|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 44/2022/HS-ST
Ngày 30 tháng 11 năm 2022
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Phước Tự.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1/ Ông: Nguyễn Hoàng Minh.
- 2/ Ông: Phạm Văn Liệt.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Thanh Phong - Thư ký tòa án nhân dân huyện Thanh Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Văn Chiến - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 30 tháng 11 năm 2022 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình (điểm cầu Trung tâm) và tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp (điểm cầu thành phần) tiến hành xét xử phiên tòa trực tuyến sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 51/2022/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 50/2022/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo
- Họ và tên: Nguyễn Hữu D (tên gọi khác: D Mỡ), sinh ngày: 26/9/2002, tại: tỉnh Đồng Tháp; Nơi cư trú: số 545B, ấp 1, xã 2, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn G, sinh năm 1979 và con bà Lê Thị L, sinh năm 1983; Anh chị em có 02 người, bị cáo là con đầu lòng; vợ, con: chưa có; tiền sự: không; tiền án: không; tạm giữ: ngày 08/4/2022; tạm giam: ngày 17/4/2022; hiện đang bị tạm giam trong vụ “Giết người” và “Gây rối trật tự công cộng” tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đồng Tháp, có mặt tại điểm cầu thành phần.
- Người làm chứng:
- Nguyễn Văn Trung V, sinh ngày: 09/10/2006 là bị can trong vụ án khác, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Phan Thanh N, sinh ngày: 17/5/2004 là bị can trong vụ án khác, có mặt tại điểm cầu thành phần.
- Huỳnh Văn H, sinh ngày: 24/01/2005 là bị can trong vụ án khác, có đơn xin xét xử vắng mặt.
- Người tham gia tố tụng khác: Dương Quốc N - Cán bộ Trại tạm giam, hỗ trợ phiên tòa trực tuyến tại điểm cầu thành phần.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng tháng 02 năm 2022 Nguyễn Hữu D sử dụng tài khoản Facebook cá nhân của mình tên “Nguyễn Hữu D” thì thấy tài khoản Facebook tên “C” (không rõ nhân thân, địa chỉ) đăng bán các loại súng nên D vào xem và nhắn tin qua Messenger hỏi mua 01 khẩu súng ngắn ổ xoay bằng kim loại màu đen tay cầm nhựa màu xám có Chữ “ZP-5” nòng súng có chữ “SMITH và WESSON” cùng 10 viên đạn với giá 750.000 đồng, được tài khoản “Cọp con” đồng ý và tiến hành giao cho D từng bộ phận riêng lẻ, rồi chỉ cho D cách lắp ráp thành khẩu súng hoàn chỉnh, việc thanh toán tiền thì thanh toán theo từng lần giao hàng. Khi lắp ráp súng xong D để khẩu súng và đạn vào bịt nilong màu vàng cất giấu bên hong nhà ngụ ấp 1, xã 2, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
Cho đến 18 giờ, ngày 05/4/2022 vì có mâu thuẫn với nhóm Đoàn Văn G ngụ thị trấn 2, huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp, sau khi uống cà phê xong khoảng 21 giờ D về nhà lấy khẩu súng cùng số đạn gắn vào ổ xoay là 06 viên dắt ở thắt lưng và bỏ vào túi quần 04 viên đạn, sau đó D điện thoại cho Huỳnh Văn H, Phan Thanh N, Nguyễn Văn Trung V tập trung tại quán cà phê Nguyệt Q, ở thị trấn 2 để cùng nhau đi đến nhà của G đánh trả thù. Khi đi D mang theo 01 khẩu súng, 01 con dao tự chế, N mang theo 01 tuýp sắt, V và H mỗi người mang theo 01 ná thun. H điều khiển xe mô tô chở D, V điều khiển xe mô tô chở N.
Khi đến nhà G cả nhóm kêu G ra, D dùng tay phải lấy khẩu súng ra, bắn chỉ thiên 01 phát, lúc đó G cầm dao phay lớn chạy từ nhà ra, thấy G thì D nổ liền 02 phát súng chỉ thiên, sau đó dắt súng vào thắt lưng rồi bỏ chạy, G rượt D và đồng bọn của D được khoảng 10m thì bị té ngã, thấy vậy nhóm của D quay trở lại dùng dao và tuýp sắt mang theo đánh chém G cho đến khi G bất tỉnh, gục xuống đất thì cả nhóm mới lên xe chạy về nhà, trên đường về khi đến cầu Đ V thì D đã ném số đạn còn lại xuống sông bỏ đi, còn khẩu súng thì D cất giữ, sau đó D đã bỏ trốn lên Bình Dương, đồng thời xóa V viễn tài khoản Facebook cá nhân và vứt bỏ điện thoại không sử dụng nữa.
