|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM TỈNH NINH THUẬN Bản án số: 44/2024/HNGĐ-ST Ngày: 02-7-2024 V/v "Ly hôn” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,
TỈNH NINH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Huỳnh Sinh và bà Nguyễn Thị Minh Trâm.
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Ánh – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Y - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 752/2023/TLVA-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2023 về việc “Ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 27/2024/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Lê Thanh B, sinh năm 1977 (có mặt).
Nơi cư trú: Khu phố G, phường K, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận
Bị đơn: Bà Huỳnh Thị T, sinh năm 1980 (vắng mặt).
Nơi cư trú: Khu phố E, phường Đ, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/11/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Lê Thanh B trình bày:
Ông Lê Thanh B và bà Huỳnh Thị T chung sống với nhau vào năm 2004, có tổ chức lễ cưới hỏi và đăng ký kết hôn ngày 15/9/2004 tại Ủy ban nhân dân phường K, TP . - T. Sau khi kết hôn vợ chồng xây nhà sống chung với nhau trên đất cha, mẹ bên chồng cho. Trong quá trình chung sống hôn nhân của vợ chồng không hạnh phúc. Từ năm 2018 đến nay xảy ra nhiều mâu thuẫn, không thể hàn gắn nên bà T đã chuyển về nhà cha mẹ ruột tại F Y, phường Đ, TP . - T để ở. Trong thời gian ly thân vợ chồng ông không gặp nhau, không ai đặt vấn đề quay lại sống chung.
2
Nay, ông không còn tình cảm với bà T nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà T.
Ông và bà T có 01 người con chung: Lê Huỳnh Phước N, sinh ngày 28/01/2006. Cháu N đã trưởng thành, lao động tự túc được nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: Chưa yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại Bản tự khai ngày 13/3/2023 bà Huỳnh Thị T trình bày: Bà T và ông B tự nguyện tìm hiểu rồi tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường K, thành phố P - T theo Giấy chứng nhận kết hôn số 87, ngày 15/9/2004. Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, nhưng khoảng vài năm trở lại đây phát sinh mâu thuẫn không còn hạnh phúc, nguyên nhân là do không hợp nhau.
Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Lê Huỳnh Phước N, sinh ngày 28/01/2006. Bà yêu cầu ông Lê Thanh B phải có trách nhiệm với con.
Về tài sản chung, nợ chung: Hiện tại đang có ngôi nhà nên bà có nguyện vọng Bảo giữ lại ngôi nhà đó và hoàn lại tiền cho bà để bà nuôi con đi học.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự giải quyết vắng mặt bị đơn.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, phù hợp pháp luật nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày của đương sự và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Xác định quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn ông Lê Thanh B khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với bị đơn bà Huỳnh Thị T. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Ly hôn” theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn cư trú ở phường Đ, TP . - T nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân TP. Phan Rang - T theo khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Đối với việc vắng mặt của bị đơn: Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, cùng với tài liệu, chứng cứ đã được thu thập trong hồ
3
sơ vụ án để làm cơ sở giải quyết và xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định của pháp luật.
[2] Về nội dung tranh chấp:
[2.1] Ông Lê Thanh B và bà Huỳnh Thị T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi và có đăng ký kết hôn, được Ủy ban nhân dân phường K, TP . - T, tỉnh Ninh Thuận cấp Giấy chứng nhận kết hôn số số 87, ngày 15/9/2004, đây là hôn nhân hợp pháp. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
[2.2] Về quan hệ hôn nhân, xét thấy: Theo quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và Gia đình “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống hôn nhân của vợ chồng không hạnh phúc. Từ năm 2018 đến nay xảy ra nhiều mâu thuẫn, không thể hàn gắn nên bà T đã dọn về nhà cha mẹ ruột tại F Y, phường Đ, TP . - T để ở. Trong thời gian ly thân vợ chồng ông không gặp nhau, không ai đặt vấn đề quay lại sống chung. Tình trạng mâu thuẫn giữa ông B và bà T được Ủy ban nhân dân phường Đ xác nhận ngày 19/02/2024. Vì vậy, căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình xét thấy hôn nhân giữa ông B và bà T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.
[2.3] Về con chung: Ông B và bà T có 01 con chung tên Lê Huỳnh Phước N, sinh ngày 28/01/2006. Cháu N đã trưởng thành, lao động tự túc được nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
[2.4] Tài sản chung và nợ chung: Nguyên đơn chưa yêu cầu Toà án giải quyết phân chia tài sản chung. Tại Bản tự khai ngày 13/3/2023 bà Huỳnh Thị T trình bày “Hiện tại đang có ngôi nhà nên bà có nguyện vọng Bảo giữ lại ngôi nhà đó và thối lại tiền cho bà để bà nuôi con đi học”. Nội dung trình bày về vấn đề tài sản của bà T chưa rõ, bà T không cung cấp tài liệu, chứng cứ về tài sản chung. Toà án đã 02 lần triệu tập bà T lên Toà án để làm rõ nội dung trình bày của bà T về vấn đề tài sản nhưng bà T không lên Toà án làm việc, tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ; phiên hoà giải bà T cũng vắng mặt nên Hội đồng xét xử không có căn cứ để giải quyết vấn đề tài sản. Trường hợp bà T có nguyện vọng chia sản chung của vợ chồng sau ly hôn thì có quyền yêu cầu Toà án giải quyết bằng một vụ án khác.
[3] Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát thành phố P - T tại phiên tòa hôm nay là có căn cứ và đúng pháp luật, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[4] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
4
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình;
Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông Lê Thanh B được ly hôn với bà Huỳnh Thị T.
- Về con chung: Lê Huỳnh Phước N, sinh ngày 28/01/2006. Cháu N đã trưởng thành, lao động tự túc được nên không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Về án phí: Ông Lê Thanh B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) ông B đã nộp theo biên lai thu tiền số 0000573 ngày 10 tháng 11 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang - T, tỉnh Ninh Thuận. Ông Lê Thanh B đã nộp đủ án phí ly hôn sơ thẩm.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Hùng |
Bản án số 44/2024/HNGĐ-ST ngày 02/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn
- Số bản án: 44/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Lê Thanh B yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với bà Huỳnh Thị Th
