Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 439/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 04-3-2025

V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hợi

Các Hội thẩm nhân dân.

  • 1/ Ông Trần Đăng Vạn
  • 2/ Ông Mai Thanh Giàu

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Dũng, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thảo – Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 3 năm 2025 tại phòng xử án trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình sơ thẩm thụ lý số 2039/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định hoãn phiên tòa số 784/2025/QÐST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2025 và Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 785/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 02 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, giữa đương sự:

1/ Nguyên đơn: Bà Trần Thị D, sinh năm 1988.

Địa chỉ: số H N, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

2/ Bị đơn: Ông Cao Minh H, sinh năm 1983.

Địa chỉ: số A M, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại Đơn khởi kiện ghi ngày 25/6/2024, bản tự khai ngày 21/10/2024 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trần Thị D trình bày: Bà và ông Cao Minh H tự nguyện chung sống với nhau từ năm 2017, có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 8 do Ủy ban nhân dân phường L, Quận I nay là Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T cấp ngày 24/01/2017. Sau khi kết hôn, bà và ông H chung sống bình thường, đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng: ông H dùng chày gỗ đánh vào đầu bà. Tháng 06 năm 2022 ông H dùng dao Thái Lan dí bà và con trai bà là Cao Minh K nhưng bà không báo công an vì lúc đó bà không có bằng chứng. Đến tháng 06 năm 2023, bà bỏ về nhà cha mẹ bà sinh sống và nộp đơn yêu cầu ly hôn với ông H tại Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức. Tháng 12 năm 2023, vì thương hai con con nhỏ nên bà rút đơn lại, Tòa án đã đình chỉ giải quyết vụ án. Tháng 02 năm 2024, bà quay trở lại sống chung với ông H. Khi về sống chung, ông H tiếp tục chửi bà: con đĩ, con chó... thậm chí còn sỉ nhục ba mẹ bà, và đánh bà nên từ cuối tháng 6 năm 2024 đến nay, bà đưa bé Quỳnh H1 quay về sống tại nhà ba mẹ tại địa chỉ số H N Bà nhận thấy hôn nhân của bà và ông H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, bà không còn tình cảm và không thể tiếp tục chung sống vợ chồng với ông H được nữa nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà ly hôn với ông Cao Minh H.

Từ sau khi Tòa án thụ lý giải quyết vụ án theo đơn ly hôn của bà, ông H thường xuyên, liên tục gửi email cho bà với những lời lẽ xúc phạm, đe dọa, khiến cho bà luôn căng thẳng, mệt mỏi, không còn tinh thần làm việc. Dù trong phiên hòa giải ông H không đồng ý ly hôn, muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng ông H vẫn tiếp tục gửi email với lời lẽ xúc phạm và đe dọa bà nên bà kiên quyết ly hôn, không đồng ý đoàn tụ, và không cho ông H thêm bất kỳ cơ hội nào nữa.

Về con chung: Bà và ông H có 02 con chung tên Cao Minh K, sinh ngày 28/3/2018 và Cao Quỳnh H1, sinh ngày 09/11/2021. Hiện nay bé K sống với ông H, còn bé Quỳnh H1 đang sống với bà. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục bé Quỳnh H1 và giao bé Minh K cho ông H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Bà không yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con và bà cũng không cấp dưỡng nuôi con cho ông H.

Về tài sản chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà và ông H không có nợ chung.

Tại bản tự khai ngày 21/10/2024, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bị đơn ông Cao Minh H trình bày: Ông và bà Trần Thị Diễm tự N kết hôn có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường L, Quận I vào tháng 01 năm 2017 nhưng đến tháng 5 năm 2017, cả hai mới sống chung. Trong quá trình sống chung, khi bà D mang bầu bé K, ông và bà D có nhờ cha mẹ bà D phụ chăm sóc bà D sau sinh nhưng ba mẹ bà D không chịu nên ông đang làm chức trưởng phòng có xe đưa đón phải nghỉ việc ở nhà chăm con. Khi bé K được hơn một tuổi, giữa ông và bà D phát sinh mâu thuẫn vì mẹ bà D có gọi điện cho bà D nói ông đặt tên con là Cao Minh K là không tôn trọng ba bà D (ba bà D tên là Trần Văn M, trong khi đó tên Cao Minh K là do ông và bà D cùng thống nhất chọn); bà D đặt mật khẩu cho tin nhắn zalo.

Năm 2021, khi bà D gần sinh, ông chở bà D và bé K về gửi bố mẹ bà D nhưng bố bà D đuổi về. Khi bà D sinh con thì bố mẹ bà D trông bé K nhưng khi bé K sốt lại không có người chở đi bệnh viện.

