|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 44/2024/HNGĐ-PT Ngày: 12 - 12 - 2024 V/v ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thúy Hằng.
Các Thẩm phán: Ông Phạm Minh Tùng.
Ông Lê Khắc Thịnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Tấn Hào - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp: Bà Nguyễn Thị Được- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 36/2024/TLPT-HNGĐ ngày 31 tháng 10 năm 2024 về “Ly hôn”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 61/2024/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 28/2024/QĐ-PT ngày 29 tháng 11 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Phạm Ngọc T, sinh năm 1971; địa chỉ: Số F, khóm B, Phường C, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; có mặt.
- Bị đơn: Chị Lê Thị T1, sinh năm 1966; địa chỉ: Số F, khóm B, Phường C, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp; có mặt.
- Người kháng cáo: Chị Lê Thị T1, là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn Phạm Ngọc T trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Sau thời gian tìm hiểu khoảng nữa năm, anh T và chị T1 tiến đến hôn nhân, tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn vào ngày 09/11/2010 tại Ủy ban nhân dân Phường C, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp. Sau kết hôn, vợ chồng sống chung hạnh phúc được 02 năm thì phát sinh mâu thuẫn về tiền bạc nên thường xuyên cự cãi và cũng từ đó vợ chồng thỏa thuận chị T1 lo cơm nước hàng ngày, anh T lo các chi phí khác, tiền của ai thì người đó quản lý. Ngoài ra, chị T1 còn can thiệp vào công việc làm ăn của anh T, nói xấu anh T với bạn bè làm ảnh hưởng đến uy tín làm ăn của anh T. Từ năm 2022 đến nay thì vợ chồng sống ly thân, anh T đã ra ngoài sống riêng. Việc chị T1 cho rằng anh T có quan hệ tình cảm với người khác nên yêu cầu ly hôn, anh T thừa nhận hiện đang sống chung nhà với một người phụ nữ nhưng chỉ là mối quan hệ bạn bè, làm ăn chung. Năm 2023, anh T có nộp đơn yêu cầu ly hôn, Tòa án hòa giải nên rút đơn nhưng sau đó anh T cũng không về nhà sống chung với chị T1. Nay anh T nhận thấy tình cảm không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn, anh T yêu cầu ly hôn chị T1.
Về con chung, tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Có nợ Ngân hàng C1 - Phòng giao dịch thành phố S số tiền 30.000.000 đồng. Khi ly hôn, anh T tự chịu trách nhiệm trả, không yêu cầu chị T1 liên đới.
Bị đơn Lê Thị T1 trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị T1 thống nhất theo lời trình bày của anh T về thời gian sống chung cũng như kết hôn. Sau kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng hai năm thì phát sinh mâu thuẫn về tiền bạc nên vợ chồng thường cự cãi, gây gỗ. Ngoài ra, mỗi lần anh thông nhậu say thường nói này nói kia, không cho chị T1 nghỉ ngơi, có khi ngồi kiếm chuyện nói, chửi tới 1-2 giờ sáng. Mâu thuẫn trầm trọng là khoảng năm 2022, anh T có quan hệ tình cảm với người khác, dọn ra ngoài sống chung như vợ chồng, không còn quan tâm gì đến chị T1. Năm 2023, anh T nộp đơn ly hôn, Tòa hòa giải, anh T rút đơn nhưng sau đó vợ chồng cũng không đoàn tụ, sống chung. Về tình cảm chị T1 xác định còn thương anh T, chị T1 không đồng ý ly hôn, Chị T1 hy vọng một ngày anh T suy nghĩ kỹ và trở về với chị T1.
Về con chung, tài sản chung: Không có.
Về nợ chung: Có nợ Ngân hàng C1 - Phòng giao dịch thành phố S số tiền 30.000.000 đồng. Trường hợp ly hôn, anh T tự chịu trách nhiệm trả, chị T1 không liên đới.
Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 61/2024/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp đã quyết định:
Căn cứ vào các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Phạm Ngọc T về việc xin ly hôn. Anh Phạm Ngọc T và chị Lê Thị The ly H.
- Về nuôi con chung: Không có nên không xem xét.
- Về tài sản chung: Không có nên không xem xét.
- Về nợ chung: Các bên không tranh chấp, yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Anh Phạm Ngọc T phải chịu toàn bộ án phí (về ly hôn) là 300.000 đồng. Số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng anh T đã nộp ngày 29/7/2024 theo biên lai thu số 0007785 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc được khấu trừ vào án phí phải nộp.
Ngoài ra bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí dân sự sơ thẩm, quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ của người được thi hành án, người phải thi hành án, thời hiệu thi hành án theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 30/8/2024 bị đơn Lê Thị T1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm. Chị T1 yêu cầu không chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Phạm Ngọc T. Trường hợp chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh T, chị T1 yêu cầu xem xét buộc anh T phải có nghĩa vụ trả cho chị T1 một khoản tiền về công sức lao động, đóng góp của chị T1 như chăm sóc cha chồng lúc tuổi già, trông coi, giữ gìn nhà ở, quản lý và sửa chữa căn nhà khi chị T1 về làm vợ, làm dâu gia đình anh T. Chị T1 yêu cầu được sống lưu cư thời gian 06 tháng sau khi ly hôn để chị T1 có thời gian tìm kiếm nơi ở khác.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Anh Phạm Ngọc T không rút đơn khởi kiện, không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của chị Lê Thị The .
Chị Lê Thị T1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát:
Về tố tụng:
Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký, đương sự đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình thụ lý phúc thẩm và xét xử.
Về nội dung:
Xét thấy mâu thuẫn giữa vợ chồng anh Phạm Ngọc T và chị Lê Thị T1 đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh T, cho ly hôn giữa anh T và chị T1 là có căn cứ nên kháng cáo không đồng ý ly hôn của chị T1 không có cơ sở để chấp nhận. Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của chị Lê Thị T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Đối với yêu cầu kháng cáo của chị T1 về công sức đóng góp, về thời gian lưu cư đề nghị không xem xét do chưa được Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Đơn kháng cáo của chị Lê Thị T1 nộp trong thời hạn và đúng thủ tục theo quy định của pháp luật nên hợp lệ.
[2] Xét kháng cáo của chị Lê Thị T1 yêu cầu không chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Phạm Ngọc T, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
[2.1] Việc kết hôn giữa anh Phạm Ngọc T và chị Lê Thị T1 đã được đăng ký ngày 09/11/2010 và do Ủy ban nhân dân Phường C, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp thực hiện theo quy định pháp luật nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.
[2.2] Sau khi kết hôn, vợ chồng anh T và chị T1 chung sống hạnh phúc được 02 năm, sau đó giữa vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn về kinh tế nhưng vẫn sống chung với nhau. Đến năm 2022, từ mâu thuẫn về kinh tế dẫn đến mâu thuẫn giữa vợ chồng, chị T1 nghi ngờ anh T không chung thủy, vợ chồng thiếu tôn trọng lẫn nhau, không còn quan tâm nhau và ly thân từ năm 2022. Năm 2023, anh T nộp đơn khởi kiện xin ly hôn chị T1, sau đó đã rút đơn khởi kiện để vợ chồng đoàn tụ nhưng vợ chồng không đoàn tụ gia đình. Mặt khác, từ ngày vợ chồng ly thân đến nay, chị T1 không liên lạc với anh T để gắn kết tình cảm vợ chồng, do đó việc chị T1 trình bày vẫn còn thương anh T là chưa phù hợp. Từ những căn cứ trên, xét thấy mối quan hệ hôn nhân giữa anh T và chị The L vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên việc Tòa án cấp sơ thẩm cho ly hôn giữa anh T và chị T1 là có cơ sở, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình. Do đó kháng cáo của chị Lê Thị T1 yêu cầu không chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của anh Phạm Ngọc T không được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[3] Đối với kháng cáo của chị Lê Thị T1 yêu cầu xem xét buộc anh T phải có nghĩa vụ trả cho chị T1 một khoản tiền về công sức lao động, đóng góp của chị T1 như chăm sóc cha chồng lúc tuổi già, trông coi, giữ gìn nhà ở, quản lý và sửa chữa căn nhà khi chị T1 về làm vợ, làm dâu gia đình anh T và yêu cầu được sống lưu cư thời gian 06 tháng sau khi ly hôn để chị T1 có thời gian tìm kiếm nơi ở khác. Tại phiên tòa phúc thẩm, chị T1 yêu cầu anh T trả công sức đóng góp số tiền 150.000.000 đồng, anh T không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của chị T1. Do yêu cầu kháng cáo của chị T1 chưa được Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét.
[4] Những ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa đề nghị không chấp nhận kháng cáo của chị Lê Thị T1, giữ nguyên bản án sơ thẩm, không xem xét yêu cầu kháng cáo của chị T1 về công sức đóng góp, về thời gian lưu cư do phù hợp như đã nhận định trên nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.
[5] Về án phí phúc thẩm: Chị Lê Thị T1 phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, Điều 148 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của chị Lê Thị The .
Không xem xét yêu cầu kháng cáo của chị Lê Thị T1 về việc yêu cầu anh Phạm Ngọc T trả công sức đóng góp, về thời gian lưu cư tại nhà ở của anh T.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm số: 61/2024/HNGĐ-ST ngày 23 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Phạm Ngọc T và chị Lê Thị The .
- Về án phí phúc thẩm: Chị Lê Thị T1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm; nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0007813 ngày 05/9/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo kháng nghị theo quy định của pháp luật.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Hằng |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Lê Khắc Thịnh - Phạm Minh Tùng |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thúy Hằng |
Bản án số 44/2024/HNGĐ-PT ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP về ly hôn
- Số bản án: 44/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn
