Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Bản án số: 44/2024/DS-PT

Ngày: 06-12-2024

“V/v tranh chấp về thừa kế tài sản"

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Hồng Vân

Các Thẩm phán: Ông Trần Ngọc Tú

Ông Lê Vũ Tiến

-Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế

-Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Liên Hoa – Kiểm sát viên

Trong các ngày 14, 29 tháng 11 và ngày 06 tháng 12 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 21/2024/TLPT- DS ngày 23 tháng 7 năm 2024 về “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 28/2024/DS-ST, ngày 27 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Huế bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 131/2024/QĐ-PT ngày 20 tháng 8 năm 2024, Thông báo mở lại phiên toà số 5222/TB-TA ngày 01/11/2024, Quyết định tạm ngừng phiên toà số 5487/2024/QĐPT-DS ngày 14/11/2024, Thông báo tiếp tục phiên toà số 5688/TB-TA ngày 25/11/2024; giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn Ông Trần Văn T, sinh năm 1989; địa chỉ: A Đ, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
  2. Bị đơn: Ông Trần Văn N, sinh năm 1981; địa chỉ: 3 L, Tổ D, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
  3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
    • - Bà Trần Thị H, sinh năm 1976; địa chỉ: 1 D, phường A, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
    • - Bà Trần Thị N1, sinh năm 1979; địa chỉ: A Đ, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; vắng mặt ngày 14/11, có mặt ngày 29/11 và ngày 6/12/2024.
    • - Ông Trần Văn M, sinh năm 1985; địa chỉ: Tổ A, KP L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, vắng mặt.
    • Người đại diện theo uỷ quyền của ông Trần Văn M: Ông Trần Văn T là nguyên đơn trong vụ án; có mặt.
    • - Bà Trần Thị V, sinh năm 1987; địa chỉ: C Đ, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
  4. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự:
    • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn ông Trần Văn T: Luật sư Phan Minh B, Luật sư Công ty L1; địa chỉ: H T, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt.
    • - Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn ông Trần Văn N: Luật sư Nguyễn Văn K, Luật sư thuộc Công ty L2; địa chỉ: C Đ, phường T, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có mặt (vắng mặt khi tuyên án).
  5. Người kháng cáo: Bị đơn ông Trần Văn N, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị H, bà Trần Thị V.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm, các lời khai trong quá trình tham gia tố tụng của nguyên đơn ông Trần Văn T đồng thời là người đại diện theo ủy quyền của ông M trình bày:

Bố mẹ của nguyên đơn là cụ ông Trần Văn G (chết ngày 02/01/2020) và cụ bà Lê Thị H1 (chết ngày 24/01/2022). Bố, mẹ của cụ G và bố, mẹ của cụ H1 đều đã chết trước hai cụ. Cụ G, cụ H1 không có con nuôi, con riêng và có 06 người con chung gồm:

  1. Bà Trần Thị H, sinh năm 1976
  2. Bà Trần Thị N1, sinh năm 1979.
  3. Ông Trần Văn N, sinh năm 1981.
  4. Ông Trần Văn M, sinh năm 1985.
  5. Bà Trần Thị V, sinh năm 1987.
  6. Ông Trần Văn T, sinh năm 1989.

Quá trình chung sống, cụ G và cụ H1 có tạo lập được khối tài sản là thửa đất số 76, tờ bản đồ số 327, diện tích 127,8m² và nhà ở trên đất tọa lạc tại A Đ, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất được Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 01/03/2016 đứng tên Trần Văn G và Lê Thị H1. Ngoài ra, cụ bà Lê Thị H1 để lại di sản là thửa đất số 234 (84-1), tờ bản đồ số 24, diện tích 104,1m² tọa lạc tại 2 Kiệt I D, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất được Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 27/4/2015 đứng tên Lê Thị H1.

Trước khi chết, cụ G và cụ H1 không để lại di chúc. Vì vậy, nguyên đơn đề nghị Tòa án chia di sản thừa kế của bố, mẹ theo quy định pháp luật. Nguyên đơn xin nhận kỷ phần thừa kế bằng hiện vật và sẽ thanh toán cho những người khác giá trị di sản theo quy định.

Bị đơn ông Trần Văn N2 trình bày:

Bị đơn thống nhất như lời trình bày của nguyên đơn về quan hệ huyết thống và nguồn gốc nhà, đất. Tuy nhiên, bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía bị đơn là bà Trần Thị H, Trần Thị V thống nhất trình bày:

Thống nhất như trình bày của nguyên đơn. Tuy nhiên, không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị N1 trình bày:

Ông Trần Văn T khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết chia di sản thừa kế do cha, mẹ để lại nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho các đồng thừa kế theo đúng quy định pháp luật thì bà đồng ý.

Tại bản trình bày ý kiến ngày 19 tháng 06 năm 2023, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đứng về phía nguyên đơn là ông Trần Văn M trình bày:

Đồng ý theo yêu cầu của nguyên đơn và xin nhận thừa kế bằng giá trị. Tuy nhiên kỷ phần thừa kế mà ông M được hưởng tại 2 Kiệt I D, phường X, thành phố H xin tặng cho ông Trần Văn T.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn Luật sư Trần Minh B1 đề nghị

Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2024/DS-ST ngày 27/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế đã quyết định:

Căn cứ khoản 5 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a, c khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 165; khoản 1 Điều 166 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Áp dụng Điều 609; Điều 611; Điều 612; Điều 613; Điều 614; Điều 623; Điều 649; Điều 650; Điều 651; Điều 660 và Điều 688 Bộ luật dân sự; Điều 179 Luật đất đai 2013.

Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12; điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn T.
  2. Xác định thời điểm mở thừa kế của ông Trần Văn G (chết năm 2020) và bà Lê Thị H1 (chết năm 2022).
  3. Xác định di sản thừa kế của ông Trần Văn G và bà Lê Thị H1 gồm: Nhà và đất tại thửa đất số 76, tờ bản đồ số 27, diện tích 127,8m² toạ lạc tại A Đ, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất được Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 01/03/2016.
  4. Xác định hàng thừa kế thứ nhất của ông Trần Văn G và bà Lê Thị H1 có 06 người con gồm các ông bà: Trần Thị H;Trần Thị N1; Trần Văn N, Trần Văn M; Trần Thị V và Trần Văn T.
  5. Giao toàn bộ hiện vật cho ông Trần Văn T được toàn quyền quản lý, sử dụng và sở hữu Nhà và đất tại thửa đất số 76, tờ bản đồ số 27, diện tích 127,8 m² toạ lạc tại A Đ, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất được Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 01/03/2016 (Có bản vẽ kèm theo).

Buộc ông Trần Văn T phải thanh toán giá trị cho ông Trần Văn N, Trần Thị H, Trần Thị N1, Trần Thị V, Trần Văn M mỗi người là 649.828.205 đồng.

  1. Giao toàn bộ hiện vật cho ông Trần Văn T được toàn quyền quản lý, sử dụng và sở hữu Nhà và Đất tại thửa đất số 234 (84-1), tờ bản đồ số 24, diện tích 104,1m² tọa lạc tại 2 Kiệt I D, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất được Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 27/4/2015 (Có bản vẽ kèm theo).

Buộc ông Trần Văn T phải thanh toán giá trị bằng tiền cho ông Trần Văn N, Trần Thị H, Trần Thị N1, Trần Thị V mỗi người là 466.795.870 đồng.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.

Tại đơn kháng cáo ngày 01/7/2024 của bị đơn ông Trần Văn N, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị V, bà Trần Thị H đề nghị Toà án cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ Bản án sơ thẩm số 28/2024/DS-ST ngày 27/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, đề nghị Toà án xem xét giao cho ông Trần Văn N được nhận nhà và đất tại địa chỉ A Đ, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế và ông N thanh toán giá trị bằng tiền cho các đồng thừa kế khác; giao nhà và đất tại 2 Kiệt I D, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế cho ông Trần Văn T và ông T thanh toán giá trị cho các đồng thừa kế khác.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử giao cho ông T nhà, đất tại đường D, giao cho ông Trần Văn N, bà Trần Thị V, bà Trần Thị H nhà, đất tại đường Đ.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị đơn.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế có quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý cho đến khi nghị án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Quá trình tố tụng và tại phiên tòa, các đương sự chấp hành đúng pháp luật tố tụng dân sự, không có vấn đề gì cần phải kiến nghị để khắc phục.

- Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan sửa bản án sơ thẩm; giao cho ông Trần Văn T nhà, đất tọa lạc tại 2 Kiệt I D, phường X, thành phố H; giao cho ông Trần Văn N, bà Trần Thị V, bà Trần Thị H nhà, đất tọa lạc tại A Đ, phường P, thành phố H. Buộc các đương sự phải thanh toán giá trị chênh lệch cho những người khác theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, trên cơ sở kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Trong giai đoạn xét xử phúc thẩm, bà Trần Thị L là người thuê nhà tại A Đ có văn bản đề nghị cho bà được tiếp tục thuê. Tại phiên tòa, tất cả các đương sự đều không có ý kiến gì. Vì vậy, Tòa án không đưa bà L vào tham gia tố tụng.

Đơn kháng cáo của ông Trần Văn N, bà Trần Thị V, bà Trần Thị H làm trong thời hạn luật định, đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm theo quy định của pháp luật. Do đó, kháng cáo của bị đơn là hợp lệ. Tại phiên tòa phúc thẩm, nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan giữ nguyên kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau nên Hội đồng xét xử xét cần tiếp tục xét xử theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

[2.1] Có căn cứ xác định:

Bố mẹ của nguyên đơn là cụ ông Trần Văn G (chết ngày 02/01/2020) và cụ bà Lê Thị H1 (chết ngày 24/01/2022). Bố, mẹ của cụ G và bố, mẹ của cụ H1 đều đã chết trước hai cụ. Cụ G, cụ H1 không có con nuôi, con riêng và có 06 người con chung gồm: Bà Trần Thị H, Trần Thị N1, Trần Văn N, Trần Văn M, Trần Thị V, Trần Văn T.

Quá trình chung sống, cụ G và cụ H1 có tạo lập được khối tài sản là thửa đất số 76, tờ bản đồ số 327, diện tích 127,8 m² và nhà ở trên đất tọa lạc tại A Đ, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất được Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 01/03/2016 đứng tên Trần Văn G và Lê Thị H1. Ngoài ra, cụ bà Lê Thị H1 để lại di sản là nhà, đất tại thửa đất số 234 (84-1), tờ bản đồ số 24, diện tích 104,1m² tọa lạc tại 2 Kiệt I D, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất được Ủy ban nhân dân thành phố H cấp ngày 27/4/2015. Cụ G và cụ H1 chết không để lại di chúc. Vì vậy, cấp sơ thẩm chia di sản thừa kế của cụ G1 và cụ H1 theo pháp luật là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2.2]. Xét kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đề nghị

Toà án xem xét giao cho các ông, bà N, N1, V được nhận nhà và đất tại địa chỉ A Đ, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; giao nhà và đất tại 2 Kiệt I D, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế cho ông Trần Văn T. Hội đồng xét xử xét thấy:

Theo kết quả xác minh tại Công an phường P, thành phố H ngày 13 tháng 11 năm 2024: “Hiện nay, ông Trần Văn T là người đăng ký thường trú và sinh sống tại địa chỉ số A Đ, ông Trần Văn N có kinh doanh sửa xe máy tại địa chỉ trên nhưng không sinh sống tại đây”.

Tại phiên tòa, nguyên đơn xin được nhận nhà đất tại 105 Đặng Huy T1 và giao nhà đất tại 2 Kiệt I D, phường X, thành phố H cho bị đơn được nhận. Tuy nhiên, bị đơn không đồng ý mà chỉ xin nhận nhà, đất tại A Đ, phường P, thành phố H.

Xét thấy, nguyên đơn hiện đang cư trú hợp pháp tại địa chỉ A Đ, bị đơn hiện đang ở tại 35/11/69 L, Tổ D, phường T, thành phố H. Bà Trần Thị H, Trần Thị V cũng đã có chỗ ở ổn định. Do vậy, không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, cần giao nhà, đất tại Đặng Huy T1 cho nguyên đơn.

