Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 439/2024/DS-PT

Ngày 07-11-2024

V/v tranh chấp quyền sử dụng đất

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Châu Minh Hoàng

Các Thẩm phán:

Ông Dương Hùng Quang

Bà Hoàng Thị Hải Hà

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Chọn là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Yến - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 26 tháng 9 và ngày 07 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 285/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 8 năm 2024 về việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 171/2024/DS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 239/2024/QĐ-PT ngày 23 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Lê Khắc H, sinh năm 1950 (có mặt).
  • Địa chỉ cơ trú: Ấp K, xã Q, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Bà Trần Kim X – Trợ giúp viên Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh C (có mặt).
  • - Bị đơn:
    1. Bà Lý Thị A, sinh năm 1963 (có mặt).
    2. Ông Nguyễn Văn H1, sinh năm 1954 (vắng mặt).
  • Cùng địa chỉ cư trú: Ấp K, xã Q, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
  • Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Luật sư Nguyễn Văn N – Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh C (có mặt).
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Anh Lê Khắc P, sinh năm, 1988 (có mặt).
    2. Chị Cao Hồng C, sinh năm 1992 (vắng mặt).
    3. Anh Nguyễn Trí L, sinh năm 1988 (có mặt).
    4. Anh Nguyễn Chí T, sinh năm 1986 (vắng mặt).
    5. Bà Nguyễn Thị O, sinh năm 1951 (vắng mặt).
  • Cùng địa chỉ cư trú: Ấp K, xã Q, huyện Đ, tỉnh Cà Mau.
  • - Người kháng cáo: Bà Lý Thị A và ông Nguyễn Văn H1 là bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Nguyên đơn ông Lê Khắc H trình bày: Phần đất ông Lê Khắc H đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng diện tích 2.260m² tọa lạc tại ấp K, xã Q, huyện Đ, tỉnh Cà Mau giáp với phần đất ông Nguyễn Văn H1 và bà Lý Thị Anh . Khoảng năm 1990 ông Nguyễn Văn H1 con của cụ Nguyễn Thị T1 đào mương đậu xuồng, khi đó gia đình ông với cụ T1 và ông H1 thống nhất lấy ranh chung giữa hai bên là mương khoảng 3m, dài 15m, hai cây dừa làm ranh hai bên. Từ đó các bên căn cứ sử dụng sản xuất ổn đinh không tranh chấp khoảng 30 năm.

Năm 2001 có chủ trương nuôi tôm, phần đất hai bên có 01 đìa do xã H đào đắp lại để nuôi tôm. Khi đắp ranh ông với ông H1 đắp đập ngang đìa để làm ranh và đến năm 2019 phía ông H1 cặm cây trụ bằng tràm làm ranh, nay ranh vẫn còn hiện trạng và khi đó ông trồng đước bên phần đất của ông làm ranh với mí đìa ông H1 đào. Vào năm 2018 ông với cụ T1 thống nhất trồng cây so đũa do cụ T1 trồng làm ranh, hiện cây so đũa và đước vẫn còn.

Ngày 09/12/2021 gia đình ông Khắc H hợp đồng Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ đo đạc, cấp đổi và chuyển quyền sử dụng đất cho con anh Lê Khắc P. Khi đó bà Lý Thị A vợ ông Nguyễn Văn H1 không thống nhất vị trí ranh đất đã được các bên xác định từ trước đến nay mà yêu cầu lấn qua ông phần đất ngang 2,7m, dài 75m, tổng diện tích khoảng 202,5m² (từ Kênh T đo thẳng vô). Từ đó ông Khắc H có yêu cầu Ủy ban nhân dân xã Q hòa giải nhưng không thành.

Nay, ông Lê Khắc H yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Nguyên Văn H2 và bà Lý Thị A trả lại phần đất theo đo đạc thực tế ngày 06/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ diện tích 195,9m² tọa lạc ấp K, xã Q, huyện Đ có các hướng tiếp giáp: Hướng Đông giáp đất ông Nguyễn Văn Đ; hướng Tây giáp Kênh N; hướng Bắc giáp đất ông Nguyễn Văn H1 và bà Lý Thị A; hướng Nam giáp đất ông Lê Khắc H.

Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa bị đơn bà Lý Thị A trình bày: Phần đất hiện nay bà A và ông H đang quản lý trước đây của cụ Nguyễn Thị T1 quản lý trước năm 1984. Đến năm 1984 thực hiện chỉ thị 100 của Tập đoàn khoán cho 04 hộ, trong đó gồm ông Lê Khắc H 5.200m², Dương Văn M 10.400m², Nguyễn Văn Ó 3.900m², Nguyễn Văn T2 3.900m². Năm 1991 cụ Nguyễn Thị T1 được Nhà nước giao lại phần đất trước đây Nhà nước giao cho ông H, ông M, ông Ó và ông T2 có tổng diện tích 23.400m² theo quyết định số 82 ngày 02/7/1991. Tiếp đến năm 1993 cụ T1 kê khai mục kê thuộc 02 thửa đất 530, 531 tờ bản đồ số 02. Năm 1995 cụ T1 chuyển nhượng cho bà Huỳnh T3 05 công tầm lớn, phần đất còn lại cụ T1 đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 1996 diện tích 15.970m² gồm 02 thửa đất 530, 531. Đến năm 2021 cụ T1 chết bà A, ông H cùng các con ông bà quản lý phần đất đến khoảng tháng 12/2021 phát sinh tranh chấp với ông Khắc H người cặp ranh đất với ông bà. Theo yêu cầu của ông Khắc H buộc bà và ông H cùng các con giao lại phần đất theo Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ đo đạc thực tế ngày 06/3/2024 bà không đồng ý.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lê Khắc P trình bày: Anh thống nhất theo lời trình bày của ông Lê Khắc H.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Trí L trình bày: Khi anh sinh sống cùng cụ T1 từ năm 1997, khu đất vườn là do cụ T1 trồng trọt và khi đó anh được biết trước năm 1997, ông Nguyễn Văn H1 cha anh có đào đường kênh cặp phần đất tranh chấp với ông Khắc H để phục vụ cho nuôi heo và đậu ghe. Đến năm 2012 cụ T1 sử dụng đường kênh để nuôi tôm, sau đó cụ T1 giao lại toàn bộ phần đất cho ông Nguyễn Văn H1, bà Lý Thị A cùng anh, em anh quản lý sử dụng đến nay. Theo yêu cầu của ông Khắc H đòi phần đất cắp ranh anh không đồng ý.

Đối với bị đơn ông Nguyễn Văn H1; những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị O, anh Nguyễn Chí T, chị Cao Hồng C: Trong quá trình Tòa án cấp sơ thẩm đã thụ lý giải quyết vụ án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự theo quy định pháp luật, nhưng các đương sự không có ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Từ nội dung trên, Bản án dân sự sơ thẩm số: 171/2024/DS-ST ngày 25/6/2024 của Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi đã quyết định:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Khắc H.

  1. Buộc ông Nguyễn Văn H1 và bà Lý Thị A giao lại cho ông Lê Khắc H phần đất có diện tích 195,9m² toạ lạc tại ấp K, xã Q, huyện Đ, tỉnh Cà Mau có các hướng tiếp giáp:
    • Hướng Đông giáp đất ông Nguyễn Văn Đ điểm M15M17, dài 3,40m;
    • Hướng Tây giáp Kênh N điểm M2M3, dài 2,36m;
    • Hướng Bắc giáp đất ông Nguyễn Văn H1 và bà Lý Thị Anh điểm M1, dài 68,21;
    • Hướng Nam giáp đất ông Lê Khắc H điểm M2M15, dài 68,65m.

    (kèm theo mảnh đo đạc chính lý thửa đất ngày 11/3/2024)

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 08/7/2024 bị đơn là ông Nguyễn Văn H1 và bà Lý Thị A có đơn kháng cáo với nội dung không đồng ý Bản án dân sự sơ thẩm số: 171/2024/DS-ST ngày 25/6/2024 của Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Khắc H.

Tại phiên toà phúc thẩm: Bị đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Nguyên đơn không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bị đơn, đề nghị giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 171/2024/DS-ST ngày 25/6/2024 của Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán trong quá trình giải quyết vụ án, của Hội đồng xét xử và những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng tại phiên tòa đúng quy định pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn H1 và bà Lý Thị A, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 171/2024/DS-ST ngày 25/6/2024 của Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của những người tham gia tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn giữ nguyên kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nguyên đơn đồng ý với quyết định của bản án sơ thẩm và không có kháng cáo.

[2] Xem xét tất cả các chứng cứ tài liệu các đương sự cung cấp cũng như Tòa án đã thu thập được trong quá trình giải quyết vụ án và trình bày của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay thấy rằng:

[2.1] Căn cứ vào lời trình bày của những người hiểu biết sự việc là ông Nguyễn Công H3 nguyên Phó Chủ tịch xã H, ông Phạm Việt T4, bà Nguyễn Hồng P1 và những người lớn tuổi sống lâu năm cùng cư trú tại: Ấp K, xã Q, huyện Đ xác định: “...Trước đây thời còn làm ruộng ông H1 và bà T1 mẹ ông H1 có đào con mương để làm ranh đất. Thời kỳ làm vuông bà T1 đắp mương đó lại để nuôi tôm, vợ chồng ông Lê Khắc H có trồng hàng đước và 2, 3 bụi lá, hàng năm thấy ông Khắc H có đốn lá về sài. Theo tôi biết từ bờ đước chạy thẳng lên cái đìa xã H đào là ranh. Khi làm vuông nuôi tôm ông Khắc H có đắp đập ngang để làm ranh nuôi tôm. Theo tôi được biết ranh đất bà T1 với ông Khắc H ranh đất đến nay là 30 năm đã ổn định...đám đước và hàng dừa do ông Lê Khắc H trồng, trước đây bà T1 còn sống thống nhất ranh đất không tranh chấp...” (BL 05, 07, 73, 76, 91, 92). Ngoài ra, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân huyện Đ cấp cho cụ Nguyễn Thị T1 ngày 08/3/1996 phần đất thổ cư và đất lập vườn thửa số 0531, tờ bản đồ số 2 tổng diện tích 2060m², nhưng theo đo đạc thực tế ngày 06/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ phần đất của cụ T1 tổng diện tích 2607,9m², tăng 547,9m² so với diện tích đất cụ T1 được cấp.

Mặc khác, theo Mảnh đo đạc chỉnh lý thửa đất ngày 11/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đại huyện Đ xác định: “...điểm M3, M17 là ranh theo bản đồ...” (BL 48).

Như vậy căn cứ vào lời trình bày của những người nắm bắt sự việc đối chiếu với biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, xem xét lời trình bày của các đương sự thì trên phần đất tranh chấp theo hiện trạng đã có hàng dừa, đám đước, cây so đũa hiện hữu từ rất lâu, dừa và đước này là do ông Khắc H trồng để làm ranh. Đối chiếu với mảnh trích đo hiện trạng ngày 11/3/2024 và biên bản thẩm định của cấp phúc thẩm 24/10/2024 là nằm trong phần đất ông Khắc H sử dụng ổn định từ trước đến nay.

Do đó khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Khắc H buộc bị đơn ông Nguyễn Văn H1 và bà Lý Thị A trả phần đất có diện tích theo đo đạc thực tế là 159,9 m² đất là có căn cứ, án sơ thẩm chấp nhận toàn bộ yêu cầu là phù hợp.

[2.2] Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn bà A cho rằng án sơ thẩm tuyên buộc trả phần đất 159,9 m² là có phần mồ mã gia đình bà A nên Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tạm ngừng phiên tòa để xem xét thẩm định tại chổ. Theo kết quả xem xét thẩm định tại chổ ghi nhận tại hiện trạng phần đất tranh chấp hoàn toàn không có nền mộ mà tất cả đều nằm trên phần đất bà A nên trình bày của bà A là không có căn cứ chấp nhận.

[3] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy quyết định của án sơ thẩm là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật, cần giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 171/2024/DS-ST ngày 25/6/2024 của Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi là phù hợp.

[4] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tại phiên tòa là phù hợp nên được Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do không chấp nhận yêu cầu kháng cáo nên bị đơn phải chịu, nhưng do ông Nguyễn Văn H1 và bà Lý Thị A đã có đơn xin miễn dự nộp và thuộc trường hợp người cao tuổi nên được chấp nhận miễn nộp tạm ứng án phí và án phí theo quy định.

[6] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Nguyễn Văn H1 và bà Lý Thị Anh .

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 171/2024/DS-ST ngày 25 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Đầm Dơi.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Khắc H.

    Buộc ông Nguyễn Văn H1 và bà Lý Thị A giao lại cho ông Lê Khắc H phần đất có diện tích 195,9m² toạ lạc tại ấp K, xã Q, huyện Đ, tỉnh Cà Mau có các hướng tiếp giáp:

    • - Hướng Đông giáp đất ông Nguyễn Văn Đ điểm M15M17, dài 3,40m;
    • - Hướng Tây giáp Kênh N điểm M2M3, dài 2,36m;
    • - Hướng Bắc giáp đất ông Nguyễn Văn H1 và bà Lý Thị Anh điểm M1, dài 68,21m;
    • - Hướng Nam giáp đất ông Lê Khắc H điểm M2M15, dài 68,65m.

    (Kèm theo mảnh đo đạc chỉnh lý thửa đất ngày 11/3/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ)

  2. Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Văn H1 và bà Lý Thị A phải chịu số tiền 14.423.000 đồng. Ông Nguyễn Văn H1 và bà Lý Thị A có nghĩa nộp lại số tiền 14.423.000 đồng (Mười bốn triệu bốn trăm hai mươi ba nghìn đồng) để hoàn trả cho ông Lê Khắc H. Đối với chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 400.000 đồng bà Lý Thị Anh T5 chịu (bà A đã nộp xong).

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, nếu chậm thi hành án thì hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

  3. Về án phí:
    • - Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Văn H1 và bà Lý Thị A phải chịu số tiền 783.600 đồng (Bảy trăm tám mươi ba nghìn sáu trăm đồng).
    • - Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Nguyễn Văn H1 và bà Lý Thị A đã được xét miễn nộp tạm ứng án phí và án phí theo quy định.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau;
  • - Tòa án nhân dân huyện Đầm Dơi;
  • - Chi cục THADS huyện Đầm Dơi;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn;
  • - Lưu VT(TM:TANDTCM).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Châu Minh Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 439/2024/DS-PT ngày 07/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 439/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 07/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger