2024, chị Trang có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải.
Bị đơn anh Vũ Đình Nguyên trình bày tại bản tự khai ngày 18/7/2024. Anh và chị Trang kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân phường Quảng Cư, thành phố Sầm Sơn vào năm 2013. Quá trình chung sống vợ chồng vui vẻ hạnh phúc đên năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính cách không hợp nhau, không có tiếng nói chung, quan điểm không hợp nhau dẫn đến hay cãi vã và đã sống ly thân nhau từ năm 2018 cho đến nay, không ai quan tâm đến ai nữa, tình cảm vợ chồng không còn, nay chị Trang làm đơn xin ly hôn anh cũng đồng ý, đề nghị tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có một con chung là cháu Vũ Đình Tuấn Kiệt, sinh ngày 14/01/2014, ly hôn anh đông ý giao cháu Kiệt cho chị Trang được nuôi dưỡng, anh không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung, anh đề nghị chị Trang không được cản trở anh trong việc thăm nom, chăm sóc con chung.
Về tài sản, công nợ: Anh cũng không yêu cầu giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về tố tụng:
Chị Trần Thị Trang khởi kiện anh Vũ Đình Nguyên là loại án: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. Anh Nguyên có hộ khẩu thường trú tại phường Quảng Cư, thành phố Sầm Sơn, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Sầm Sơn, được tòa án thụ lý theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 điều 35 Bộ luật tố tụng Dân sự. Chị Trang có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Cả chị Trang và anh Nguyên đều có đơn xin xét xử vắng mặt, vì vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt chị Trang và anh Nguyên theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự.
[2]. Về tình trạng hôn nhân và yêu cầu xin ly hôn:
Chị Trần Thị Trang và anh Vũ Đình Nguyên kết hôn với nhau là do hai bên tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND phường Quảng Cư, TP Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa, vào năm 2013. Tại thời điểm đăng ký kết hôn, cả hai bên anh chị đều đủ tuổi kết hôn, không vi phạm điều 8 luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, như vậy hôn nhân giữa anh, chị được công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi cưới vợ chồng chung sống vui vẻ hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, thường xuyên bất đồng quan điểm, cãi vã. Đã ly thân và không còn quan tâm đến nhau nữa. Cả anh và chị đều xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích của hôn nhân không đạt được, vì vậy đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn.
Ngày 06/9/2024, Tòa án đã tiến hành xác minh nguyên nhân phát sinh tranh chấp của anh chị, cán bộ thôn và chính quyền địa phương cho biết: Quá trình chung sống, chị Trang và anh Nguyên có mâu thuẫn, nhưng cụ thể nguyên nhân như thế nào thì địa phương không nắm được, chỉ biết hiện nay chị Trang không ở cùng nhà với anh Nguyên tại KP Công Vinh nữa. Quan điểm của địa phương là đề nghị Tòa án tiến hành hòa giải để anh chị có cơ hội đoàn tụ, cùng nhau nuôi dậy con cái, nếu không được thì đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.
Xét thấy tình cảm vợ chồng của anh, chị không đáp ứng được với quy định tại khoản 3 Điều 2 về nguyên tắc cơ bản của chế độ hôn nhân gia đình và Điều 19 về tình nghĩa vợ chồng của Luật Hôn nhân và gia đình 2014. Tình cảm giữa hai anh chị thực sự không còn, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng dẫn tới ly thân và không còn quan tâm đến nhau nữa, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; Quá trình giải quyết vụ án, chị Trang có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải, cả anh và chị đều thừa nhận có mâu thuẫn và không thể chung sống hạnh phúc được nữa và đề nghị tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn, nghĩ nên chấp nhận sự thỏa thuận của anh chị theo quy định tại Điều 55 luật HNGĐ là phù hợp.
[3]. Về con chung:
Anh Nguyên và chị Trang có một con chung, tên cháu là Vũ Đình Tuấn Kiệt, sinh ngày 04/01/2014, hiện nay cháu đang ở với chị Trang. Ly hôn, anh chị thống nhất giao cháu cho chị Trang trực tiếp nuôi dưỡng, anh Nguyên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung. Xét thấy đề nghị của anh chị là phù hợp, hiện tại chị đang có công việc làm và thu nhập, có đạo đức và đủ sức khỏe để nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con; Cháu Kiệt có đơn nguyện vọng xin được ở với mẹ, vì vậy chấp nhận sự tự nguyện này; Anh Nguyên được quyền qua lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản.
Về tài sản, công nợ: Anh chị không yêu cầu tòa án giải quyết nên, miễn xét.
[4]. Về án phí:
Chị Trang thuộc trường hợp phải chịu án phí sơ thẩm ly hôn, theo qui định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a, khoản 5, Điểm Điều 27 nghị quyết số 326 về án phí lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào Điều 55, Điều 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 điều 35; Khoản 1 Điều 228; Điều 238; Khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273 BLTTDS.
- - Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí lệ phí toà án.
- - Về hôn nhân. Chấp nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị Trang và anh Vũ Đình Nguyên.
- - Về con chung: Cháu Vũ Đình Tuấn Kiệt, sinh ngày 04/01/2014 là con chung của anh Vũ Đình Nguyên và chị Trần Thị Trang. Chấp nhận sự tự nguyện, giao cháu Kiệt cho chị Trang trực tiếp nuôi dưỡng; Anh Nguyên không phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung; Anh Nguyên được quyền qua lại thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được ngăn cản.
- Về án phí: Chị Trần Thị Trang phải nộp 300 000 đồng, tiền án phí sơ thẩm ly hôn, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị Trang đã nộp theo biên lai kí hiệu: BLTU/23 số 0004910, ngày 20/6/2024 của Chi cục Thi hành án DS thành phố Sầm Sơn (chị Trang đã nộp đủ tiền án phí).
- Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
- Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Phong |
Bản án số 44/2024/HNGĐ-ST ngày 04/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 44/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/11/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SẦM SƠN, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con