[2.3]. Đối với nhà, đất tại 2 Kiệt I D, phường X, thành phố H,

tuy không có kháng cáo, kháng nghị nhưng có liên quan đến việc xem xét nội dung kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, nên cần giao cho bị đơn ông Trần Văn N được quyền sở hữu và sử dụng.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm giao cho ông T được nhận nhà, đất tại A Đ, phường P, thành phố H; giao cho ông N được nhận nhà, đất tại 2 kiệt I D, phường X, thành phố H.

[3.] Về phân chia giá trị di sản thừa kế:

  • - Kết quả định giá tài sản ngày 16/10/2024, xác định giá đất tại địa chỉ A Đ, phường V, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế có giá trị 33.000.000 đồng/m2. Tổng giá trị đất là: 4.217.400.000 đồng, tài sản trên đất: 640.069.000 đồng. Tổng giá trị nhà, đất là: 4.857.469.000 đồng, mỗi kỷ phần thừa kế được hưởng có giá trị 809.578.000 đồng (4.857.469.000 : 6).
  • - Giá trị nhà, đất tại 28/11 kiệt 92 Dương Văn A là: 2.800.775.000 đồng, mỗi kỷ phần thừa kế được hưởng có giá trị 466.795.800 đồng (2.800.775.000 :6).
  • - Tổng giá trị mỗi kỷ phần thừa kế được hưởng có giá trị: 1.276.373.800 đồng.

Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa, ông Trần Văn M, bà Trần Thị N1 tặng cho ông Trần Văn T giá trị kỷ phần thừa kế mà họ được chia ở tại đường D, ông T đồng ý nhận. Hội đồng xét xử xét thấy tuy ông T và bà N1 không có kháng cáo nhưng sự thỏa thuận này là tự nguyện, nên chấp nhận.

Như vậy, tổng giá trị tài sản các đương sự được nhận cụ thể như sau:

  • - Ông Trần Văn T: 2.209.965.400 đồng (1.276.373.800 + 466.795.800 x 2).
  • - Ông Trần Văn N, bà Trần Thị H, Trần Thị V mỗi người được hưởng: 1.276.373.800 đồng.
  • - Ông Trần Văn M, bà Trần Thị N1, mỗi người được hưởng 809.578.000 đồng.

[4]. Về thanh toán giá trị chênh lệch:

  • - Buộc ông Trần Văn T phải thanh toán cho các ông bà Trần Thị N1, Trần Văn M, bà Trần Thị V mỗi người: 809.578.000 đồng; thanh toán cho bà Trần Thị H: 218.769.600 đồng.
  • - Buộc ông Trần Văn N phải thanh toán cho các bà Trần Thị V 466.795.800 đồng; thanh toán cho bà Trần Thị H: 1.057.605.400 đồng.

[5]. Về án phí:

- Án phí dân sự sơ thẩm: Các đương sự phải chịu án phí tương ứng với giá trị di sản được nhận 1.276.373 .800 là: 36.000.000 đồng + (3% x 476.373.800 đồng) = 50.291.214 đồng. Ông T là người khuyết tật, có đơn xin miễn án phí nên được miễn toàn bộ.

- Án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa án sơ thẩm, nên các đương sự không phải chịu.

[6] Về chi phí tố tụng:

- Chi phí tố tụng tại cấp sơ thẩm là 6.004.000 đồng, nguyên đơn tự nguyện chịu chi phí này, đã nộp đủ.

- Chi phí tố tụng tại cấp phúc thẩm là 3.500.000 đồng, bị đơn tự nguyện nộp và đã nộp đủ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 148, Điều 165, khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Trần Văn N và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị V, Trần Thị H.

Căn cứ Điều 309 Bộ luật tố tụng dân sự: sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 28/2024/DS-ST ngày 27/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Áp dụng Điều 357, 468, 609, 611, 612, 613, 649, 650, 651, 660 của Bộ luật dân sự năm 2015. Điều 167, 179 Luật đất đai năm 2013 điểm đ khoản 1 Điều 12, điểm a khoản 7 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Q; Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn ông Trần Văn T.
  2. Xác định thời điểm mở thừa kế của cụ Trần Văn G là năm 2020, cụ Lê Thị H1 là năm 2022.
  3. Chia thừa kế theo pháp luật như sau:
    • [3.1].
    • Chia di sản thừa kế của cụ Trần Văn G và cụ Lê Thị H1 là nhà, đất tại thửa đất số 76, tờ bản đồ số 327, diện tích 127,8m² tọa lạc tại A Đ, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có giá trị là 4.857.469.000 đồng theo pháp luật cho 06 kỷ phần thừa kế gồm Trần Thị H, Trần Thị N1, Trần Văn N, Trần Văn M, Trần Thị V, Trần Văn T, mỗi kỷ phần thừa kế được hưởng có giá trị 809.578.000 đồng.
    • [3.2].
    • Chia di sản thừa kế của cụ Lê Thị H1 là nhà, đất tại thửa đất số 234 (84-1), tờ bản đồ số 24, diện tích 104,1 m² tọa lạc tại 2 Kiệt I D, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế; có giá trị là 2.800.775.000 theo pháp luật cho 06 kỷ phần thừa kế gồm Trần Thị H, Trần Thị N1, Trần Văn N, Trần Văn M, Trần Thị V, Trần Văn T. Mỗi kỷ phần thừa kế được hưởng có giá trị 466.795.800 đồng.
  4. Ghi nhận sự tự nguyện của ông Trần Văn M, bà Trần Thị N1 tặng cho ông Trần Văn T kỷ phần thừa kế mà ông M, bà N1 được hưởng của cụ Lê Thị H1 tại 2 Kiệt I D, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế với giá trị 466.795.800 đồng.
  5. Phân chia hiện vật như sau:
    • - Giao cho ông Trần Văn T được quyền sở hữu và sử dụng nhà, đất tại thửa đất số 76, tờ bản đồ số 327, diện tích 127,8 m² tọa lạc tại A Đ, phường P, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
    • - Giao cho ông Trần Văn N được quyền sở hữu và sử dụng nhà, đất tại thửa đất số 234 (84-1), tờ bản đồ số 24, diện tích 104,1m² tọa lạc tại 2 Kiệt I D, phường X, thành phố H, tỉnh Thừa Thiên Huế.
    • (Có bản vẽ kèm theo).

Các đương sự được quyền liên hệ với Cơ quan có thẩm quyền để được cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu tài ản và quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.

  1. Về thanh toán bằng giá trị:
    • - Buộc ông Trần Văn T phải thanh toán cho các ông bà Trần Thị N1, Trần Văn M, Trần Thị V mỗi người số tiền là: 809.578.000 đồng; thanh toán cho bà Trần Thị H số tiền: 218.769.600 đồng.
    • - Buộc ông Trần Văn N phải thanh toán cho bà Trần Thị V số tiền: 466.795.800 đồng, thanh toán cho bà Trần Thị H: 1.057.605.400 đồng.
  2. Về chi phí tố tụng:
    • - Chi phí định giá, đo đạc, thẩm định: 6.004.000 đồng, nguyên đơn tự nguyện chịu chi phí này, đã nộp đủ.
    • - Chi phí tố tụng tại cấp phúc thẩm là 3.500.000 đồng, bị đơn tự nguyện nộp và đã nộp đủ.
  3. Về án phí:
    • 8.1. Án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho ông Trần Văn T.
    • - Buộc các ông, bà Trần Văn N, Trần Văn M, Trần Thị H, Trần Thị V, Trần Thị N1 mỗi người phải chịu án phí dân sự sơ thẩm số tiền: 50.291.214 đồng.
    • 8.2. Án phí dân sự phúc thẩm:
    • Các đương sự không phải chịu, trả lại cho các ông, bà Trần Văn N, Trần Thị V, Trần Thị H mỗi người 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo các biên lai thu tiền số 0004312, 0004311, 0004310 ngày 9/7/2024 của Chi cục Thi hành án thành phố Huế.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng còn phải chịu thêm một khoản lãi, theo mức lãi suất được quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015, tương ứng với số tiền và thời gian chậm trả.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, được bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh TT Huế;
  • - TAND thành phố Huế;
  • - Chi cục THADS thành phố Huế;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án; Tòa DS; HСТР.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thái Thị Hồng Vân

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 44/2024/DS-PT ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số bản án: 44/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 06/12/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về thừa kế tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger