Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 44/2024/HC-ST

Ngày: 05/8/2024

Về việc “Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Thơ Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hồng Thái và ông Nguyễn Ngọc Uyên.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Lê Vân – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Ninh Thị Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 80/2023/TLST-HC ngày 28 tháng 11 năm 2023 về việc “Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2024/QĐXXST-HC ngày 12 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Người khởi kiện: Ông Phạm R, sinh năm 1941 và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1944; địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

Bà Nguyễn Thị Đ chết ngày 24/6/2024, người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng gồm:

  1. Ông Phạm R, sinh năm: 1941; địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.
  2. Ông Phạm Thế V, sinh năm: 1967; địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.
  3. Ông Phạm Chí H, sinh năm: 1972; địa chỉ: Khu phố N, phường I, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
  4. Bà Phạm Thị Nhã T, sinh năm: 1974; địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.
  5. Ông Phạm Hoài V1, sinh năm: 1978; địa chỉ: Khu phố D, phường P, thành phố T, tỉnh Phú Yên.
  6. Bà Phạm Thị Huyền T1, sinh năm: 1979; địa chỉ: Thôn Đ, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.
  7. Ông Phạm Hoài Đ1, sinh năm: 1986; địa chỉ: C, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.

Tất cả đều ủy quyền cho ông Phạm R tham gia tố tụng. Ông R có mặt.

- Người bị kiện:

+ UBND huyện P. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Bá K – chức vụ: Chủ tịch. Người đại diện theo văn bản ủy quyền số 1324/UBND ngày 24/6/2024 có: Ông Nguyễn Ngọc T2, chức vụ: Phó Chủ tịch. Vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp UBND huyện P: Ông Nguyễn Đình N – Phó trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện P. Vắng mặt.

+ UBND xã H, huyện P. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trương Đức P, chức vụ: Chủ tịch. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phan Thanh Đ2, chức vụ: Phó Chủ tịch. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

+ Ông Bùi Ngọc H1, sinh năm 1957; địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Bùi Ngọc H1 có: Ông Nguyễn Thanh M là luật sư ký hợp đồng và ông Võ Hoàng K1 là trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P. Có mặt.

+ Ông Bùi Ngọc T3; địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

+ Ông Bùi Ngọc T4; địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Có mặt.

+ Ông Bùi Ngọc H2; địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

+ Ông Bùi Ngọc D; địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

+ Bà Bùi Thị Mỹ D1; địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

+ Ông Bùi Ngọc Minh V2; địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

+ Bà Bùi Thị T5; địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

+ Ông Bùi Ngọc T6; địa chỉ: Thôn C, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Trong đơn khởi kiện nộp cho Tòa án ngày 07/9/2023 và các lời trình bày có tại hồ sơ vụ án, người khởi kiện là ông Phạm R, bà Nguyễn Thị Đ trình bày được tóm tắt như sau:

Nguyên vợ chồng ông Phạm R và bà Nguyễn Thị Đ có thửa đất số 621, tờ bản đồ số 32, địa chỉ tại thôn C, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên, diện tích 221,9m², được sử dụng làm đất ở từ trước năm 1993. Thửa đất nêu trên nay có đông tây tứ cận như sau:

  • - Phía Đông: Giáp nhà Mai Thành N1;
  • - Phía Tây: Giáp nhà Lê Thị Y;
  • - Phía Nam: Giáp đường lộ;
  • - Phía Bắc: Giáp nhà Mai Văn B.

Về nguồn gốc và quá trình sử dụng: Năm 1982, tại thửa đất số 621, tờ bản đồ số 32, địa chỉ tại thôn C, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên, diện tích 221,9m² là đất trống nên xin UBND xã H cho phép xây dựng nhà ở (việc này thực hiện bằng miệng, và khi xây dựng nhà ở thì cũng không có cơ quan nào nhắc nhở hay xử phạt, cũng không có bất kỳ ai tranh chấp hay ngăn cản) nên vợ chồng ông R, bà Đ (không có sự tham gia của các con, vì thời điểm này các con còn nhỏ đi học, chưa phụ giúp cho gia đình) có xây dựng nhà cấp 4 diện tích 50m² (loại nhà gạch, mái ngói, tường gạch, nền xi măng) và sử dụng cho tới nay.

