|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH TỈNH CÀ MAU Bản án số: 44/2021/HNGĐ-ST Ngày: 30-3-2021 V/v ly hôn |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI BÌNH, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Trang
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Hồ Quốc Văn
- Ông Trần Phi Hùng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Bảo Trâm là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hữu Kim, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 3 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 489/2020/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 11 năm 2020 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 06/2021/QĐXX-ST ngày 03 tháng 02 năm 2021 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị U, sinh năm 1986 (có yêu cầu xin vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Lê Út L, sinh năm 1982 (vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Ấp NT, xã BBĐ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Tại đơn khởi kiện ngày 05/5/2020 chị Nguyễn Thị U trình bày:
Chị U và anh L tự nguyện chung sống với nhau năm và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã BBĐ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 30/5/2016. Thời gian chung sống, vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, anh L không lo cho gia đình vợ con nên chị U yêu cầu ly hôn với anh L.
Thời gian chung sống, chị U và anh L có 02 con chung tên Lê Hoàng Đ, sinh ngày 05/10/2000 và Lê Hoàng K, sinh ngày 02/5/2016. Hiện nay cháu K do chị U nuôi dạy. Khi ly hôn chị U yêu cầu tiếp tục nuôi dạy cháu K, không yêu cầu anh L cấp dưỡng nuôi con. Đối với cháu Đ đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết.
Tài sản chung và nợ chung: Không có nên chị U không yêu cầu giải quyết.
*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý đến trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án đã tuân thủ đúng theo quy định.
Về nội dung: Chị U và anh L chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn là tuân thủ đúng quy định pháp luật. Do chị U và anh L chung sống không còn hạnh phúc nên cần xử lý cho anh chị được ly hôn; con chung là cháu K hiện chị U nuôi dạy nên cần giao chị U tiếp tục nuôi dạy, anh L không phải cấp dưỡng nuôi con. Cháu Đ đã trưởng thành nên không đề nghị xem xét. Tài sản chung và nợ chung không có yêu cầu nên không đề nghị xem xét. Chị U phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Chị Nguyễn Thị U khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Lê Út L. Do chị U và anh L chung sống có đăng ký kết hôn theo quy định nên đây là tranh chấp hôn nhân và gia đình về việc ly hôn; anh L có địa chỉ tại ấp NT, xã BBĐ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Vì vậy, yêu cầu khởi kiện của chị U thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án có tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho anh L nhưng anh không có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu của chị U và vắng mặt tại các lần xét xử không có lý do. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh L theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị U và anh Lê Út L tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã BBĐ, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau vào ngày 30/5/2016. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa anh chị đã tuân thủ về điều kiện đăng ký kết hôn tại Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 8, 9 của luật hôn nhân và gia đình nên được pháp luật thừa nhận là vợ chồng. Quá trình thụ lý giải quyết vụ án, chị U yêu cầu ly hôn với anh L. Xét thấy, yêu cầu của chị U là có cơ sở. Bởi vì, thời gian chung sống anh chị có phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cự cãi nhau nên không thể tiếp tục chung sống với nhau là phù hợp theo biên bản ghi lời khai của người làm chứng. Mặt khác, Tòa án có tổ chức hòa giải để anh chị có điều kiện gặp nhau thỏa thuận thỏa thuận đoàn tụ gia đình nhưng không có kết quả do anh L vắng mặt tại các lần hòa giải, xét xử không có lý do. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử lý cho chị Nguyễn Thị U và anh Lê Út L được ly hôn.
[4] Về con chung: Thời gian chung sống, anh chị có 02 con chung tên Lê Hoàng Đ, sinh ngày 05/10/2000 (giới tính nam) và Lê Hoàng K, sinh ngày 02/5/2016 (giới tính nam). Xét thấy, tại đơn khởi kiện chị U yêu cầu tiếp tục nuôi dạy cháu K là có căn cứ. Bởi vì, cháu K hiện chị U nuôi dạy, việc hoán đổi nuôi con sẽ làm ảnh hưởng đến tình cảm của cháu. Hơn nữa, quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án có thông báo cho anh L biết yêu cầu của chị U nhưng anh L không có ý kiến bằng văn bản đối với yêu cầu của chị U. Vì vậy cần tiếp tục giao cháu K cho chị U nuôi dạy là phù hợp theo quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình. Đối với cháu Đ đã trưởng thành nên theo ai người đó nuôi dạy chị U không yêu cầu giải quyết là phù hợp.
Đối với việc cấp dưỡng nuôi con: Chị U không có yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét.
[5] Về tài sản chung, nợ chung: Tại đơn khởi kiện, chị U xác định thời gian chung sống anh chị không có tài sản chung, nợ chung không có nên chị không yêu cầu giải quyết, vì vậy Hội đồng xét xử không xét.
[6] Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị U phải chịu án phí – Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng các điều 56, 81, 82, 83 của luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Xét xử vắng mặt đối với chị Nguyễn Thị U và anh Lê Út L.
- Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị U và anh Lê Út L được ly hôn.
- Về con chung: Giao con chung tên Lê Hoàng K, sinh ngày 02/5/2016 (giới tính nam) cho chị Nguyễn Thị U tiếp tục nuôi dạy. Anh L không phải cấp dưỡng nuôi cháu K. Anh L không trực tiếp nuôi dạy cháu K nhưng anh có quyền, nghĩa vụ thăm nom mà không ai được quyền cản trở.
- Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị U phải nộp 300.000 đ (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 16 tháng 11 năm 2020 chị U có dự nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0011318 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau nay được chuyển thu án phí.
- Về quyền kháng cáo, kháng nghị: Chị U có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng anh L vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết công khai bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Kiều Trang |
Bản án số 44/2021/HNGĐ-ST ngày 30/03/2021 của Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau về ly hôn
- Số bản án: 44/2021/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/03/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị U và anh L ly hôn
