|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG TỈNH CAO BẰNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 43a/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 15/4/2024
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Hoài Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lưu Danh Thùy
2. Ông Đoàn Văn Hộ
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hà Trưng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng: Bà Vũ Thị Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 03/2024/TLST- HNGĐ ngày 19 tháng 01 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 29 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Đào Thị H - sinh năm 1979; Nơi ĐKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố D, M, phường T, thị xã S, thành phố Hà Nội; Vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Nguyễn Chí H1 - sinh năm 1978; Nơi ĐKTT và chỗ ở hiện nay: Bộ Chỉ huy Biên phòng tỉnh C, tổ A, phường N, thành phố C, tỉnh Cao Bằng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Đào Thị H trình bày:
Bà và ông Nguyễn Chí H1 đăng ký kết hôn ngày 24/10/2003 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có được tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới tại hai bên gia đình.
Về quá trình chung sống: Sau khi cưới, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến năm 2006 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, tính tình không hợp, không tìm được tiếng nói chung trong cuộc sống. Nay bà H xác nhận vợ chồng không còn tình cảm nên yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Nguyễn Chí H1.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 03 con chung là Nguyễn Thúy H2 (Giới tính: Nữ, sinh ngày 17/8/2004), Nguyễn Mai P (Giới tính: Nữ, sinh ngày 19/12/2012) và Nguyễn Chí D (Giới tính: Nam, sinh ngày 07/10/2014).
Sau khi ly hôn, bà H yêu cầu được là người trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục cả 02 con Nguyễn Mai P (Giới tính: Nữ, sinh ngày 19/12/2012) và Nguyễn Chí D (Giới tính: Nam, sinh ngày 07/10/2014) đến khi các con chung thành niên. Còn cháu Nguyễn Thúy H2 (Giới tính: Nữ, sinh ngày 17/8/2004) đã đủ tuổi trưởng thành nên không yêu cầu xem xét giải quyết.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà H yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Chí D (Giới tính: Nam, sinh ngày 07/10/2014) 1.800.000đ/01 tháng cho đến khi con chung thành niên. Không yêu cầu cấp dưỡng đối với cháu Nguyễn Mai P (Giới tính: Nữ, sinh ngày 19/12/2012).
Về tài sản chung, nợ chung: Bà xác nhận quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn ông Nguyễn Chí H1 trình bày:
Về quan hệ hôn nhân, ông xác nhận ông và bà H có quan hệ vợ chồng như bà H trình bày. Sau khi kết hôn vợ chồng ông sinh sống tại tổ dân phố D, M, phường T, thị xã S, thành phố Hà Nội.
Về thời gian phát sinh mâu thuẫn: Theo ông H1 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn từ tháng 01 năm 2023. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn như bất đồng quan điểm sống. Vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 01 năm 2023 đến nay. Nay ông cũng xác định không thể tiếp tục chung sống nên nhất trí ly hôn.
Về con chung: Ông xác nhận vợ chồng có 03 con chung như bà H trình bày. Ông nhất trí giao 02 con chung là cháu Nguyễn Mai P (Giới tính: Nữ, sinh ngày 19/12/2012) và Nguyễn Chí D (Giới tính: Nam, sinh ngày 07/10/2014) cho bà H là người trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục đến khi các con chung thành niên.
Về cấp dưỡng nuôi con: Ông nhất trí cấp dưỡng nuôi con theo yêu cầu của bà H.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông H1 xác nhận quá trình chung sống, vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại văn bản ý kiến ngày 16/3/2024, ông Nguyễn Văn D1 – Tổ trưởng tổ dân phố D M cho biết: Bà Đào Thị H và ông Nguyễn Chí H1 có quan hệ vợ chồng được thể hiện tại giấy đăng ký kết hôn ngày 24/10/2003 đăng ký tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình.
Trong quá trình chung sống hàng xóm và chính quyền tổ dân phố chưa thấy vợ chồng ông H1 và bà H xảy ra mâu thuẫn gì vì ông H1 là bộ đội đóng quân ở xa ít về. Trước đây khi ông H1 về quê cũng không thấy mâu thuẫn cãi nhau giữa hai vợ chồng, còn lâu nay không thấy ông H1 về quê.
Các con của ông H1 và bà H đang ở với bà H, được bà H nuôi dưỡng, chăm sóc.
Tại Bản tự khai đề ngày 02/02/2024, cháu Nguyễn Mai P và cháu Nguyễn Chí D đều có ý kiến như sau: Trường hợp bố mẹ ly hôn, cháu có nguyện vọng sống cùng mẹ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng tham gia tố tụng tại phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng theo quy định của pháp luật, việc chấp hành pháp luật của đương sự kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án không có sai phạm.
Quan điểm của việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Đào Thị H. Về con chung: giao 02 con chung cho bà Đào Thị H là người trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục cả 02 con chung đến khi các con chung thành niên, ông Nguyễn Chí H1 có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Chí D (Giới tính: Nam, sinh ngày 07/10/2014) 1.800.000đ/01 tháng cho đến khi con chung thành niên. Không yêu cầu cấp dưỡng đối với cháu Nguyễn Mai P (Giới tính: Nữ, sinh ngày 19/12/2012).
Về tài sản chung, nợ chung: Các bên đương sự xác nhận không có, không yêu cầu nên không xem xét.
Các bên đương sự phải chịu án phí dân sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và sau khi nghe đương sự trình bày tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Quan hệ pháp luật có tranh chấp trong vụ án là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.
Quá trình giải quyết vụ án, bà Đào Thị H có đơn xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà H.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Bà Đào Thị H và ông Nguyễn Chí H1 đăng ký kết hôn ngày 24/10/2003 tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện L, tỉnh Hòa Bình. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có được tìm hiểu, có tổ chức lễ cưới tại hai bên gia đình. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông H1 là hôn nhân hợp pháp theo quy định tại các Điều 8, 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Sau khi kết hôn, bà H và ông H1 chung sống hòa thuận, hạnh phúc, theo bà H đến năm 2006 thì phát sinh mâu thuẫn, còn theo ông H1 đến năm 2023 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung. Nay bà H xác nhận tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu ly hôn ông H1. Ông H1 cũng cho rằng không thể tiếp tục chung sống với bà H nên nhất trí ly hôn.
Xét thấy quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông H1 chỉ tồn tại trên danh nghĩa, tình cảm yêu thương quan tâm chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau đã không còn, mâu thuẫn đã đến mức độ trầm trọng nên cần cho ly hôn theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình 2014.
[2.2] Về con chung: Hai bên đương sự xác nhận quá trình chung sống vợ chồng có 03 con chung là Nguyễn Thúy H2 (Giới tính: Nữ, sinh ngày 17/8/2004), Nguyễn Mai P (Giới tính: Nữ, sinh ngày 19/12/2012) và Nguyễn Chí D (Giới tính: Nam, sinh ngày 07/10/2014).
Quá trình giải quyết vụ án các bên đương sự đều nhất trí giao cả 02 con chung Nguyễn Mai P (Giới tính: Nữ, sinh ngày 19/12/2012) và Nguyễn Chí D (Giới tính: Nam, sinh ngày 07/10/2014) cho cho bà H là người trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục đến khi các con chung thành niên. Còn cháu Nguyễn Thúy H2 (Giới tính: Nữ, sinh ngày 17/8/2004) đã đủ tuổi trưởng thành nên không yêu cầu xem xét giải quyết.
Về cấp dưỡng nuôi con chung: Bà H yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Chí D (Giới tính: Nam, sinh ngày 07/10/2014) với mức 1.800.000đ/01 tháng cho đến khi cháu Dương thành n. Không yêu cầu cấp dưỡng đối với cháu Nguyễn Mai P (Giới tính: Nữ, sinh ngày 19/12/2012). Ông H1 cũng nhất trí với yêu cầu của bà H.
Xét thấy ý kiến của các bên đương sự về con chung hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với nguyện vọng của con chung, bà H có đủ điều kiện để nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục cả 02 con chung nên cần ghi nhận.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Quá trình giải quyết vụ án các bên đương sự đều xác nhận quá trình chung sống không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà H là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Ông H1 là người có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên phải chịu án phí cấp dưỡng.
[4] Về quyền kháng cáo: Các bên đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 8, Điều 9, Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 228, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đào Thị H. Xử cho bà Đào Thị H được ly hôn ông Nguyễn Chí H1.
- Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Nguyễn Mai P (Giới tính: Nữ, sinh ngày 19/12/2012) và cháu Nguyễn Chí D (Giới tính: Nam, sinh ngày 07/10/2014) cho bà Đào Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, trông nom, chăm sóc, giáo dục đến khi các con chung thành niên.
Cháu Nguyễn Thúy H2 (Giới tính: Nữ, sinh ngày 17/8/2004) đã đủ tuổi trưởng thành nên không đặt ra vấn đề xem xét giải quyết.
- Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ông Nguyễn Chí H1 có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Chí D (Giới tính: Nam, sinh ngày 07/10/2014) với mức 1.800.000đ/tháng (một triệu tám trăm nghìn đồng một tháng) cho đến khi cháu Nguyễn Chí D thành niên. Cấp dưỡng theo tháng, thời gian cấp dưỡng bắt đầu từ tháng 05 năm 2024.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà Đào Thị H về việc không yêu cầu ông Nguyễn Chí H1 cấp dưỡng nuôi cháu Nguyễn Mai P (Giới tính: Nữ, sinh ngày 19/12/2012).
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
- Về tài sản chung, nợ chung: các bên đương sự đều xác nhận quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung, không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đào Thị H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm để sung công quỹ nhà nước. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà H đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000917 ngày 19/01/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng. Xác nhận bà H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Nguyễn Chí H1 phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm để sung công quỹ nhà nước.
- Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm. Bị đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nguyên đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Hoài Phương |
Bản án số 43a/2024/HNGĐ-ST ngày 15/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 43a/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/04/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG, TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xin ly hôn Đào Thị H - Nguyễn Chí H