Trong quá trình chung sống vợ chồng, ông không đánh đập bà D, cũng không có hành vi bạo lực dùng chày gỗ đánh hay dùng dao Thái Lan dí bà D, bé K; ông cũng không chửi bà D là mày tao con đĩ như bà D trình bày. Khi vợ chồng xảy ra tranh cãi, bà D luôn là người lớn tiếng, xưng hô mày tao với ông.

Ông còn tình cảm vợ chồng với bà D. Bà D muốn ở nhà cha mẹ, hay ở đâu cũng được nhưng không được ly hôn vì 2 đứa con. Việc bà D ly hôn có sự đồng lõa của ba bà D. Bà D giữ hết giấy tờ tài sản của ông, khi bỏ nhà đi thì cầm hết đi không chịu trả lại cho ông. Ông nói bà D đưa cho ông bản phô tô hay hình chụp giấy tờ của tài sản nhưng bà D đi cả một ngày cũng không đưa hình chụp cũng như bản phô tô giấy tờ nhà về. Bà D đã bỏ nhà đi 3 lần chặn hết mọi liên lạc. Năm 2023, bà D tự đi nộp đơn yêu cầu ly hôn mà không báo cho ông. Bà D nhận được thông báo thụ lý ngay còn ông chỉ nhận được thông báo thụ lý sau 50 ngày. Ngày 30/10/2023, bà D về nhà thăm con rồi kiếm cớ đánh ông, la lên và ghi âm gửi cho nhiều người.

Ông có dùng các địa chỉ email minhhuy930306@gmail.comcaominhhuy2809@gmail.comđể gửi email tới địa chỉ email tran.thi.diem@scancon.nettranthidiem4071134@gmail.comtranthidiem407@gmail.comcủa bà D. Ông không đồng ý ly hôn với bà D vì bà D chưa giải quyết rõ vấn đề tài sản, chưa trả lại các giấy tờ tài sản cho ông. Ông yêu cầu bà D trả lại các giấy tờ tài sản cho ông. Ông đã hy sinh từ chức trưởng phòng có xe đưa đón nghỉ việc ở nhà chăm con cho bà D đi làm. Ông đã mua nhà trước khi lấy bà D về. Ông muốn được ký ly hôn đồng thuận với bà D. Ông đã nhiều lần yêu cầu bà D phân chia tài sản và ly hôn đồng thuận nhưng bà D không chịu làm.

Về con chung: Ông và bà D có 02 con chung tên Cao Minh K, sinh ngày 28/3/2018 và Cao Quỳnh H1, sinh ngày 09/11/2021. Hiện nay bé K sống với ông, còn bé Quỳnh H1 đang sống chung với bà D. Tháng 5 năm 2023, bà D đưa con cùng tiền bạc giấy tờ nhà đất bỏ nhà đi. Bà D không cho con chích ngừa dù ông có chuyển tiền cho bà D 10.000.000 đồng để chích ngừa cho con. Trong trường hợp ly hôn, thì mỗi người nuôi một đứa, ông nuôi bé nào cũng được. Ông không yêu cầu bà D cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Ông và bà D không có nợ chung.

Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: Thẩm phán thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn đúng quy định của pháp luật. Việc cấp, tống đạt, thông báo các văn bản tố tụng đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Xác định đúng người tham gia tố tụng. Quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng quy định của pháp luật. Hội đồng xét xử thực hiện đúng quyền hạn theo quy định của pháp luật.

- Về chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ đúng quy định pháp luật. Đương sự có đầy đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận cho bà Trần Thị Diễm ly H2 với ông Cao Minh H

Về con chung: Giao con chung tên Cao Quỳnh H1 cho bà D trực tiếp trông nom chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục; giao con chung tên Cao Minh K cho ông H trực tiếp trông nom chăm sóc nuôi dưỡng giáo dục; hai bên không cấp dưỡng nuôi con qua lại.

Về tài sản chung: Bà D, ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà D, ông H xác định không có;

Án phí sơ thẩm: Bà D phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn bà Trần Thị Diễm X ly hôn với bị đơn ông Cao Minh H; ông H hiện đang cư trú tại địa chỉ số A M, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Do đó, căn cứ Điều 53 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đây là vụ án tranh chấp về ly hôn thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh theo thủ tục sơ thẩm.

[2] Về việc tham gia tố tụng của các đương sự: Nguyên đơn bà D, bị đơn ông H tham gia và thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng.

Đương sự không yêu cầu triệu tập thêm người tham gia tố tụng khác, người làm chứng nên Hội đồng xét xử không triệu tập người tham gia tố tụng khác, người làm chứng.

[3] Về chứng cứ của vụ án: Tòa án đã đảm bảo việc công khai các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án theo quy định tại các Điều 208, 209, 210, 211 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Các đương sự cam kết không có tài liệu chứng cứ nào khác và tại phiên tòa các đương sự cũng không bổ sung thêm chứng cứ nào khác.

[4] Về yêu cầu của nguyên đơn:

Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 8 do Ủy ban nhân dân phường L, Quận I (nay là Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T) Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/01/2017 thì quan hệ hôn nhân giữa bà D, ông H là hợp pháp.

Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, bà D xác định giữa bà và ông H phát sinh nhiều mâu thuẫn trầm trọng, bà không còn tình cảm vợ chồng với ông H và không thể tiếp tục chung sống với ông H. Bà D kiên quyết ly hôn và không chấp nhận bất kỳ giải pháp nào do ông H đưa ra.

Ông H không đồng ý ly hôn với bà D nhưng lý do không phải vì muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng mà là vì bà D chưa giải quyết rõ ràng vấn đề tài sản, không chịu trả lại giấy tờ của tài sản cho ông. Ông H không thừa nhận các trình bày của bà D về tình trạng mâu thuẫn vợ chồng. Tuy nhiên, theo trình bày của ông H tại phiên tòa cũng như nội dung các email mà ông H gửi cho bà D (từ bút lục 35 đến bút lục 80) đều cho thấy: Giữa ông H, bà D có mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng. Ông H không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng, cũng không đưa ra giải pháp giải quyết tình trạng mâu thuẫn vợ chồng được bà D chấp nhận.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình chung sống vợ chồng, giữa bà D, ông H có phát sinh mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng. Mâu thuẫn vợ chồng kéo dài nhiều năm không được giải quyết dẫn tới việc cả hai không còn sống chung. Tuy là vợ chồng nhưng giữa bà D, ông H không còn sự thương yêu, chăm sóc, giúp đỡ nhau, không cùng nhau chia sẻ, và thực hiện các công việc trong gia đình nên tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó căn cứ Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà D: Cho bà D ly hôn với ông H.

Về con chung: Theo trình bày của các đương sự phù hợp với nội dung Giấy khai sinh số 131/2018 do Ủy ban nhân phường L, Quận I (nay là Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T) Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 06/4/2018 (BL 29) và Giấy khai sinh số 325/2021 do Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 05/12/2021 (BL 28), có cơ sở xác định: Bà D, ông H có 02 con chung là Cao Minh K (sinh ngày 28/3/2018) và Cao Quỳnh H1 (sinh ngày 09/11/2021) và hiện nay trẻ Minh K sống với ông H, trẻ Quỳnh H1 sống với bà D.

Bà D yêu cầu được trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung tên Cao Quỳnh H1 và giao con chung tên Cao Minh K cho ông H trực tiếp trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Hai bên không cấp dưỡng nuôi con qua lại.

Ông H cũng có ý kiến: Trong trường hợp ly hôn mỗi người nuôi một bé, ông nuôi bé nào cũng được, ông không yêu cầu bà D cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử xét: Ông H, bà D đều có có đủ điều kiện về nhà ở, công việc, thời gian và khả năng tài chính để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Bà D, ông H cũng không có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con. Do đó, để tránh xáo trộn, ảnh hưởng đến cuộc sống cũng như việc học tập của trẻ, căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà D: Giao trẻ Cao Quỳnh H1 cho bà D trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao trẻ Cao Minh K cho ông H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà D, ông H đều không yêu cầu bên còn lại cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về tài sản chung: Bà D, ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về nợ chung: Bà D, ông H xác định không có.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điểm 1.1 Mục II Phần A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 thì bà D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 266 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; điểm 1.1 mục II Phần A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho bà Trần Thị Diễm ly H2 ông Cao Minh H.

    Giấy chứng nhận kết hôn số 8 do Ủy ban nhân dân phường L, Quận I (nay là Ủy ban nhân dân phường L, thành phố T) Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 24/01/2017 cho bà Trần Thị D, ông Cao Minh H không còn giá trị pháp lý.

  2. Về con chung: Giao con chung tên Cao Minh K, sinh ngày 28/3/2018 cho ông Cao Minh H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; giao con chung tên Cao Quỳnh H1, sinh ngày 09/11/2021 cho bà Trần Thị Diễm trực T trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Bà D, ông H không cấp dưỡng nuôi con qua lại.
  3. Về tài sản chung: Bà D, ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết.
  4. Về nợ chung: Bà D, ông H xác định không có.
  5. Về án phí sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn: Bà Trần Thị Diễm P chịu án phí sơ thẩm 300.000 đồng, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm 300.000 đồng bà D đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0043211 ngày 23/9/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà D đã nộp đủ án phí sơ thẩm.
  6. Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (đã sửa đổi bổ sung năm 2014).
  7. Về quyền kháng cáo: Đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND TP Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP Thủ Đức;
  • - UBND P Long Thạnh Mỹ, Tp Thủ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Hợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 439/2025/HNGĐ-ST ngày 04/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn (hôn nhân gia đình)

  • Số bản án: 439/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn (Hôn nhân gia đình)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bà D yêu cầu ly hôn ông H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger