Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CAO LÃNH

TỈNH ĐỒNG THÁP

Bản án số: 44/2024/DS-ST

Ngày: 16-4-2024

V/v Tranh chấp hợp đồng

tín dụng

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Trường Chinh.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Võ Thị Điệp.
  2. Bà Nguyễn Thị Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Lợi - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 16 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cao Lãnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 945/2023/TLST-DS, ngày 30/10/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 89/2024/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 144/2024/QĐST-DS ngày 29 tháng 3 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần P (H1); Địa chỉ: B B N, Phường B, Quận A, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quốc T - Chức vụ: Tổng Giám đốc.

Người đại diện theo uỷ quyền của ông Phạm Quốc T: Ông Phạm Thiện H - Chức vụ: Giám đốc C; Địa chỉ thường trú: Tổ D, khóm M, phường M, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp. Theo văn bản ủy quyền số: 1489/2023/QĐ-TGĐ ngày 23/5/2023.

Người đại diện hợp pháp của ông Phạm Thiện H: Ông Đặng Thái L - chức vụ: Chuyên viên QHKHCN – Chi nhánh Đ; Địa chỉ: 6 L, Phường B, thành phố C, Tỉnh Đồng Tháp. Theo văn bản ủy quyền số: 220/2023/UQ-CNĐT ngày 21/9/2023.

- Bị đơn: Bà Trần Thị Ngọc T1 - sinh năm 1980; Giấy chứng minh nhân dân số: [...] do công an Đ1 cấp ngày 26/7/2010.

Địa chỉ: Tổ 6, khóm M, thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp.

Người đại diện nguyên đơn có mặt, bị đơn vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện, trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày như sau:

Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển thành phố P chi nhánh Đ và bà Trần Thị Ngọc T1 có thoả thuận ký hợp Hợp đồng vay theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ ngày 22/4/2022, nội dung như sau:

Số tiền hạn mức vay 200.000.000 đồng, mục đích vay: thẻ tín dụng tiêu dùng, không tài sản bảo đảm, thời hạn thẻ là 03 năm, lãi suất 33%/năm. Tại Điều 2 của Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng có quy định bên đề nghị xác nhận đồng ý ràng buộc bởi các điều khoản và điều kiện sử dụng thẻ của H1, tạo nên một hợp đồng ràng buộc về mặt pháp lý. Trong các khoản và điều kiện sử dụng thẻ của H1 thì ngoài nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi thì người sử dụng thẻ phải trả các loại phí như phí chậm thanh toán dư nợ tín dụng (OVD) 4%, phí sử dụng vượt hạn mức (OVL) 2,5%.

Quá trình thực hiệp hợp đồng bà Trần Thị Ngọc T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi đến hạn như đã thoả thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng mà hai bên đã ký kết. Cụ thể, bà T1 đã vi phạm phương thức, thời hạn trả nợ theo thoả thuận khi không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi đến hạn thanh toán vào kỳ tháng 8 từ ngày 15/8/2023 và không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khi đến cuối kỳ hạn vào ngày 31/8/2023, mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc nhắc nhở, mời làm việc yêu cầu bà T1 trả nợ nhưng bà vẫn không thực hiện.

Theo đơn khởi kiện, Ngân hàng yêu cầu như sau:

  1. Yêu cầu bà Trần Thị Ngọc T1 phải thanh toán một lần toàn bộ nợ gốc và lãi, phí cho H1 với tổng số tiền tạm tính đến ngày 15/05/2023 là 364.617.798 đồng. Trong đó: Nợ gốc là 143.645.176 đồng, nợ lãi là 63.560.014 đồng, nợ phí là 2.421.120 đồng.
  2. Yêu cầu phải tiếp tục thanh toán số tiền lãi phát sinh đối với số tiền nợ còn lại cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
  3. Trường hợp, bà Trần Thị Ngọc T1 không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì H1 được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xử lý các tài sản thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà Trần Thị Ngọc T1 để tiếp tục thu hồi nợ vay theo quy định pháp luật hoặc bà Trần Thị Ngọc T1 vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ.