Vì biết không thể trốn mãi ngày 07/4/2022 Nguyễn Hữu D đã đến Công an huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp đầu thú và giao nộp 01 khẩu súng ngắn (kểu súng ổ xoay) bằng kim loại màu đen tay cầm bằng nhựa màu xám có chữ “ZP5” nòng súng có chữ “SMITH & WESSON” đồng thời bị cáo đã khai nhận việc tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng.
Khám nghiệm hiện trường Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Đồng Tháp đã thu giữ: 01 võ đạn băng kim loại màu vàng, thân vỏ đạn dài 1,5cm, đường kính vỏ đạn 0,5cm; 01 viên đạn kim loại màu vàng thân vỏ đạn dài 1,5cm, đầu đạn màu đen dài 01cm.
Tại kết luận giám định số 555/KL-KTHS ngày 04/7/2022 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Tháp kết luận: Khẩu súng là súng tự chế, bắn đạn cỡ 5,6mm thuộc vũ khí Quân dụng; Đạn, vỏ đạn cở (5,6mm x 15,5mm) thuộc vũ khí thể thao, sử dụng được cho khẩu súng trên.
Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKSĐT-P1 ngày 02 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp đã truy tố bị cáo Nguyễn Hữu D ra trước Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp để xét xử Nguyễn Hữu D về tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 BLHS. Căn cứ theo Điều 239 Bộ luật tố tụng hình sự, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đã phân công Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử vụ án này theo thẩm quyền.
Tại phiên tòa Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình giữ nguyên nguyên cáo trạng Truy tố của Viện kiểm sát tỉnh Đồng Tháp, vì có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Hữu D đã thực hiện hành vi mua 01 khẩu súng ổ xoay là vũ khí Quân dụng và 10 viên đạn thuộc vũ khí thể thao. Sau khi nhận được linh kiện rời thì D được chỉ dẫn lắp ráp thành một khẩu súng hoàn chỉnh và đem cất giấu ở hong nhà. Đến ngày 05/4/2022 khi có mâu thuẫn với G thì D đã gọi điện thoại cho đồng bọn đến nhà G để đánh trả thù. Tại đây D đã nổ 03 phát súng chỉ thiên, sau đó cất súng vào thắt lưng rồi đem về nhà cất giấu và bỏ trốn khỏi địa phương. Đến ngày 07/4/2022 thì đầu thú và giao nộp khẩu súng ổ xoay và khai báo toàn bộ hành vi Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng như đã nêu trên.
Trên cơ sở phân tích tính chất, mức độ, hậu quả tác hại do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nguyên nhân điều kiện dẫn đến phạm tội và nhân thân của bị cáo. Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Nguyễn Hữu D 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; Về hình phạt bổ sung đề nghị không áp dụng đối với bị cáo; Về xử lý vật chứng cần phải tịch thu toàn bộ khẩu súng và đạn đã thu giữ vì đây là loại Nhà nước độc quyền quản lý.
Riêng hành vi của D và đồng bọn dùng dao và tuýp sắt đánh chém G hiện cơ quan cảnh sát Điều tra Công an tỉnh Đồng Tháp đang tiếp tục điều tra làm rõ xử lý về tội Giết người và tội Gây rối trật tự công cộng theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận bị cáo Nguyễn Hữu D thừa nhận đã phạm tội nên không tranh luận với Kiểm sát viên.
Nói lời sau cùng bị cáo Nguyễn Hữu D đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an tỉnh Đồng Tháp và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Tháp, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Bị cáo Nguyễn Hữu D thừa nhận tháng 02 năm 2022 đã sử dụng tài khoản Facebook cá nhân của mình tên “Nguyễn Hữu D” thì thấy tài khoản Facebook tên “C” (không rõ nhân thân, địa chỉ) đăng bán các loại súng nên D vào xem và nhắn tin qua Messenger hỏi mua 01 khẩu súng ngắn ổ xoay bằng kim loại màu đen tay cầm nhựa màu xám có chữ ZP5, nòng súng có chữ “SMITH và WESSON” cùng 10 viên đạn với giá 750.000 đồng. Sau khi nhận từng bộ phận riêng lẻ và lắp ráp thành khẩu súng hoàn chỉnh, thì D để khẩu súng và đạn vào bịt nilong màu vàng cất giấu bên hong nhà ngụ ấp 1, xã 2, huyện 3. Đến ngày 05/4/20022 vì có mâu thuẫn với Đoàn Văn G ngụ thị trấn 2, nên khoảng 21 giờ, D về nhà lấy khẩu súng cùng số đạn dắt ở thắt lưng rồi điện thoại kêu V, H, N mang hung khí đến nhà G và tại đây D đã bắn 03 phát súng chỉ thiên để thị uy, nhưng bị G cầm dao phay rượt chém và nhóm bị cáo đã bỏ chạy. G rượt được 10m thì té ngã, thấy vậy D và đồng bọn quay lại dùng dao chém, dùng tuýp sắt đánh gục G tại chỗ, rồi cả bọn lên xe về chạy nhà. Lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng là đồng bọn của bị cáo, cũng như tang vật chứng thu giữ được là khẩu súng ô xoay mà bị cáo đã giao nộp, khám nghiệm hiện trường đã thu giữ được các vỏ đạn, đầu đạn phù hợp với kết quả giám định: Khẩu súng là súng tự chế bắn đạn cỡ 5,6mm thuộc vũ khí Quân dụng; Đạn, vỏ đạn cở (5,6mm x 15,5mm) thuộc vũ khí thể thao, sử dụng được cho khẩu súng trên. Vì vậy, lời nhận tội của bị cáo là có căn cứ. Khi thực hiện hành vi bị cáo biết rõ việc mua súng cất giấu để sử dụng là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo đã cố ý thực hiện, cho nên hành vi của bị cáo Nguyễn Hữu D đã có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng” phạm vào khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự.
Tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự có quy định:
1. Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự thì bị phạt tù từ 01 năm đến 07 năm:
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Hữu D là rất nguy hiểm cho xã hội làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự, trị an trên địa bàn huyện Thanh Bình, kỹ cương pháp luật bị xâm hại. Chúng ta biết Nhà nước ta độc quyền quản lý vũ khí quân dụng, nghiêm cấm việc tàng trữ, sử dụng súng dưới mọi hình thức, đe dọa đến tình hình an ninh quốc gia, thế nhưng bị cáo bất chấp tất cả mua súng qua mạng rồi lắp ráp hoàn chỉnh, cất giấu bên hong nhà đến khi xảy ra mâu thuẫn với người khác ngoài xã hội thì bị cáo lấy sử dụng để thị uy làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình chính trị ở địa bàn, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân, gây mất trật tự xã hội ở địa phương. Do đó, việc đưa bị cáo ra xét xử công khai như ngày hôm nay là cần thiết thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm mục đích răng đe giáo dục bị cáo, đồng thời cảnh tỉnh cho những ai xem thường luật pháp.
Tuy nhiên, quá trình xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội bị cáo đã bỏ trốn, nhưng sau đó đã về đầu thú, giao nộp toàn bộ số vũ khí đã tàng trữ và sử dụng, tạo điều kiện cho cơ quan có thẩm quyền nhanh chóng kết thúc điều tra, đây là những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Cho nên HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là có căn cứ.
[4] Về hình phạt bổ sung: Qua các tài liệu thu thập có trong hồ sơ và lời trình bày của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có nghề nghiệp ổn định lao động tự do, không có thu nhập, điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.
[5] Xét lời đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ, đồng thời phù hợp với phân tích, nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận toàn bộ.
[6] Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ: 01 khẩu súng ngắn ổ xoay bằng kim loại màu đen, cán bọc nhựa màu xám có Chữ “ZP5” nòng súng có chữ “SMITH&WESSON”; 02 vỏ đạn bằng kim loại màu vàng, loại đạn cỡ (5,6x15,5)mm. Cần phải tịch thu giao cho Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Đồng Tháp quản lý theo quy định.
[7] Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Hữu D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết 326 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.
Bị cáo được kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu D - phạm tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
- Xử phạt Nguyễn Hữu D – 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ ngày 08/4/2022.
- Về xử lý vật chứng và tài sản thu giữ: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 BLTTHS.
- Tịch thu giao cho Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Đồng Tháp quản lý theo quy định: 01 khẩu súng ngắn ổ xoay bằng kim loại màu đen, cán bọc nhựa màu xám có Chữ “ZP5” nòng súng có chữ “SMITH&WESSON”; 02 vỏ đạn bằng kim loại màu vàng, loại đạn cỡ (5,6x15,5)mm.
(Các vật chứng do Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh Đồng Tháp đang quản lý)
- Án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Hữu D phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày hôm nay tuyên án 30/11/2022.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trương Phước Tự |
Bản án số 44/2022/HS-ST ngày 30/11/2022 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng (hình sự)
- Số bản án: 44/2022/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/11/2022
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu D - phạm tội “Tàng trữ, sử dụng trái phép vũ khí quân dụng”.
