|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 440/2024/HS-ST Ngày: 30-8-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Tăng Thị Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Phạm Văn Tâm
- Ông Nguyễn Văn Phòng
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyệt – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên toà: Ông Lê Thanh Đức – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 28 và 30 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 359/2024/HSST ngày 09 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 478/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:
-
Phạm P; sinh năm: 1974 tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn V, xã Đ, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; Chỗ ở hiện nay: Số A Đường I, Hẻm C, Khu phố E, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Công giáo; giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 06/12; cha (không rõ); mẹ: Phạm Thị H, sinh năm: 1952; gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con út; vợ là Nguyễn Thị Thanh T, sinh năm: 1978; có 01 người con, tên Phạm Mai T1, sinh năm: 2003; Tiền án, tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 18/11/2022, bị Công an xã Đ, huyện P xử phạt hành chính 1.500.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”, đã nộp phạt ngày 21/11/2022; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/01/2024 đến ngày 02/02/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-
Hồ Vĩnh Q, sinh ngày 16/8/1990 tại tỉnh Bình Định; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: 1 B, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh; Chỗ ở hiện nay: Số B Đường B, khu phố I, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên Chúa; giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; con ông Hồ Văn T2, sinh năm: 1962 và bà Nguyễn Thị Ngọc H1, sinh năm: 1965; gia đình bị cáo có 02 anh em, bị cáo là con út; vợ là Phạm Thùy K, sinh năm: 1990; con tên Hồ Thế H2, sinh năm: 2015; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/01/2024 đến ngày 02/02/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-
Nguyễn Đức T3, sinh ngày 11/12/1993 tại tỉnh Đắk Lắk; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn T, xã C, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Chỗ ở hiện nay: Số F Đường D, khu phố F, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn Văn B, sinh năm: 1958 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm: 1961; gia đình bị cáo có 05 chị em, bị cáo là con út; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/01/2024 đến ngày 02/02/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-
Nguyễn Hoài L, sinh ngày 10/02/1987 tại tỉnh Bình Định; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã P, huyện T, tỉnh Bình Định; Chỗ ở hiện nay: Số D K, khu phố F, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 11/12; con ông Nguyễn Văn T4, sinh năm: 1961 và bà Đặng Thị Tuyết N1, sinh năm: 1961; gia đình bị cáo có 04 chị em, bị cáo là con thứ 2; vợ là Võ Thị T5, sinh năm: 1988; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/01/2024 đến ngày 02/02/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-
Nguyễn Phương L1, sinh năm: 1973 tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp N, xã B, huyện C, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; Chỗ ở hiện nay: Số B, Quốc lộ A, Khu phố C, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa; giới tính: Nữ; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 09/12; con ông Nguyễn Phương H3, sinh năm: 1949 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Mỹ D, sinh năm: 1949; gia đình bị cáo có 02 chị em, bị cáo là con út; bị cáo có 02 người con tên Nguyễn Phương Thiên L2, sinh năm 1994 và Trương Bảo N2, sinh năm: 2000; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/01/2024 đến ngày 02/02/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
-
Nguyễn Văn T6, sinh ngày 06/9/1980 tại tỉnh Bình Định; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú (Chỗ ở hiện nay): Số E đường H, khu phố F, phường H, thành phố T, Thành phố H: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; con ông Nguyễn Văn D1, sinh năm: 1955 và bà Đào Thị N3, sinh năm: 1957; gia đình bị cáo có 04 chị em, bị cáo là con thứ 2; vợ là Nguyễn Thị Sao M, sinh năm: 1990; có 02 người con tên Nguyễn Hà M1, sinh năm 2015 và Nguyễn Hà P1, sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 24/01/2024 đến ngày 02/02/2024 được thay đổi biện pháp ngăn chặn bằng Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 00 phút ngày 24/01/2024, Phạm P, Nguyễn Văn T6, Nguyễn Đức T3, Nguyễn Phương L1 đi đến quán cà phê số 421/8/9, đường K, Khu phố F, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh của Nguyễn Hoài L để uống nước. Trong lúc uống nước, cả nhóm rủ nhau chơi bài binh xập xám ăn thua bằng tiền (không nhớ ai rủ), quy định cá cược thắng thua tính theo chi, mỗi chi là 20.000 đồng, ngoài ra còn cá cược thêm số con Át trên tay của mỗi người chơi, ai không có Á phải chung 20.000 đồng cho người có số con Át từ 02 con trở lên, trường hợp đặc biệt là người chơi có 04 con Át thì 03 người chơi còn lại phải chung cho người có 04 con Át là 40.000 đồng, nếu ai được mậu binh thì sẽ bỏ ra 20.000 đồng tiền xâu cho vào 01 chiếc hộp bằng kim loại, số tiền xâu cuối buổi chơi sẽ dùng để trả tiền nước và tiền bài cho chủ quán là L, phần thừa còn lại sẽ đưa cho L hưởng lợi. Trong lúc 04 người đang chơi đánh bạc thì có Hồ Vĩnh Q, Trương Hoàng S, Nguyễn Minh T7 đi vào quán để uống nước. Thấy 04 người đang chơi đánh bạc nên Q, S và T7 đến xem, Q ngồi sau lưng T6, S ngồi sau lưng L1, còn T7 ngồi sau lưng P. Lúc này, Q cá độ với P về số lượng con Át trên bài của P và L1 trong mỗi ván bài cược mỗi con Át thắng được 20.000 đồng. Quá trình đánh bạc, P sử dụng 10.000.000 đồng để đánh bạc, chơi thua 1.000.000 đồng; T6 sử dụng 1.400.000 đồng để đánh bạc, chơi thắng 600.000 đồng; T3 sử dụng 1.000.000 đồng để đánh bạc, chơi thắng 700.000 đồng; L1 sử dụng 2.350.000 đồng để đánh bạc, thua 1.250.000 đồng, Q sử dụng 400.000 đồng để đánh bạc, chơi thua 100.000 đồng. Đến 16 giờ 00 phút cùng ngày, L1 đi vệ sinh nên nhờ S chơi dùm, trong lúc S đang xếp bài (chưa kịp đánh ván nào) thì bị Công an phường H phát hiện, bắt quả tang, thu giữ của P 9.000.000 đồng; T6 2.000.000 đồng; Tạo 1.700.000 đồng; L1 1.100.000 đồng; Q 300.000 đồng; thu của L 01 hộp kim loại bên trong có 1.050.000 đồng tiền xâu, 01 bàn tròn bằng kim loại, 07 cái ghế bằng kim loại, 04 bộ bài tây đã qua sử dụng, thu giữ 7.680.000 đồng trong người S (đây là tiền S đi mua hàng và không sử dụng đánh bài).
Quá trình điều tra, Phạm P, Nguyễn Văn T6, Nguyễn Đức T3, Nguyễn Phương L1, Hồ Vĩnh Q, Nguyễn Hoài L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên, phù hợp với các tài liệu và chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng vụ án:
- Số tiền 15.150.000 đồng dùng để đánh bạc. Trong đó: P 9.000.000 đồng; T6 2.000.000 đồng; Tạo 1.700.000 đồng; L1 1.100.000 đồng; Q 300.000 đồng; 1.050.000 đồng tiền xâu.
- 01 bàn tròn, 07 cái ghế, 04 bộ bài Tây đã sử dụng; 01 hộp kim loại
- Số tiền 7.680.000 đồng thu của Trương Hoàng S. Không liên quan đến vụ án, ngày 05/4/2024, Cơ quan Cảnh sát Điều tra đã trả lại cho Trương Hoàng S.
Cáo trạng số 353/CT-VKSTPTĐ ngày 30/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố các bị cáo Phạm P, Nguyễn Văn T6, Nguyễn Đức T3, Nguyễn Phương L1, Hồ Vĩnh Q, Nguyễn Hoài L về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với các bị cáo như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Đối với Nguyễn Hoài L không trực tiếp tham gia đánh bạc nhưng là người cung cấp 04 bộ bài tây 52 lá cho các đối tượng chơi đánh bạc tại quán nước của mình, có thu tiền xâu nhưng chưa đủ số người tham gia đánh bạc nên không truy tố Nguyễn Hoài L về tội “Tổ chức đánh bạc” mà chỉ truy tố L về tội “Đánh bạc” với vai trò đồng phạm cùng các bị cáo Phạm P, Nguyễn Văn T6, Nguyễn Đức T3, Nguyễn Phương L1, Hồ Vĩnh Q. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 321 tuyên bố các bị cáo Phạm P, Nguyễn Văn T6, Nguyễn Đức T3, Nguyễn Phương L1, Hồ Vĩnh Q, Nguyễn Hoài L phạm tội “Đánh bạc”; các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; không có tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nơi cư trú rõ ràng nên áp dụng điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 50; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt Phạm P, Nguyễn Hoài L từ 09 tháng đến 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm 06 tháng đến 02 năm; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T6, Nguyễn Đức T3, Nguyễn Phương L1, Hồ Vĩnh Q từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 năm đến 01 năm 06 tháng. Về vật chứng: Tịch thu, nộp ngân sách Nhà nước tiền dùng đánh bạc 15.150.000 đồng; 01 bàn tròn, 07 cái ghế; tịch thu tiêu hủy 04 bộ bài Tây đã sử dụng và 01 hộp kim loại; Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố, tỏ thái độ ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Các bị cáo Phạm P, Nguyễn Văn T6, Hồ Vĩnh Q đề nghị Hội đồng xét xử tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội đi làm ăn, xử phạt các bị cáo hình phạt tiền do công việc của các bị cáo là đi làm việc theo công trình, các bị cáo có khả năng thi hành hình phạt tiền.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa không có ý kiến khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, các hành vi và Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Căn cứ lời khai của các bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:
Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 24/01/2024, tại quán cà phê địa chỉ: Số D, đường K, Khu phố F, phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh của Nguyễn Hoài Llàm chủ, Phạm P,Nguyễn Văn T6,Nguyễn Đức T3, Nguyễn Phương L1, Hồ Vĩnh Q cùng nhau chơi bài binh xập xám thắng thua bằng tiền, tổng số tiền thu giữ tại chiếu bạc của các bị cáo là 15.150.000 đồng; Nguyễn Hoài L có hành vi cho sử dụng địa điểm để Phạm P, Nguyễn Văn T6, Nguyễn Đức T3, Nguyễn Phương L1, Hồ Vĩnh Q đánh bạc, cung cấp 04 bộ bài tây 52 lá và thu tiền xâu nên phải chịu trách nhiệm về hành vi đánh bạc với vai trò đồng phạm. Hành vi của các bị cáo Phạm P, Nguyễn Văn T6,Nguyễn Đức T3, Nguyễn Phương L1,Hồ Vĩnh Q,Nguyễn Hoài L đã phạm vào tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[3] Lời khai của các bị cáo đã thống nhất với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố và luận tội đối với các bị cáo. Như vậy, nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đối với các bị cáo Phạm P, Nguyễn Văn T6, Nguyễn Đức T3, Nguyễn Phương L1, Hồ Vĩnh Q, Nguyễn Hoài Llà đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đối với đối tượng Trương Hoàng S, Nguyễn Minh T7 chỉ ngồi chơi, xem các bị cáo đánh bạc, không tham gia đánh bạc nên Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an thành phố T không xử lý là có căn cứ.
[4] Đánh giá tính chất vụ án:
Trong vụ án này, bị cáo Nguyễn Hoài L không phải là người trực tiếp tham gia đánh bạc nhưng đã có hành vi cho sử dụng địa điểm, cung cấp 04 bộ bài tây 52 lá và thu tiền xâu nhưng số người tham gia đánh bạc chưa đủ số lượng nên không truy tố, xét xử Nguyễn Hoài L về tội “Tổ chức đánh bạc” mà chỉ truy tố, xét xử L về tội “Đánh bạc” với vai trò đồng phạm với các bị cáo Phạm P, Nguyễn Văn T6, Nguyễn Đức T3, Nguyễn Phương L1, Hồ Vĩnh Q. Các bị cáo Phạm P, Nguyễn Văn T6, Nguyễn Đức T3, Nguyễn Phương L1, Hồ Vĩnh Qđã cùng nhau thực hiện hành vi phạm tội mang tính chất bộc phát, giản đơn, không có sự bàn bạc, rủ rê, lôi kéo nhau đánh bạc từ trước. Hành vi của các bị cáo thực hiện đã gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội tại địa phương, đồng thời là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Các bị cáo biết rõ hành vi đánh bạc trái phép sẽ bị pháp luật nghiêm trị nhưng vì hám lợi các bị cáo vẫn phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, thể hiện ý thức chấp hành pháp luật rất kém. Vì vậy, cần áp dụng một hình phạt nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội của các bị cáo. Tuy nhiên, cũng xét về nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối các bị cáo. Các bị cáo Phạm P, Nguyễn Văn T6, Nguyễn Đức T3, Nguyễn Phương L1, Hồ Vĩnh Q, Nguyễn Hoài L quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; riêng bị cáo L là người đang bị bệnh suy thận giai đoạn cuối (01 tuần phải lọc máu 03 lần tại bệnh viện). Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nên giảm cho các bị cáo một phần trách nhiệm hình sự mà lẽ ra các bị cáo phải chịu.
Ngoài ra, xét thấy trong thời gian từ khi tại ngoại cho đến nay, các bị cáo chấp hành tốt chủ trương, chính sách pháp luật của Nhà nước tại địa phương, không có biểu hiện vi phạm pháp luật mới, có khả năng tự cải tạo, có nơi cư trú rõ ràng. Việc không cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian không ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội, không gây nguy hiểm cho xã hội, cần tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo, sửa chữa lỗi lầm của mình dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương.
Với nhận định như trên và theo quy định tại Nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo thì các bị cáo Nguyễn Đức T3, Nguyễn Phương L1, Nguyễn Hoài L đủ điều kiện được hưởng án treo và không thuộc trường hợp không cho hưởng án treo. Do đó, áp dụng quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 cho bị cáo được hưởng án treo.
Riêng các bị cáo Phạm P, Nguyễn Văn T6, Hồ Vĩnh Q đề nghị Hội đồng xét xử đề nghị được áp dụng hình phạt tiền. Xét thấy: Ngoài các tình tiết giảm nhẹ nhiệm hình sự như đã nhận định ở trên, các bị cáo đều có việc làm, có thu nhập, chứng minh được khả năng thi hành hình phạt tiền. Qua phần trình bày của các bị cáo P, Q, T6 tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo P, Q, T6 do các bị cáo P, Q, T6 đã chứng minh khả năng thi hành án của mình nên không cần thiết cách ly bị cáo khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt tiền cũng tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo và giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội, đề nghị xử phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về xử lý vật chứng:
- 04 bộ bài tây 52 lá (đã qua sử dụng); 01 hộp kim loại là vật chứng vụ án và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước tổng số tiền thu giữ của các bị cáo tại chiếu bạc là 15.150.000 đồng và 01 bàn tròn, 07 cái ghế thu giữ tại quán nước của L.
[6] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[7] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được thực hiện quyền kháng cáo theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
-
Tuyên bố các bị cáo Phạm P, Nguyễn Văn T6, Nguyễn Đức T3, Nguyễn Phương L1, Hồ Vĩnh Q, Nguyễn Hoài L phạm tội “Đánh bạc”.
-
Về hình phạt:
-
Căn cứ Khoản 1 Điều 321; Điều 17; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 35, khoản 2 Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
- - Xử phạt bị cáo Phạm Phương S1 tiền 50.000.000 đồng;
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T6 số tiền 40.000.000 đồng;
- - Xử phạt bị cáo Hồ Vĩnh Q số tiền 40.000.000 đồng;
-
Căn cứ Khoản 1 Điều 321; Điều 17; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Đức T3 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Phương L1 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm tính từ ngày tuyên án.
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài L 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tính từ ngày tuyên án.
Giao các bị cáo Nguyễn Đức T3, Nguyễn Phương L1, Nguyễn Hoài L cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình các bị cáo Nguyễn Đức T3, Nguyễn Phương L1, Nguyễn Hoài L có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật Thi hành án Hình sự năm 2019.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó chấp hành hình phạt trước của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
-
-
Căn cứ vào khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2021:
- - Tịch thu tiêu hủy 02 bộ bài tây 52 lá (đã qua sử dụng) và 01 hộp kim loại;
- - Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước số tiền 15.150.000 đồng và 01 bàn tròn, 07 cái ghế.
(Theo Quyết định chuyển vật chứng số 433/QĐ-VKSTPTĐ ngày 04/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức và Giấy nộp tiền mặt ngày 08/7/2024 do Công an thành phố T chuyển vào tài khoản của Chi cục thi hành án Dân sự thành phố Thủ Đức).
-
Căn cứ vào Điều 135; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2021; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- - Các bị cáo Phạm P, Nguyễn Văn T6, Nguyễn Đức T3, Nguyễn Phương L1, Hồ Vĩnh Q, Nguyễn Hoài L mỗi người phải nộp 200.000 (hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm;
-
Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2021:
Các bị cáo được thực hiện quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
Đã giải thích chế định án treo.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tăng Thị Nguyệt |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Bản án số 440/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự - tội đánh bạc
- Số bản án: 440/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CHO HUONG AN TREO