Tại phiên toà, do có sai sót trong việc cộng các con số nên Ngân hàng có thay đổi yêu cầu như sau: Yêu cầu buộc bà Trần Thị Ngọc T1 phải có nghĩa vụ thanh toán một lần toàn bộ nợ gốc và lãi, phí cho H1 với tổng số tiền tạm tính đến ngày 16/4/2024 là 276.101.443 đồng. Trong đó: Nợ gốc là 143.645.176 đồng, nợ lãi là 90.573.165 đồng và nợ phí là 41.883.240 đồng. Các yêu cầu còn lại giữ nguyên. Ngoài ra, không yêu cầu gì khác.

2

* Bị đơn bà Trần Thị Ngọc T1 đã được Toà án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, đã được triệu tập để mở phiên họp công khai chứng cứ và hoà giải, cũng như triệu tập để xét xử nhưng bị đơn không tham gia trong suốt quá trình tố tụng. Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt đề ngày 27/3/2024, bị đơn bà T1 ý kiến như sau:

Bà T1 xác nhận còn thiếu số tiền gốc và phí như Ngân hàng H1 yêu cầu. Về phần lãi suất bà T1 xin ngân hàng xem xét bớt lãi để tạo điều kiện cho bà T1 trả nợ.

* Trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn đã cung cấp tài liệu, chứng cứ gồm: Hồ sơ pháp lý của H1 (Bản sao y bản chính), Hồ sơ ủy quyền CBNV đại diện H1 khởi kiện (Bản chính), Hồ sơ pháp lý người bị kiện (Bản photo), Hồ sơ tín dụng (Bản sao y bản chính), Quyết định ban hành lãi suất cấp thẻ tín dụng (photo), các quy định về thẻ tín dụng (photo), Phiếu chiết tính lãi thẻ tín dụng ngày 16/4/2024 (bản chính).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật: Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển thành phố P khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị Ngọc T1 phải thanh toán một lần toàn bộ nợ gốc và lãi, phí cho H1 với tổng số tiền tạm tính đến ngày 16/4/2024 là 276.101.443 đồng, theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ ngày 22/4/2022. Căn cứ Điều 463 Bộ luật dân sự và khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự nên quan hệ pháp luật được xác định là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: Vụ án tranh chấp về hợp đồng tín dụng theo khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự giữa các đương sự trên với bị đơn Trần Thị Ngọc T1 cư trú tại thị trấn M, huyện C, tỉnh Đồng Tháp. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Cao Lãnh.

[1.3] Về xét xử vắng mặt: Toà án đã tống đạt hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên toà cho bị đơn Trần Thị Ngọc T1 và triệu tập bị đơn để xét xử lần thứ hai nhưng bị đơn vẫn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Toà án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn.

[2] Về nội dung vụ án:

[2.1] Tại phiên tòa sơ thẩm, Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển thành phố P khởi kiện yêu cầu bà Trần Thị Ngọc T1 phải thanh toán một lần toàn bộ nợ gốc, lãi và phí với tổng số tiền tạm tính đến ngày 16/4/2024 là 276.101.443 đồng (trong đó: Nợ gốc là 143.645.176 đồng, nợ lãi là 90.573.165 đồng và nợ phí là 41.883.240 đồng), theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 22/4/2022. Xét thấy, tại đơn khởi kiện nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả tổng số tiền 364.617.798 đồng là cao hơn số tiền yêu cầu tại phiên tòa, mặc dù số tiền gốc vẫn là 143.645.176 đồng. Như vậy xác định lời thừa nhận của nguyên đơn có sai sót trong việc cộng các con số nên dẫn đến yêu cầu tại đơn khởi kiện cao hơn tại phiên toà hôm nay, việc nguyên đơn thay đổi yêu cầu là có lợi cho bị đơn. Căn cứ Điều 5, Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự xác định việc thay đổi yêu cầu của nguyên đơn không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu nên có cơ sở chấp nhận và Toà án xem xét giải quyết yêu cầu của nguyên đơn là buộc bà Trần Thị Ngọc T1 phải thanh toán một lần toàn bộ nợ gốc, lãi và phí với tổng số tiền tạm tính đến ngày 16/4/2024 là 276.101.443 đồng.