Về việc tu sửa, cải tạo đối với căn nhà cấp 4 nêu trên, ông R trình bày: Không nhớ rõ thời gian nào, đường lộ làm cao so với nền nhà, trời mưa nước chảy vào nhà nên vợ chồng ông R, bà Đ có xây nâng nền nhà ngang với mặt đường để đảm bảo điều kiện sống. Sau đó (ông R không nhớ rõ thời điểm nào) có đơn xin đặt máy xay xác gạo, có xác nhận UBND xã H. Sau đó, UBND xã H không cho thực hiện hoạt động xay xác gạo nữa nên ông R nghỉ và tiếp tục ở trên ngôi nhà cấp 4 đã được UBND xã H cho phép xây dựng trước đó.

Năm 1984, ông Phạm R có làm đơn xin đăng ký quyền sử dụng ruộng đất đối với diện tích đất 350m² tại thôn Đ, xã H (nay là thôn C, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên, là thửa đất hiện ông Phạm R và bà Đ đang khởi kiện), có xác nhận của Hội đồng đăng ký ruộng đất xã H ngày 02/8/1984, với nội dung: “ Hội đồng đăng ký ruộng đất sẽ xem xét và đề nghị UBND tỉnh cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng ruộng đất sau khi làm đầy đủ thủ tục và hợp pháp”. Tuy nhiên, từ đó đến nay, không có cơ quan nào thực hiện bất kỳ thủ tục nào để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông R, bà Đ.

Năm 1988, ông Bùi Ngọc H1 (con của ông Bùi G) khởi kiện đến Toà án nhân dân tỉnh Phú Khánh với yêu cầu khởi kiện: “Nguồn gốc đất nhà ông Phạm R sử dụng là của ông nội ông H1 (trích lục của chế độ cũ) và buộc ông Phạm R tháo dỡ công trình nhà ở, trả lại đất cho gia đình ông Bùi Ngọc H1”. Toà án nhân dân tỉnh Phú Khánh đã có bản án giải quyết với yêu cầu khởi kiện của ông H1 với nội dung “Yêu cầu khởi kiện của ông Bùi Ngọc H1 không thuộc quyền giải quyết của Toà án, việc giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất là do cơ quan hành chính nhà nước thực hiện”. Dựa trên kết quả giải quyết của TAND tỉnh Phú Khánh, đến năm 1993, ông Phạm R và bà Nguyễn Thị Đ làm Giấy cam đoan và xin xác nhận về quyền sở hữa nhà ở đối với nhà ở có diện tích 50m² (dài 10m, rộng 5m), có xác nhận của UBND xã H ngày 06/7/1993.

Sau đó, ông Bùi G khởi kiện vụ án dân sự “Tranh chấp quyền sử dụng đất” tại TAND huyện Phú Hoà. Trong buổi hoà giải ngày 28/5/2020 tại TAND huyện Phú Hoà, nguyên đơn ông Bùi G trình bày: “Diện tích đất tôi đang tranh chấp với ông Phạm R tại thôn C, xã H về việc yêu cầu đòi lại đất nguyên trước đây là đất của cha tôi Bùi T7 để lại cho tôi diện tích 370m². Đến năm 1982, ông R đến mượn làm máy xay xác gạo, sau đó gia đình tôi đòi lại đất nhưng ông R không chịu dời đi, nay tôi yêu cầu ông R phải trả lại đất cho tôi. Nhưng nay gia đình tôi thống nhất thỏa thuận với ông Phạm R như sau: Ông R có nghĩa vụ giao cho gia đình tôi 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng) thì gia đình tôi không tranh chấp đất với ông R nữa đồng thời sẽ rút đơn khởi kiện vụ án này”.

Bị đơn ông Phạm R trình bày: “Năm 1982, tôi ra xã xin xây nhà ở trên đám đất hiện nay đang tranh chấp, sau đó tôi làm đơn xin đặt máy gạo được xã đồng ý. Năm 1985, tôi xin xã chuyển qua ở cố định trên nhà máy X xác. Năm 1984, theo nghị định 64/cp, tôi đứng kê khai trên diện tích đất này 272m² đất ở trong sổ mục kê tại xã. Đến năm 1988, ông Bùi Ngọc H1 con của ông G tranh chấp đất với tôi. Năm 1993, tôi xin giấy xác nhận quyền sở hữu nhà ở được xã chấp thuận và tôi ở trên đất đó Năm 2014, tôi làm thủ tục cấp sổ đỏ nhưng do có tranh chấp nên không được cấp sổ đỏ. Nay ông G yêu cầu đòi lại đất của tôi là không có căn cứ. Nếu ông G yêu cầu tôi đưa số tiền 50.000.000đ thì tôi chỉ đồng ý đưa số tiền trên nếu tôi đủ điều kiện để làm sổ đỏ trên đất này”. Sau đó, ông G tự nguyện rút đơn nên ngày 29/5/2023, TAND huyện Phú Hoà có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.

Ngày 24/7/2023, vợ chồng ông Phạm R và bà Nguyễn Thị Đ nộp đơn đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất. UBND xã H tiếp nhận hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng ông R, bà Đ và hẹn trả kết quả sau 47 ngày, nhưng ông Bùi G có đơn khiếu nại đến UBND xã H. Đến ngày 01/8/2023, UBND xã H có công văn số 66/UBND trả lời đất có tranh chấp (trong lúc UBND xã không nêu ra được các giấy tờ pháp lý chứng minh đất của vợ chồng ông R, bà Đ ở là đất tranh chấp) không ký xác nhận và không lập thủ tục hồ sơ đề nghị UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hai vợ chồng ông R, bà Đ.

Ông Phạm R cho rằng việc UBND xã H không ký xác nhận và không lập thủ tục hồ sơ đề nghị UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hai vợ chồng ông R, bà Đ là không đúng quy định. Ông Phạm R cho rằng: Hiện nay vợ chồng ông R và bà Đ có đủ cơ sở và điều kiện pháp lý giấy tờ liên quan để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất nói trên theo Điều 100 Luật Đất đai 2013. Quá trình sử dụng đất, ông R có đi kê khai UBND xã H và đóng thuế sử dụng đất hằng năm.

Ông Phạm R khởi kiện yêu cầu Toà án xem xét giải quyết như sau:

  • - Khởi kiện UBND xã H và UBND huyện P về hành vi hành chính không xác nhận hồ sơ và không làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng ông Phạm R và bà Nguyễn Thị Đ theo quy định của pháp luật.
  • - Yêu cầu UBND xã H ký xác nhận lập thủ tục hồ sơ đề nghị UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cho vợ chồng ông Phạm R, bà Nguyễn Thị Đ.

* Tại công văn số 161/UBND ngày 24/01/2024, người bị kiện là UBND huyện P trình bày được tóm tắt như sau:

Vợ chồng ông Phạm R và bà Nguyễn Thị Đ đang sử dụng đất tại thửa số 621 (thửa cũ 290) tờ bản đồ số 32 (bản đồ cũ 300-A), diện tích 272,0m², loại đất thổ cư tại Thôn C, xã H, huyện P. Hiện nay thửa đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Hồ sơ địa chính qua các thời kỳ gồm: Bản đồ cũ năm 1993 khi thực hiện Nghị 64/1993/NĐ-CP; bản đồ mới đo đạc năm 2016; sổ mục kê đất.

Ý kiến của UBND huyện về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Phạm R và bà Nguyễn Thị Đ: Từ trước đến nay, UBND huyện P chưa tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chưa có văn bản từ chối và hành vi từ chối về hồ sơ của ông Phạm R, bà Nguyễn Thị Đ. Do đó việc ông R và bà Đ khởi kiện UBND huyện P là không có cơ sở.

* Tại công văn số 154/UBND ngày 18/12/2023, người bị kiện là UBND xã H trình bày tóm tắt như sau:

Thửa đất 621, tờ bản đồ 32, theo hồ sơ địa chính (sổ mục kê) có nguồn gốc từ thửa đất 290, tờ bản đồ 300-A, diện tích 272m² là đất chuyên trồng lúa nước và trong bản đồ đo đạc năm 1993 tại tờ bản đồ 300-A, thửa 290, diện tích 272m² là đất LUC do ông Phạm R đăng ký, kê khai nhưng trong bản đồ đo đạc năm 2016, tại thửa 468, tờ bản đồ 32, diện tích 221,6m², loại đất ONT.

Tại thông báo số 30/TB-UBND ngày 02/7/2024, UBND xã H trình bày:

Căn cứ Luật Đất đai năm 2013; căn cứ Nghị định 43/2019/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; căn cứ Quyết định số 23/2019/QĐ-UBND ngày 25/6/2019 của UBND tỉnh P V/v ban hành Quy định thời gian, trình tự thực hiện đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất và phối hợp thực hiện một số nhiệm vụ liên quan đến lĩnh vực đất đai giữa các cơ quan có liên quan và Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh P. UBND xã H Thông báo với nội dung sau:

  • - Hủy Công văn số 66/UBND ngày 01/8/2023 V/v trả lời Đơn đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của ông Phạm R và bà Nguyễn Thị Đ thôn C, xã H.
  • - Giao ngành địa chính xem xét lập thủ tục hồ sơ theo Đơn đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của ông Phạm R và bà Nguyễn Thị Đ thôn C, xã H theo đúng quy định của Luật Đất đai năm 2013 và Nghị định 43/2019/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai trình UBND huyện.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Bùi Ngọc H1 trình bày tại bản tự khai ngày 11/01/2024 được tóm tắt như sau:

Về thân nhân ông Bùi G gồm: Bùi Ngọc H1, Bùi Ngọc T3, Bùi Ngọc T4, Bùi Ngọc H2, Bùi Ngọc D, Bùi Thị Mỹ D1, Bùi Ngọc Minh V2, Bùi Thị T5, Bùi Ngọc T6. Đồng trú tại: Thôn C, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.

Về nguồn gốc, quá trình sử dụng, quá trình tranh chấp mảnh đất mà ông Phạm R khởi kiện:

Thửa đất ông Phạm R đang khởi kiện của ông nội ông H1 (là ông Bùi T7) do Sở Địa chánh, tỉnh Phú Yên (Chế độ cũ) cấp. Sau khi được cấp đất, ông Bùi T7 có làm nhà ở trên thửa đất đó. Nhiều thời gian sau, do gia đình đông con, chật chội, nên ông Bùi T7 đã chuyển đến thửa đất khác để làm nhà, sinh sống cho rộng rãi. Thửa đất đó sau này được ông Bùi T7 để lại cho cha ông H1 là ông Bùi G làm ăn, trồng trọt. Việc cho này là bằng miệng và được anh em trong nhà đồng ý không tranh chấp. Lúc đó, ông Bùi Ngọc H1 khoảng 10 tuổi (năm 1966).

Sau đó ông Phạm R có thuê lại thửa đất đó để đặt máy xay xát gạo (1982), rồi tự xây cất nhà ở. Gia đình ông H1 sau đó có đòi lại thửa đất đó, mà ông Phạm R không chịu trả, sau đó có khỏi kiện ông Phạm R (năm 1983) ở UBND xã H. Sau đó đơn kiện được chuyển lên cơ quan có thẩm quyền ở thị xã T. Từ đó, có rất nhiều lần được các cơ quan, các cấp triệu tập hòa giải nhưng ông Phạm R vẫn không chịu trả cho gia đình H1 thửa đất đó.

Kể từ đó đến năm 2013, gia đình ông H1 có khởi kiện tại TAND huyện Phú Hòa. Sau khi hòa giải, ông Phạm R có đồng ý đưa cho gia đình ông H1 số tiền 50.000.000đ để giao lại đất cho ông Phạm R làm giấy cấp quyền sử dụng đất. Nhưng thời gian đã lâu, từ đó cho đến nay, ông Phạm R vẫn chưa đưa tiền cho gia đình ông H1 nên gia đình ông H1 không đồng ý nữa.

* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Bùi Ngọc T4 trình bày: Thống nhất như nội dung ông Bùi Ngọc H1 trình bày.

* Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khác là các ông bà Bùi Ngọc T3, Bùi Ngọc H2, Bùi Ngọc D, Bùi Thị Mỹ D1, Bùi Ngọc Minh V2,Bùi Thị T5, Bùi Ngọc T6 không có lời trình bày.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa phát biểu:

Về thủ tục tố tụng: Vụ án đã được Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên thụ lý đúng thẩm quyền; Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký đã tiến hành tố tụng đúng quy định của Luật Tố tụng Hành chính.

Về nội dung: Theo quy định tại khoản 2 Điều 70 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ thì lẽ ra UBND xã H sau khi tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng ông R, bà Đ phải “xác nhận nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất, tình trạng tranh chấp sử dụng đất, sự phù hợp với quy hoạch” sau đó “Niêm yết công khai kết quả kiểm tra hồ sơ, xác nhận hiện trạng, tình trạng tranh chấp, nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và khu dân cư nơi có đất, tài sản gắn liền với đất trong thời hạn 15 ngày; xem xét giải quyết các ý kiến phản ánh về nội dung công khai và gửi hồ sơ đến Văn phòng đăng ký đất đai”. Tuy nhiên, UBND xã H không thực hiện đúng quy định nêu trên mà trả lại hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng ông R, bà Đ. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Phạm R, bà Nguyễn Thị Đ, buộc UBND xã H phải lập thủ tục tiếp nhận hồ sơ xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông Phạm R, bà Nguyễn Thị Đ theo quy định pháp luật.

Về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo đề nghị xử lý theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở kết quả tranh tụng của đương sự, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự và ý kiến của Kiểm sát viên tại phiên tòa. Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Người bị kiện là UBND huyện P và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Bùi Ngọc H1, Bùi Ngọc T3, Bùi Ngọc T4, Bùi Ngọc H2, Bùi Ngọc D, Bùi Thị Mỹ D1, Bùi Ngọc Minh V2, Bùi Thị T5, Bùi Ngọc T6 được triệu tập đến phiên tòa lần thứ hai đều vắng mặt không lý do. Căn cứ các điều 157, 158 của Luật Tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

Quá trình giải quyết vụ án, người khởi kiện là bà Nguyễn Thị Đ chết ngày ngày 24/6/2024, nên phát sinh người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng gồm chồng là ông Phạm R và các con: Phạm Thế V, Phạm Chí H, Phạm Thị Nhã T, Phạm Hoài V1, Phạm Thị Huyền T1, Phạm Hoài Đ1.

Ngày 06/5/2024, ông Bùi Ngọc H1 có đơn yêu cầu độc lập khởi kiện ông Phạm R, bà Nguyễn Thị Đ đòi lại quyền sử dụng đất đối với thửa 290, tờ bản đồ 300A, địa chỉ thôn C, xã H, huyện P (B). Xét yêu cầu khởi kiện đòi lại đất của ông Bùi Ngọc H1 là tranh chấp đất đai thuộc phạm vi thụ lý giải quyết của tố tụng dân sự quy định tại khoản 9 Điều 26 BLTTDS nên không thuộc phạm vi thụ lý giải quyết trong vụ án hành chính. Ông H1 có quyền khởi kiện vụ án dân sự khi nào có yêu cầu theo quy định pháp luật.

[2] Đối tượng khởi kiện và quan hệ pháp luật tranh chấp:

Đối tượng khởi kiện là Công văn số 66/UBND ngày 01/8/2023 “Về việc trả lời đơn đăng ký, cấp giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” của UBND xã H (viết tắt là CV 66). Theo nội dung CV 66, UBND xã H xác định thửa đất mà vợ chồng ông Phạm R, bà Nguyễn Thị Đ yêu cầu lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đang có tranh chấp với gia đình ông Bùi G nên đề nghị ông R làm đơn yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết tranh chấp theo Điều 203 Luật Đất đai năm 2013. Khi nào giải quyết xong tranh chấp thì UBND xã lập thủ tục hồ sơ đề nghị UBND huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định tại Điều 100 của Luật Đất đai năm 2013. CV 66 là hình thức thể hiện hành vi hành chính không lập hồ sơ đề nghị UBND huyện P xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND xã H.

Như vậy, đối tượng khởi kiện trong vụ án này là hành vi hành chính không lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND xã H và hành vi không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND huyện P đối với thửa đất 621 (thửa cũ 290) tờ bản đồ số 32 (bản đồ cũ 300-A), diện tích đo đạc thực tế là 224,9m² (bút lục 146), loại đất thổ cư tại Thôn C, xã H, huyện P.

Quan hệ pháp luật tranh chấp là “Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai”.

[3] Thẩm quyền giải quyết: Trong các đối tượng khởi kiện có hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai do UBND huyện P có thẩm quyền thực hiện nên thuộc thẩm quyền giải quyết của TAND tỉnh Phú Yên theo quy định tại khoản 1 Điều 30 và khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng hành chính.

[4] Thời hiệu khởi kiện: Từ thời điểm UBND xã H ban hành công văn số 66/UBND ngày 01/8/2023 “Về việc trả lời đơn đăng ký, cấp giấy chứng nhận QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất” đến thời điểm vợ chồng ông Phạm R, bà Nguyễn Thị Đ khởi kiện ngày 07/9/2023 là trong thời hiệu khởi kiện quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính.

[5] Tính hợp pháp của hành vi hành chính bị khởi kiện:

[5.1] Đối với CV 66 của UBND xã H: Theo quy định tại khoản 2 Điều 70 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ “Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai” về “trình tự, thủ tục đăng ký đất đai, tài sản gắn liền với đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất lần đầu và đăng ký bổ sung đối với tài sản gắn liền với đất” thì lẽ ra UBND xã H sau khi tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng ông R, bà Đ phải “xác nhận nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất, tình trạng tranh chấp sử dụng đất, sự phù hợp với quy hoạch” sau đó “Niêm yết công khai kết quả kiểm tra hồ sơ, xác nhận hiện trạng, tình trạng tranh chấp, nguồn gốc và thời điểm sử dụng đất tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã và khu dân cư nơi có đất, tài sản gắn liền với đất trong thời hạn 15 ngày; xem xét giải quyết các ý kiến phản ánh về nội dung công khai và gửi hồ sơ đến Văn phòng đăng ký đất đai”.

Tuy nhiên, UBND xã H không thực hiện theo đúng quy định nêu trên mà ban hành CV 66 trả lại hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng ông R, bà Đ là không đúng luật. Do đó, CV 66 của UBND xã H là hành vi hành chính không hợp pháp.

Quá trình giải quyết vụ án, ngày 02/7/2024, UBND xã H có Thông báo số 30/TB-UBND “Về việc hủy công văn số 66/UBND ngày 01/8/2023 của UBND xã H” và giao địa chính xã xem xét lập thủ tục hồ sơ theo Đơn đề nghị cấp giấy chứng nhận của vợ chồng ông Phạm R, bà Nguyễn Thị Đ theo quy định. Như vậy, hành vi hành chính về việc không lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND xã H đối với vợ chồng ông R, bà Đ đã chấm dứt kể từ ngày có thông báo nêu trên.

[5.2] Về hành vi không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND huyện P: Trên thực tế, UBND xã H đã trả hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận của vợ chồng ông R, bà Đ theo CV 66 nên hồ sơ không được chuyển lên Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện P và Phòng Tài nguyên môi trường huyện P để tham mưu cho UBND huyện P xem xét việc cấp giấy chứng nhận. Do đó, UBND huyện P không có hành vi không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với yêu cầu cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của vợ chồng ông Phạm R, bà Nguyễn Thị Đ đối với thửa đất số 621 tờ bản đồ số 32, diện tích đo đạc thực tế là 224,9m² (bút lục 146), loại đất thổ cư tại Thôn C, xã H, huyện P.

[6] Từ các phân tích trên tại mục [5], Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông Phạm R, bà Nguyễn Thị Đ đối với hành vi hành chính của UBND xã H không lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông R, bà Đ vì đối tượng khởi kiện không còn; không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông R, bà Đ đối với hành vi hành chính không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của UBND huyện P vì không có hành vi hành chính trái pháp luật.

[7] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 4.282.000đ. Vợ chồng ông R, bà Đ khởi kiện không được chấp nhận nên phải chịu; được khấu trừ vào số tiền 5.000.000đ đã nộp tạm ứng và hoàn trả lại cho ông R, bà Đ số tiền 718.000đ (Đã hoàn trả xong).

[8] Về án phí: Ông Phạm R, bà Nguyễn Thị Đ khởi kiện không được chấp nhận nên phải chịu án phí hành chính sơ thẩm. Ông R, bà Đ là người già trên 60 tuổi và đơn xin miễn án phí nên miễn án phí hành chính sơ thẩm cho ông R, bà Đ.

[9] Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  • - Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 30, khoản 4 Điều 32, các điều 157, 158, 193, 358 của Luật Tố tụng hành chính số 93/2015/QH13; khoản 1 Điều 32 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
  • - Tuyên xử: Bác yêu cầu khởi kiện của ông Phạm R, bà Nguyễn Thị Đ về việc tuyên bố hành vi hành chính trái pháp luật của UBND xã H về việc không lập hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông R, bà Đ và hành vi hành chính của UBND huyện P không cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông R, bà Đ.
  • - Chi phí tố tụng: Vợ chồng ông Phạm R, bà Nguyễn Thị Đ phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ số tiền 4.282.000đ (Bốn triệu hai trăm tám mươi hai nghìn đồng); được khấu trừ vào số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) tạm ứng đã nộp và hoàn trả lại cho ông R, bà Đ số tiền 718.000đ (Bảy trăm mười tám nghìn đồng) (Đã hoàn trả xong).
  • - Về án phí: Miễn án phí hành chính sơ thẩm cho ông Phạm R, bà Nguyễn Thị Đ.
  • - Các đương sự có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày bản án được giao cho họ hoặc được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - TAND Cấp cao tại Đà Nẵng (1);
  • - VKSND tỉnh Phú Yên (2);
  • - Cục THADS tỉnh Phú Yên (1);
  • - Phòng KTNV và THA (1);
  • - Những người tham gia tố tụng (5);
  • - UBND tỉnh Phú Yên (1);
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu Tòa án (án văn).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lý Thơ Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/HC-ST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai

  • Số bản án: 44/2024/HC-ST
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bác yêu cầu khởi kiện vì đối tượng khởi kiện không còn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger