|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI Bản án số: 44/2021/DS-PT Ngày: 25/11/2021 “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Dũng
Các Thẩm phán:
- Bà Trịnh Thị Thu Lan
- Ông Võ Minh Tiến
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Dũng - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thu Thủy - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 19 và 25/11/2021, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 15/2021/TLPT-DS ngày 15 tháng 4 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 35/2020/DS-ST ngày 30/9/2020 của Tòa án nhân dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 69/2021/QĐ-PT ngày 14/6/2021; Thông báo về thời gian mở phiên tòa xét xử vụ án số 497/TB-TA ngày 26/7/2021; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 99/2021/QĐ-PT, ngày 25/8/2021; Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 124/2021/QĐ-PT, ngày 22/9/2021 và Thông báo về thời gian mở phiên tòa xét xử vụ án số 706/TB-TA, ngày 22/10/2021, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng V; địa chỉ: 198 Trần Quang Khải, phường L, quận K, thành phố H.
Người đại diện theo pháp luật: Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng V.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Võ Văn L - Giám đốc Ngân hàng V, Chi nhánh Quảng Ngãi, theo giấy ủy quyền số 325/UQ-VCB.PC, ngày 01/11/2019 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng V.
Người được ủy quyền lại: Ông Tôn Long Th – chức vụ: Phó phòng khách hàng bán lẻ Ngân hàng V - Chi nhánh Quảng Ngãi, theo giấy ủy quyền số 192/UQ.NHNT.QNg, ngày 03/8/2020.
2. Bị đơn:
2.1. Ông Ao Xuân T, sinh năm 1971
2.2. Bà Nguyễn Thị Tr, sinh năm 1970
Cùng địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông Ao Xuân T, bà Nguyễn Thị Tr: Ông Lê Minh T1, sinh năm 1974; là luật sư của Công ty Luật Lê Minh Toàn, thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hà Nội; địa chỉ liên hệ: Khu Villas 1-2, Tổ hợp Hyundai Hillstate Hà Nội (cổng C), đường Tô Hiệu, phường Hà Cầu, quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1. Anh Ao Xuân V, sinh năm 1991
3.2. Anh Ao Xuân T1, sinh năm 1993
3.3. Anh Ao Xuân T2, sinh năm 1997
3.4. Anh Ao Xuân P, sinh năm 2005
Người đại diện hợp pháp của anh Phát: là ông Ao Xuân T, bà Nguyễn Thị Tr (là cha mẹ đẻ của anh Phát).
Cùng địa chỉ: Thôn P, xã H, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi.
4. Người kháng cáo: Bị đơn ông Ao Xuân T, bà Nguyễn Thị Tr.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ghi ngày 08/8/2018, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng V (sau đây viết tắt là Ngân hàng V) trình bày:
Giữa vợ chồng ông Ao Xuân T, bà Nguyễn Thị Tr và Ngân hàng V - chi nhánh Quảng Ngãi có ký kết Hợp đồng tín dụng số 5018/16/KHBL.QNg-NĐ67 ngày 28/10/2016 và hợp đồng tín dụng sửa đổi số: 5018.01/KHBL.QNg-NĐ67 ngày 16/02/2017 để vay vốn như sau: Số tiền vay 6.800.000.000 đồng; mục đích vay: Đóng mới tàu cá vỏ gỗ lưới rê theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP ngày 07/7/2014 của Chính phủ về một số chính sách phát triển thủy sản (sau đây gọi tắt là Nghị định 67) và Nghị định 89/2015/NĐ-CP ngày 07/10/2015 sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị định 67/2014/NĐ-CP (sau đây gọi tắt là Nghị định 89); thời hạn cho vay 132 tháng kể từ ngày rút vốn đầu tiên; thời gian ân hạn nợ gốc 12 tháng kể từ ngày rút vốn đầu tiên; thời hạn rút vốn 12 tháng kể từ ngày ký Hợp Đồng tín dụng; lãi suất cho vay trong hạn 7%/năm, theo quy định tại Nghị định 67, Nghị định 89 và các văn bản hướng dẫn chỉ đạo của các cơ quan quản lý Nhà nước, điều chỉnh theo thông báo của Ngân hàng. Trong đó: Lãi suất cho vay khách hàng thực trả 3%/năm, lãi suất cho vay được Ngân sách Nhà nước cấp bù năm đầu tiên (12 tháng) kể từ ngày rút vốn vay đầu tiên 7%/năm, khách hàng được miễn lãi, từ năm thứ 02 trở đi mức lãi suất cấp bù là chênh lệch giữa lãi suất cho vay trong hạn và lãi suất khách hàng thực trả là 3%/năm; lãi suất nợ quá hạn 150% lãi suất cho vay trong hạn.
Hỗ trợ, cấp bù lãi suất: Thời hạn cấp bù lãi suất được thực hiện theo thời gian vay thực tế của khách hàng nhưng không quá mười một (11) năm kể từ ngày rút vốn đầu tiên của Hợp đồng này và chỉ áp dụng đối với các khoản vay trả nợ trước hoặc đúng hạn tại thời điểm cấp bù lãi suất, bao gồm cả các khoản vay được gia hạn nợ theo quy định tại khoản 2 Điều 4 Nghị định số 67/2014/NĐ-CP; không thực hiện cấp bù lãi suất đối với các khoản vay (gốc và lãi) quá hạn tính từ thời điểm quá hạn; trong thời gian được hỗ trợ, cấp bù lãi suất, Ngân hàng phát hiện khách hàng sử dụng vốn vay không đúng mục đích thì khách hàng không được hỗ trợ, cấp bù lãi suất và phải hoàn trả cho Ngân hàng số tiền lãi vay được hỗ trợ trước đó; trong thời gian được hỗ trợ, cấp bù lãi suất, khách hàng phát sinh nợ quá hạn không phải do nguyên nhân khách quan, bất khả kháng, khách hàng không được hỗ trợ, cấp bù lãi suất và phải hoàn trả cho Ngân hàng số tiền lãi vay được hỗ trợ trước đó. Theo quy định tại Điểm b, Khoản 2, Điều 3 Thông tư số 114/2014/TT-BTC ngày 20/8/2014 của Bộ Tài Chính hướng dẫn cấp bù lãi suất do thực hiện chính sách tín dụng theo Nghị định 67 và Nghị định 89, nguyên nhân khách quan, bất khả kháng bao gồm: tàu bị thiên tai trên biển; tàu bị nước ngoài bắt giữ sau đó trả lại; bị tàu nước ngoài hoặc tàu hải tặc đâm va. Trong mọi trường hợp, việc cấp bù lãi suất và tính toán giảm trừ lãi suất phải tuân thủ quy định tại Nghị định số 67, Nghị định 89 của Chính phủ, Thông tư số 22/2014/TT-NHNN ngày 15/8/2014, Thông tư số 21/2015/TT-NHNN ngày 16/11/2015 của Ngân hàng Nhà nước và Thông tư số 114/2014/TT-BTC ngày 20/8/2014 của Bộ Tài Chính về chính sách phát triển thủy sản. Trường hợp Nhà nước có sự thay đổi về chính sách liên quan đến cấp bù lãi suất, thì việc cấp bù lãi suất sẽ được điều chỉnh phù hợp với hướng dẫn và quy định của cơ quan quản lý Nhà nước; trong trường hợp vì bất cứ lý do gì mà khoản cấp bù lãi suất áp dụng cho khách hàng không được Bộ Tài chính thanh toán thì khách hàng phải hoàn trả cho Ngân hàng số tiền lãi vay được hỗ trợ trước đó; đối với các trường hợp khách hàng phải hoàn trả cho Ngân hàng số tiền lãi vay được hỗ trợ trước đó, Ngân hàng được quyền tự động trích tài khoản các loại của khách hàng để thu lại số tiền lãi đã hỗ trợ. Ngân hàng sẽ thông báo cụ thể bằng văn bản cho khách hàng.
Trả nợ gốc: Định kỳ 03 tháng/lần; trả nợ lãi vay: Khách hàng trả lãi vay 01 tháng 01 lần trong thời hạn trả lãi vay được thỏa thuận như sau: Thời hạn trả lãi vay: 07 ngày kể từ ngày tính lãi vay. Trường hợp ngày đầu tiên của thời hạn trả lãi là ngày nghỉ cuối tuần hoặc ngày nghỉ lễ thì ngày đầu tiên của thời hạn trả lãi là ngày làm việc tiếp theo ngày nghỉ đó, ngày tính lãi vay được các bên thỏa thuận là ngày 25 hằng tháng. Trường hợp ngày đầu tiên của thời hạn trả lãi là ngày nghỉ cuối tuần hoặc ngày nghỉ lễ thì ngày tính lãi vay là ngày liền trước ngày đầu tiên của thời hạn trả lãi.
Ngân hàng V đã giải ngân cho ông T, bà Tr vay để thanh toán các chi phí đóng tàu cá, thể hiện tại các giấy nhận nợ với tổng cộng 6.800.000.000 đồng.
Để bảo đảm cho khoản vay nêu trên, vợ chồng ông Ao Xuân T, bà Nguyễn Thị Tr đã thế chấp cho Ngân hàng V các tài sản gồm:
- Tàu cá có số đăng ký QNg-90599-TS; Kiểu máy: Mitsubishi; Số máy: 69551; Công suất máy: 823 CV; Nơi sản xuất máy: Nhật; Kích thước: 22m x 6.8m x 3m; Vật liệu: Gỗ; Năm và nơi đóng: 2017, Quảng Nam; Ngư lưới cụ: 350 tấm lưới rê thành phẩm. Giấy tờ sở hữu: Giấy chứng nhận đăng ký tàu cá số 48/17 do Chi cục thủy sản tỉnh Quảng Ngãi cấp ngày 18/01/2017.
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thửa đất số 37, tờ bản đồ số 77, xã Bình Hải, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX 460960, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH05846, do Ủy ban nhân dân huyện Bình Sơn cấp ngày 31/12/2014 cho hộ ông Ao Xuân T, bà Nguyễn Thị Tr.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng vay, vợ chồng ông Ao Xuân T, bà Nguyễn Thị Tr đã không thực hiện trả nợ vay đầy đủ cho Ngân hàng, nên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số nợ vay còn lại sang nợ quá hạn.
Tính đến hết ngày 29/9/2020, vợ chồng ông Ao Xuân T, bà Nguyễn Thị Tr còn nợ Ngân hàng V tiền gốc 5.969.900.000 đồng, nợ lãi trong hạn 1.117.428.978 đồng, nợ lãi quá hạn 63.012.212 đồng, tổng cộng là 7.150.341.190 đồng.
Nay Ngân hàng V yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông Ao Xuân T, bà Nguyễn Thị Tr trả nợ cho Ngân hàng các khoản nợ gốc, lãi và hoàn trả lại phần lãi suất đã được Ngân sách nhà nước cấp bù với số tiền 543.504.610 đồng. Tổng cộng các khoản là 7.683.845.799 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của ông T, bà Tr là hợp lệ.
[2] Về nội dung: Sau khi xem xét, đánh giá các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[2.2] Tòa án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng V buộc ông T, bà Tr phải trả cho Ngân hàng V số tiền lãi đã được cấp bù là đúng nhưng lại buộc bị đơn phải trả toàn bộ số tiền 543.504.610 đồng, kể cả số tiền ông T, bà Tr được miễn lãi năm đầu tiên của thời hạn vay là 427.725.721 đồng là không đúng. Do đó, chỉ có căn cứ buộc ông T, bà Tr phải trả số tiền cấp bù lãi suất từ năm thứ 2 trở đi với số tiền 115.778.889 đồng.
[2.3] Đối với nội dung kháng cáo về việc gặp thiên tai, rủi ro trên biển: Đối chiếu với quy định tại Nghị định 67 và các Thông tư hướng dẫn, trường hợp rủi ro mất lưới như ông T, bà Tr trình bày không phải là nguyên nhân khách quan, bất khả kháng được hưởng cơ chế xử lý rủi ro.
[2.4] Về việc thế chấp quyền sử dụng đất: Việc giữa hộ gia đình ông T, bà Tr và Ngân hàng V ký hợp đồng thế chấp để thế chấp tài sản là nhà đất bảo đảm cho khoản vay là sự thỏa thuận tự nguyện giữa hai bên, hợp đồng đã được công chứng, chứng thực đúng quy định pháp luật.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật tố tụng dân sự, tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng V.
- Buộc ông Ao Xuân T, bà Nguyễn Thị Tr có nghĩa vụ trả nợ vay cho Ngân hàng V tổng số tiền (tạm tính đến hết ngày 29/9/2020) là 7.150.341.190 đồng.
- Buộc ông Ao Xuân T, bà Nguyễn Thị Tr phải hoàn trả cho Ngân hàng V phần lãi suất đã được Ngân sách nhà nước cấp bù với số tiền 115.778.889 đồng.
2. Không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng V đối với yêu cầu buộc ông Ao Xuân T, bà Nguyễn Thị Tr phải hoàn trả cho Ngân hàng V số tiền lãi trong năm đầu tiên là 427.725.721 đồng.
3. Kể từ ngày 30/9/2020, ông Ao Xuân T, bà Nguyễn Thị Tr phải tiếp tục trả lãi trên số dư nợ gốc theo lãi suất đã thỏa thuận.
4. Trường hợp ông T, bà Tr không trả hoặc trả không đủ các khoản nợ thì Ngân hàng V có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ.
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - TAND huyện Bình Sơn; - Chi cục THADS huyện Bình Sơn; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, Tòa Dân sự. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Dũng |
Bản án số 44/2021/DS-PT ngày 25/11/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp
- Số bản án: 44/2021/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2021
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ngãi
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng V yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông Ao Xuân T, bà Nguyễn Thị Tr trả nợ cho Ngân hàng các khoản, cụ thể như sau: Nợ gốc 5.969.900.000 đồng, nợ lãi trong hạn 1.117.428.978 đồng, lãi quá hạn 63.012.212 đồng (nợ lãi tạm tính đến hết ngày 29/9/2020); đồng thời hoàn trả lại cho Ngân hàng V toàn bộ phần lãi suất đã được Ngân sách nhà nước cấp bù với số tiền 543.504.610 đồng. Tổng cộng các khoản là 7.683.845.799đồng; yêu cầu xử lý tài sản thế chấp.