Xét về giao kết hợp đồng và tính hợp pháp của hợp đồng: Xét thấy, căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ ngày 22/4/2022 và Quy định về điều kiện sử dụng thẻ của H1, thỏa thuận như sau: Số tiền hạn mức vay 200.000.000 đồng; mục đích vay: thẻ tín dụng tiêu dùng, không tài sản bảo đảm; Thời hạn thẻ là 03 năm; lãi suất 33%/năm; ngoài nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi thì người sử dụng thẻ phải trả các loại phí như phí chậm thanh toán dư nợ tín dụng (OVD) 4%, phí sử dụng vượt hạn mức (OVL) 2,5%. Tại thời điểm giao dịch các bên có đầy đủ năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự, các bên giao kết hoàn toàn tự nguyện, không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Căn cứ Điều 117 và Điều 463 Bộ luật dân sự xác định Hợp đồng vay đảm bảo điều kiện có hiệu lực của hợp đồng và hợp pháp, có giá trị pháp lý. Trong quá trình tố tụng, bà T1 có ý kiến xác nhận còn thiếu số tiền gốc và phí như Ngân hàng H1 yêu cầu, riêng về phần lãi suất bà T1 xin ngân hàng xem xét bớt lãi. Căn cứ Điều 92, 93 Bộ luật Tố tụng dân sự thì lời thừa nhận của bị đơn là chứng cứ không cần chứng minh. Như vậy có cơ sở xác định bà T1 được cấp tín dụng bằng hình thức sử dụng thẻ tín dụng với số tiền là 200.000.000 đồng là thật.

Xét về quá trình thực hiện hợp đồng: Xét thấy, căn cứ lời trình bày của nguyên đơn, cùng các tài liệu chứng cứ kèm theo và lời thừa nhận của bị đơn xác định khi đến hạn thanh toán gốc và lãi bà T1 thực hiện không đúng dẫn đến vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Cụ thể, bà T1 đã vi phạm phương thức, thời hạn trả nợ theo thoả thuận khi không thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi đến hạn thanh toán vào kỳ sao kê tháng 8 từ ngày 15/8/2023 và không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khi đến cuối kỳ hạn vào ngày 31/8/2023, mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần đôn đốc nhắc nhở, mời làm việc yêu cầu bà T1 trả nợ nhưng bà vẫn không thực hiện. Căn cứ Điều 466 Bộ luật Dân sự thì ngoài nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi cho Ngân hàng thì bà T1 còn phải trả các loại phí theo mức lãi suất đã thoả thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ ngày 22/4/2022 và Quy định về điều kiện sử dụng thẻ của H1.

Xét về tính lãi và các loại phí theo yêu cầu của nguyên đơn: Xét thấy, Căn cứ theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ ngày 22/4/2022 và Quy định về điều kiện sử dụng thẻ của H1, lãi suất thoả thuận là 33%/năm, các loại phí như phí chậm thanh toán dư nợ tín dụng (OVD) 4%, phí sử dụng vượt hạn mức (OVL) 2,5%, tính từ ngày vi phạm, đây là sự tự nguyện thoả thuận giữa các bên và không trái với quy định pháp luật nên việc nguyên đơn tính lãi và các loại phí trên theo hợp đồng là phù hợp với Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng. Do đó yêu cầu tính lãi và các loại phí của nguyên đơn là có căn cứ nên chấp nhận. Số tiền lãi và các loại phí tính đến ngày 16/4/2024 như sau: nợ lãi là 90.573.165 đồng và nợ phí là 41.883.240 đồng.

Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận định hai bên có giao kết hợp đồng tín dụng, bị đơn có nhận số tiền vay trên. Nay bị đơn vi phạm nghĩa vụ nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ.

[2.2] Xét yêu cầu tiếp tục tính lãi của nguyên đơn, yêu cầu bà Trần Thị Ngọc T1 phải có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi và phí phát sinh theo lãi suất thoả thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ ngày 22/4/2022 và Quy định về điều kiện sử dụng thẻ của H1 kể từ ngày 17/4/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ. Xét thấy, yêu cầu tính lãi của nguyên đơn phù hợp với hợp đồng và quy định pháp luật nên yêu cầu này là có cơ sở.

Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển thành phố P, buộc bà Trần Thị Ngọc T1 phải thanh toán một lần toàn bộ nợ gốc, lãi và phí với tổng số tiền tạm tính đến ngày 16/4/2024 là 276.101.443 đồng (trong đó: Nợ gốc là 143.645.176 đồng, nợ lãi là 90.573.165 đồng và nợ phí là 41.883.240 đồng). Buộc bà Trần Thị Ngọc T1 phải có nghĩa vụ tiếp tục trả lãi và phí phát sinh theo lãi suất thoả thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ ngày 22/4/2022 và Quy định về điều kiện sử dụng thẻ của H1 kể từ ngày 17/4/2024 cho đến khi thanh toán xong nợ.

[3] Xét Trường hợp bà Trần Thị Ngọc T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đúng và đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên thì Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển thành phố P được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền cho thi hành án đối với bà Trần Thị Ngọc T1 để thanh toán hết toàn bộ nợ vay theo quy định pháp luật. Xét thấy, yêu cầu này có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật.

[4] Về án phí: Căn cứ Điều 147 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn phải chịu án phí theo quy định. Nguyên đơn không phải chịu án phí và được nhận lại tiền tàm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 117, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự;

Căn cứ vào Điều 91, Điều 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 92, Điều 147, Điều 227, Điều 228 Điều 244, Điều 271, Điều 273 và Điều 483 Bộ của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển thành phố P.
    • - Buộc bà Trần Thị Ngọc T1 phải có nghĩa vụ thanh toán một lần toàn bộ nợ gốc, lãi và phí là 276.101.443 đồng (hai trăm bảy mươi sáu triệu, một trăm lẻ một nghìn, bốn trăm bốn mươi ba đồng). Trong đó: Nợ gốc là 143.645.176 đồng, nợ lãi là 90.573.165 đồng và nợ phí là 41.883.240 đồng.
    • Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bà Trần Thị Ngọc T1 còn phải tiếp tục trả lãi và phí phát sinh trên số tiền gốc còn thiếu theo lãi suất thoả thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng sử dụng thẻ ngày 22/4/2022 và Quy định về điều kiện sử dụng thẻ của H1.
  2. Về án phí:
    • - Buộc bị đơn bà Trần Thị Ngọc T1 phải chịu số tiền án phí dân sự sơ thẩm là 13.805.000 đồng (mười ba triệu, tám trăm lẻ năm nghìn đồng).
    • - Nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển thành phố P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 9.115.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0004704 ngày 23 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp.
  3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn bà Trần Thị Ngọc T1 có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
  4. Về Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án và thời hiệu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND HCL;
  • - TAND Tỉnh;
  • - Chi cục THADS HCL;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Trương Trường Chinh

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/DS-ST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 44/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAO LÃNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần phát triển thành phố Hồ Chí Minh. - Buộc bà Trần Thị Ngọc Trinh phải có nghĩa vụ thanh toán một lần toàn bộ nợ gốc, lãi và phí là 276.101.443 đồng (hai trăm bảy mươi sáu triệu, một trăm lẻ một nghìn, bốn trăm bốn mươi ba đồng). Trong đó: Nợ gốc là 143.645.176 đồng, nợ lãi là 90.573.165 đồng và nợ phí là 41.883.240 đồng.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger