Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NAM

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 43A/2024/HS-ST

Ngày 06/5/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ toạ phiên toà: Bà Giáp Thị Loan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tiến Chỉnh

Bà Nguyễn Thị Yến

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà:

Bà Nguyễn Thị Lệ Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 06/5/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 28/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn C, sinh năm 1988. Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; nơi cư trú: thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: tày; tôn giáo: không; nghề nghiệp: lái xe; trình độ học vấn: lớp 12/12; bố đẻ: Nguyễn Văn H, sinh năm 1967 (đã chết); mẹ đẻ: Chu Thị T, sinh năm 1968; gia đình bị cáo có 03 anh em, bản thân là con thứ 02 trong gia đình; Vợ: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1987; Con: Có 03 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2021.

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn "Cấm đi khỏi nơi cư trú". Hiện bị cáo đang tại ngoại (Có mặt).

* Bị hại: Chị Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1995 (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

HKTT: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Dương Văn T1, sinh năm 1982 (vắng mặt)

Địa chỉ: TDP Đ, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

* Người làm chứng:

- Anh Nguyễn Đình T2, sinh năm 1983 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Chị Nguyễn Thị H2, sinh năm 1989 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Anh Nguyễn Anh T3, sinh năm 1987 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn C có giấy phép lái xe ô tô hạng A1, FC, số [...], do Sở Giao thông vận tải tỉnh B cấp ngày 17/4/2022. C làm nghề lái xe, được ông Dương Văn T1 thuê C lái xe kể từ ngày 01/10/2022 và giao xe ô tô đầu kéo biển số 98H- 031.23 kéo theo rơ moóc biển số 98R - 026.72. Ngày 18/9/2023, C được ông T1 giao nhiệm vụ điều khiển xe ô tô đầu kéo và rơ moóc biển số nêu trên đi chở vật liệu xây dựng (đá trộn bê tông) từ tỉnh Lạng Sơn được 02 chuyến về đổ tại trạm trộn bê tông tại xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

Khoảng 17 giờ 30 phút cùng ngày, C tiếp tục điều khiển ô tô đầu kéo, kéo theo rơ moóc nêu trên lưu thông trên Tỉnh lộ 295 thuộc địa phận thôn H, xã T, huyện L mục đích đến Quốc lộ C huyện L, rồi đi Quốc lộ A để đến tỉnh Lạng Sơn để chở đá. Cương quan sát thấy phía trước (cách phương tiện do C điều khiển khoảng 03m) có 01 xe ô tô con màu trắng đi cùng chiều (không nhớ biển số, không biết người điều khiển) đang vượt qua xe mô tô biển số 98F1- 226.63 do 01 người phụ nữ điều khiển đi trước cùng chiều sát lề đường bên phải (xác định là chị Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1995, trú tại thôn H, xã T, huyện L có giấy phép lái xe hạng A1). Thấy xe ô tô con màu trắng đi phía trước đã vượt qua xe mô tô của chị M, C đánh lái sang bên trái mục đích cho xe ô tô vượt xe mô tô do chị M điều khiển, khi đang vượt C nghe thấy tiếng động phía bên phải thân xe ô tô và quan sát gương chiếu hậu thấy khu vực ba hàng bánh phía bên phải thân xe rơ moóc va chạm với xe mô tô của chị M, làm xe mô tô và chị M ngã ra đường, ngay lập tức C sử dụng phanh giảm tốc độ và dừng đỗ xe sát mép phải đường, xe ô tô sau khi dừng cách vị trí xe mô tô đổ khoảng 10m thì C xuống xe thấy chị M bị thương, sau đó được người dân đưa đi cấp cứu, còn C ở lại hiện trường chờ Cơ quan có thẩm quyền đến giải quyết.

Quá trình làm việc, Cơ quan CSĐT Công an huyện L tiến hành kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở của C, kết quả là 0,000 mg/l và kiểm tra việc sử dụng chất ma túy trong cơ thể C, kết quả C âm tính với ma túy.

* Kết quả khám nghiệm hiện trường:

Hiện trường xảy ra vụ tai nạn tại Tỉnh lộ 295 thuộc địa phận thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Đoạn đường cong, mặt đường trải nhựa phẳng rộng 6,7m. Lề đất bên trái rộng 0,9m; rãnh thoát nước bên phải rộng 0,2m; tiếp là mặt bê tông nắp rãnh thoát nước rộng 0,9m. Đoạn đường xảy ra vụ việc tại Tỉnh lộ 295 giao nhau với đường bê tông dân sinh hướng đi đình và chùa T4, xã T vị trí đường giao nhau rộng 6,4m.

Vị trí, ký hiệu, dấu vết, phương tiện:

  • 01 (một) dấu vết trượt xước mặt đường, ký hiệu (1);
  • 01 (một) xe mô tô biển số 98F1-226.63, ký hiệu (2);
  • 01 (một) xe đầu kéo biển số 98H-031.23 kéo theo rơ moóc biển số 98R-026.72, ký hiệu (3).

Đặc điểm các dấu vết, phương tiện:

- Vết trượt xước mặt đường (1) dạng chùm, không liên tục. Đầu vết phía Đồi Ngô, cuối vết phía Tam Dị. Điểm đầu cách mép chuẩn 0,34m, cách mốc chuẩn 8,2m về phía Đồi Ngô. Điểm cuối trên bờ vỉa phải đường trùng với đầu tay phanh bên trái xe mô tô biển số 98F1- 226.63, cách mép chuẩn 0,35m.

- Xe mô tô biển số 98F- 226.63 (2) đổ nghiêng trái trên mặt đường, mặt nắp bê tông rãnh thoát nước. Đầu xe hướng Đồi Ngô, đuôi xe chếch chéo tim đường hướng Tam Dị. Trục bánh trước trên mặt nắp bê tông rãnh thoát nước cách mép chuẩn 0,7m. Trục bánh sau trên mặt đường cách mép chuẩn 0,54m, cách điểm đầu (1) 4,64m về phía Tam Dị, cách mốc chuẩn 7,05m về phía T, chân chống giữa xe đang ở trạng thái đóng.

- Xe đầu kéo biển số 98H- 031.23 kéo theo rơ moóc biển số 98R- 026.72 (3) đỗ trên mặt đường. Đầu xe hướng T, đuôi xe hướng Đồi Ngô. Mặt lăn lốp bánh xe thứ nhất bên phải trùng với mép chuẩn, la zăng (mặt ngoài) trên dải bê tông sát mép chuẩn, cách mép chuẩn 0,1m. Mặt lăn lốp trục bánh xe thứ 06 bên phải trùng với mép chuẩn, trục bánh cách mép chuẩn 0,1m, cách trục bánh sau xe (2) 41,9m về phía Tam Dị.

- Tại vị trí bên cạnh mặt nắp rãnh thoát nước bên phải đường cách điểm đầu (1) 4,2m về phía Đồi Ngô có biển cảnh báo nguy hiểm w207b “giao nhau với đường không ưu tiên”.

Quá trình khám nghiệm hiện trường Cơ quan CSĐT Công an huyện L tạm giữ: 01 xe ô tô biển số 98H-031.23 kéo theo rơ moóc biển số 98R -026.72; 01 xe mô tô biển số 98F1-226.63 nhãn hiệu Honda SH Mode; 01 Giấy phép lái xe hạng A1, FC, số: [...] mang tên Nguyễn Văn C.

* Kết quả khám phương tiện:

- Khám xe ô tô đầu kéo biển số 98H-031.23, kéo rơmi rơmoóc biển số 98R-026.72 theo hướng từ trước về sau, từ trái sang phải, từ trên xuống dưới phát hiện: 06 đầu ốc trục bánh xe thứ nhất bên phải có vết mất bụi, mài sát kim loại kích thước lần lượt là (3,5 x 2)cm; (3 x 1)cm; (3 x 1)cm; (3 x 1)cm; (2 x 0,5)cm: (3 x 1)cm theo hướng cùng chiều kim đồng hồ. Mặt ngoài bình chứa dầu bên phải có vết mất bụi, mài sát sơn kim loại trên diện (61 x2,5cm). Vết thứ nhất bám dính chất màu đen nghi cao su kích thước (11 x3,5)cm, vết thứ hai mất bụi kích thước (24 x 10)cm, vết thứ ba mất bụi kích thước (10 x 4)cm. mặt ngoài lốp bánh ngoài bên phải trục bánh thứ hai có vết mài sát cao su trên diện (88 x 14)cm. Vết thứ nhất kích thước (21 x 11)cm, tâm vết tại vị trí chữ “E” của dòng chữ “TRIANGLE”. Vết thứ hai kích thước (2,5 x 8)cm, tâm vết cách chữ “E” của dòng chữ “TRIANGLE” là 29cm. Vết thứ ba kích thước (10 x 3)cm, tâm vết cách chữ “E” của dòng chữ “TRIANGLE” là 40cm. Vết thứ tư kích thước (37 x 11)cm, tâm vết cách chữ “E” của dòng chữ “TRIANGLE” là 65cm. Mặt ngoài lốp bánh ngoài bên phải trục bánh thứ ba có vết mài sát cao su trên diện kích thước (38 x 22)cm, điểm gần nhất cách chữ “A” trong dòng chữ “AEOLUS” là 16cm. Mặt ngoài lốp bánh ngoài bên phải, trục bánh thứ tư có vết mài sát cao su trên diện kích thước (35 x 15)cm, điểm gần nhất cách số “3” trên dòng chữ “SR163” là 20cm, đầu trục tương ứng có vết mất bụi kích thước (12 x12)cm. Mặt ngoài đầu trục bánh thứ năm, bánh ngoài bên phải có vết mất bụi kích thước (11 x 6,5)cm. Các vết mài sát cao su ở vị trí mặt ngoài lốp bánh ngoài bên phải trục bánh thứ hai đều có chiều hướng từ ngoài vào trong (tâm lốp).

- Khám xe xe mô tô SH mode màu sơn trắng nâu biển số 98F1-226.63 theo hướng từ trước về sau, từ trái sang phải, từ trên xuống dưới phát hiện: Gẫy hai cần gương chiếu hậu hai bên. Mặt trên lắp tay lái trước có vết mài sát sơn nhựa, bám dính tạp chất nghi đất, kích thước (11,5 x 4,5)cm, mặt trước bên trái nắp tay lái bên trái phía trước có vết mài sát sơn nhựa, kích thước (6,5 x 1,5)cm, Mặt trước đầu tay lái bên trái có vết mài sát kim loại kích thước (2 x 0,5)cm, đầu tay phanh bên trái có vết mài sát kim loại kích thước (2 x 1,5)cm. Mặt ngoài cánh yếm bên trái có vết mài sát sơn nhựa kích thước (20 x 7)cm. Mặt trên chắn bùn bánh trước có vết mài sát sơn nhựa kích thước (16,7 x 4,5)cm. Mặt ngoài để chân trước bên trái có vết mài sát sơn nhựa kích thước (13 x11)cm. Mặt trước chân trống phụ bên trái có vết mài sát sơn kim loại kích thước (3 x 0,4)cm. Mặt ngoài để chân sau bên trái (trạng thái đóng) có vết mài sát sơn kim loại bám dính chất màu đen kích thước (6 x 0,2)cm, tâm vết cách đất 44,5cm. Mặt trước cần gạt chân trống giữa bên trái có vết mài sát sơn kim loại, bám dính tạp chất màu trắng nghi là bê tông kích thước (15 x 1)cm. Mặt ngoài ốp bảo vệ động cơ bên trái có vết mài sát nhựa, kích thước (14 x 7)cm. Mặt ngoài ốp nhựa thân xe bên trái có vết mài trượt bam dính chất màu đen kích thước ( 16,5 x 6,5)cm. Mặt ngoài bên trái tay xách sau có vết mài sát sơn kim loại kích thước (6,5 x 1,5)cm. Mặ sau tay xách sau có vết mài sát sơn kim loại bám dính chất màu đen nghi cao su kích thước (4 x 1,5)cm. Đầu ốp nhựa bảo vệ đèn soi biển số sau có vết mài sát sơn nhựa kích thước (4 x 2)cm. Biển số cong vênh, biến dạng theo hướng từ phải sang trái, từ trước về sau. Mặt ngoài chắn bùn bánh sau có vết mài sát sơn nhựa bám dính chất màu nâu, nghi bụi đất kích thước (13 x 7,5)cm. Mặt lăn lốp bánh sau có vết mài sát cao su kích thước (12 x 4,5)cm, điểm gần nhất cách chữ “V” trong dòng chữ “V431R” là 25,5cm. Mặt ngoài ốp bảo vệ ống xả có vết mài sát sơn nhựa kích thước (35 x 7)cm. Ghi nhận mũ bảo hiểm màu sơn vàng, ký hiệu BKTEC, mặt ngoài bên trái có vết mài sát sơn nhựa, bám dính chất màu nâu nghi đất kích thước (11 x 5)cm. Ghi nhận đôi giầy màu đen bám dính nhiều bụi đất.

* Kết quả giám định thương tích:

Ngày 13/10/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện L ra Quyết định số 287/QĐ-CSĐT trưng cầu Trung tâm pháp y-Bệnh viện đa khoa tỉnh B giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể của chị Nguyễn Thị Tuyết M. Kết luận giám định số 1786/23/KLTTCT-TTPY ngày 18/10/2023 của Trung tâm pháp y-Bệnh viện đa khoa tỉnh B, kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của chị Nguyễn Thị Tuyết M tại thời điểm giám định là 62%; thương tích do va chạm với vật tày gây nên.

* Kết quả giám định cơ chế hình thành dấu vết:

Ngày 02/10/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện L ra Quyết định số 269/QĐ-CQCSĐT trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B giám định cơ chế hình thành dấu vết đối với các phương tiện trong vụ việc. Tại Kết luận giám định số 2040/KL-KTHS ngày 24/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:

- Dấu vết mài trượt cao su, sạch bụi đất, có chiều hướng từ ngoài vào tâm bánh, ngược chiều chuyển động tiến tại má ngoài lốp ngoài trục bánh số 2 bên phải của xe ô tô biển số 98H-031.23 kéo theo rơ moóc biển số 98R-026.72 (ảnh số 18, 19, 20, 21 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết mài sát sơn, nhựa, kim loại, bám dính chất màu đen (dạng cao su), có chiều hướng từ trên xuống dưới tại mặt sau tay xách phía sau, đầu ốp bảo vệ đèn soi biển số, mặt sau chắn bùn bánh sau của xe mô tô biển số 98F1-226.63, khi xe mô tô trong tư thế đổ nghiêng trái (ảnh số 18, 19, 21 bản ảnh khám phương tiện). Va chạm tại đoạn cuối dấu vết cày xước ký hiệu số 1, thuộc chiều chuyển động bên phải theo hướng thị trấn Đ đi xã T.

- Dấu vết mài sát sơn, nhựa, kim loại, bám dính bột đá tại khu vực bên trái của xe mô tô biển số 98F1-226.63 gồm: đầu tay nắm, đầu tay phanh, cánh yếm, chắn bùn bánh trước, để chân trước, chân chống, tay xách phía sau, ốp bảo vệ động cơ được hình thành do va chạm với vật tày cứng, có bề mặt không nhẫn (như mặt đường) tạo nên.

- Không xác định được tốc độ, chiều hướng chuyển động của xe ô tô biển kiểm soát 98H-031.23 kéo theo rơ moóc biển số 98R-026.72 và xe mô tô biển số 98F1-226.63 tại thời điểm xảy ra tai nạn qua dấu vết cơ học.

Ngày 16/11/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện L trả cho chị Nguyễn Thị Tuyết M 01 xe mô tô biển số 98F1-226.63 nhãn hiệu HONDA SH mode; trả lại cho anh Dương Văn T1 01 xe ô tô biển số 98H-031.23 kéo theo rơ moóc biển số 98R-026.72.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị can Nguyễn Văn C không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị can Nguyễn Văn C có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là "Người phạm tội tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả; người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" được quy định tại điểm b, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng: 01 Giấy phép lái xe hạng A1, FC, số: [...] mang tên Nguyễn Văn C, sinh năm 1988, trú tại thôn T, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang, hiện đang được bảo quản chờ xử lý.

Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra vụ án Dương Văn T1Nguyễn Văn C đã bồi thường cho chị Nguyễn Thị Tuyết M số tiền 270.000.000 đồng (Hai trăm bẩy mươi trệu đồng). Chị M đã nhận số tiền trên và không có yêu cầu gì thêm.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn C thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu ở trên.

Tại bản Cáo trạng số: 32/CT-VKS ngày 18 tháng 3 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn C về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Nguyễn Văn C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã truy tố là đúng người, đúng tội và trình bày: Tai nạn xảy ra là ngoài ý muốn của bị cáo, do bị cáo không làm chủ tay lái, vượt xe không đẩm bảo án toàn. Khi xảy ra sự việc va chạm xe với chị M, bị cáo đã dừng xe ngay lập tức, cùng người dân đưa chị M đến Trung tâm ý tế huyện L cấp cứu, sau đó bị cáo quay lại hiện trường chờ cơ quan chức năng đến giải quyết. Từ khi xảy ra sự việc đến nay bị cáo đã rất ân hận về hành vi vi phạm pháp luật của mình, đã cố gắng bồi thường cho bị hại chữa trị thương tích. Bị cáo là lao động chính của gia đình, mong được HĐXX xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo có cơ hội được chăm sóc 03 con còn nhỏ.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Chủ tọa phiên tòa đã công bố lời khai của những người này có trong hồ sơ vụ án theo quy định pháp luật.

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam phát biểu luận tội vẫn giữ nguyên Cáo trạng đã truy tố. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn C phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 12 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng đến 36 tháng kể từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho UBND xã N giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Về án phí: Bị cáo C phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo Nguyễn Văn C nói lời sau cùng: Bị cáo rất ân hận về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo xin lỗi người bị hại, hoàn cảnh gia đình bị cáo còn nuôi 03 con nhỏ, mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo để có điều kiện nuôi các con còn nhỏ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đánh giá tính hợp pháp về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó cần xác định các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an huyện L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam và Kiểm sát viên đã thực hiện là đúng pháp luật.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Những người này đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án nên nên Hội đồng xét xử căn cứ quy định tại Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự, quyết định tiếp tục xét xử.

[3] Đánh giá chứng cứ:

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận về toàn bộ hành vi của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố. Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, kết luận giám định... và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên toà. Vì vậy đã có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 18/9/2023, Nguyễn Văn C điều khiển xe ô tô biển số 98H-031.23 kéo theo rơ moóc biển số 98R-026.72 đi trên đường T thuộc địa phận thôn H, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang, hướng thị trấn Đ đi xã T. Do không làm chủ tay lái, vượt xe không đảm bảo an toàn đã vi phạm khoản 11 Điều 8 và Điều 14 của Luật Giao thông đường bộ, dẫn đến khu vực ba hàng bánh bên phải thân xe rơ moóc va chạm với xe mô tô biển số 98F1-226.63 do chị Nguyễn Thị Tuyết M điều khiển đi trước cùng chiều bên phải. Hậu quả làm chị M bị tổn thương 62% (Sáu mươi hai phần trăm) sức khỏe.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Văn C gây ra là nguy hiểm, trực tiếp xâm phạm quy tắc, quy định của pháp luật về an toàn giao thông đường bộ, gây tổn hại đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ. Hậu quả xảy ra là ngoài ý muốn của bị cáo. Do đó Cáo trạng của VKSND huyện Lục Nam đã truy tố bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm b khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Đánh giá mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:

Bị cáo C do không làm chủ được tay lái, không chấp hành biển báo hiệu nguy hiểm giao nhau với đường không ưu tiên, vượt ẩu đã gây tai nạn, hậu quả làm chị Nguyễn Thị Tuyết M bị thương tích 62% sức khỏe. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây thiệt hại về sức khỏe của bị hại, trực tiếp xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân. Do đó, cần thiết phải xử lý bị cáo bằng pháp luật hình sự, nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[5] Xét nhân thân bị báo: Bị cáo không có tiền án, tiền sự.

[6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo qui định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

[7] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho người bị hại. Đây là những tình tiết giảm nhẹ được qui định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử áp dụng để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

[8] Xét tính chất, mức độ, hậu quả thiệt hại do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, trên cơ sở xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do vậy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù giam mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam cũng đảm bảo giáo dục, răn đe bị cáo. Đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo trở thành công dân tốt, người có ích cho xã hội.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại chị Nguyễn Thị Tuyết M đã được bồi thường 270.000.000 đồng (Hai trăm bẩy mươi triệu đồng), không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[10] Về vật chứng:

- Ngày 16/11/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện L trả cho chị Nguyễn Thị Tuyết M 01 xe mô tô biển số 98F1-226.63 nhãn hiệu HONDA SH mode; trả lại cho anh Dương Văn T1 01 xe ô tô biển số 98H-031.23 kéo theo rơ moóc biển số 98R-026.72 là đúng quy định pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo có ý kiến được nhận lại 01 Giấy phép lái xe hạng A1, FC, số: [...] mang tên Nguyễn Văn C. Do vậy, trả lại cho bị cáo 01 Giấy phép lái xe hạng A1, FC, số: [...] mang tên Nguyễn Văn C.

[11] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[12] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn C: 01 năm tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 06/5/2024.

Giao bị cáo Nguyễn Văn C cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Nguyễn Văn C phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Lục Nam;
  • - Công an huyện Lục Nam;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Nam;
  • - UBND xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: VP, HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Giáp Thị Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 43A/2024/HS-ST ngày 06/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ

  • Số bản án: 43A/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn C - vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger