Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 439/2023/DS – ST

Ngày: 18 - 8 - 2023

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Viết Hoàng Lâm

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Quang Cảnh

2. Ông Nguyễn Đình Thức

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kiều Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên toà: Bà Trần Mai Hảo – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án Dân sự thụ lý số 648/2022/TLST-DS ngày 19 tháng 12 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 571/2023/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 6 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 696/2023/QĐST-DS ngày 20 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP B.

Trụ sở: 117 đường Q, thành phố V, tỉnh Nghệ An.

Người đại diện theo ủy quyền:

  1. Ông Phạm Trường T, sinh năm 1995 – Có mặt.
  2. Ông Võ Anh K, sinh năm 1983– Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Cùng địa chỉ: Lầu A, C đường P, Phường E, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Bị đơn: Bà Bùi Thanh T1, sinh năm 1968.

Địa chỉ: A đường T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt không có lý do.

- Người có quyền và nghĩa lợi liên quan:

  1. Ông Đặng Ngọc S, sinh năm 1961
  2. Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1962

Cùng địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh – Cả hai có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn Ngân hàng TMCP B (gọi tắt là Ngân hàng) có ông Phạm Trường T làm người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 26/09/2008, Phòng G thuộc Ngân hàng TMCP B - Chi nhánh Thành phố H (gọi tắt là B1) đã đăng ký với bà Bùi Thanh T1 Hợp đồng tín dụng số S5000171B/HĐTD/NASB.HCM-PGD5.HTP, theo đó BAC B1 đồng ý cho bà Bùi Thanh T1 vay số tiền 500.000.000 đồng (bằng chữ: Năm trăm triệu đồng chẵn); thời gian vay: 12 tháng; mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh; lãi suất cho vay: 1,75%/tháng; lãi suất quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn; trả lãi ngày 08 hàng tháng, bắt đầu từ ngày 08/11/2008, nợ gốc trả cuối kỳ vào ngày 08/10/2009.

- Ngày 08/10/2008, bà Bùi T3 Thư ký giấy nhận nợ, B1 đã giải ngân cho bên vay số tiền 500.000.000 đồng (bằng chữ: Năm trăm triệu đồng).

- Tài sản bảo đảm cho khoản vay trên là Quyền sử dụng đất trồng lúa có diện tích 1.186,1 m², thửa số 241, tờ bản đồ 28, tọa lạc tại xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 844379, số vào sổ cấp GCN QSDĐ: H01519/13 do UBND huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 29/07/2005, đứng tên ông Đặng Ngọc S và vợ là bà Nguyễn Thị T2 (bên liên quan), theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất để vay vốn ngân hàng số S5000171B/HĐTC/NASB.HCM-PGD5.HTP ngày 08/10/2008 (được công chứng ngày 08/10/2008 và đăng ký giao dịch bảo đảm ngày 04/11/2008) và Hợp đồng ủy quyền ngày 26/9/2008, số công chứng 034839, quyển số 10/TP/CC-SCC/HĐGD do Phòng C, Thành phố Hồ Chí Minh chứng nhận.

Từ thời điểm cho vay đến nay, B2 không thay đổi lãi suất cho vay đối với khách hàng, vẫn giữ nguyên lãi suất trong hạn 1,75%/tháng và lãi suất quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn như hợp đồng tín dụng đã ký.

Tính đến ngày 27/6/2023, bà T1 còn nợ B1 số tiền như sau:

  • + Nợ gốc quá hạn: 500.000.000 đồng.
  • + Nợ lãi trong hạn: 97.416.666 đồng.
  • + Nợ lãi quá hạn: 2.192.321.500 đồng.
  • + Tổng cộng: 2.789.729.166 đồng.

Nay, B2 yêu cầu khởi kiện như sau:

  1. Buộc bà Bùi Thanh T1 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP B theo hợp đồng tín dụng số S5000171B/HĐTD/NASB.HCM-PGD5.HTP ngày 26/09/2008, gồm:
    • Tổng dư nợ tính đến hết ngày 27/6/2023 là 2.789.729.166 đồng (trong đó: nợ gốc quá hạn là 500.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 97.416.666 đồng, nợ lãi quá hạn: 2.192.321.500 đồng)
    • Toàn bộ các khoản lãi phát sinh kể từ ngày 28/6/2023 cho đến ngày thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng.
  2. Trường hợp bà Bùi Thanh T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì B1 được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Cụ thể tài sản là: Quyền sử dụng đất trồng lúa có diện tích 1.186,1 m², thửa số 241, tờ bản đồ 28, tọa lạc tại xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 844379, số vào sổ cấp GCN QSDĐ: H01519/13 do UBND huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 29/07/2005, đứng tên ông Đặng Ngọc S và vợ là bà Nguyễn Thị T2.

- Bị đơn bà Bùi Thanh T1 vắng mặt không có lý do, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đặng Ngọc S và bà Nguyễn Thị T2 đề nghị giải quyết, xét xử vắng mặt nhưng có lời trình bày như sau:

Ông S và bà T2 đã bán thửa đất số 241, tờ bản đồ số 28, tọa lạc tại xã T, huyện C theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất HO1519/13 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 29/7/2005 do ông Đặng Ngọc S đứng tên bán cho bà Bùi Thanh T1 vào năm 2008. Vì đất đã bán lâu quá nên ông bà không nhớ giá bán chính xác. Nay ngân hàng khởi kiện bà T1 thì ông S và bà T2 không có ý kiến gì vì đất đã bán từ rất lâu và cũng không có tranh chấp liên quan đến thửa đất nói trên. Sau khi vay tiền của Ngân hàng B, bà T1 không có bàn giao lại cho ông S và bà Thanh khoản tiền nào. Do đó, đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Đồng thời, ông S và bà T2 đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt ông bà trong vụ án này.

Tại phiên tòa hôm nay:

- Nguyên đơn giữ ý kiến trình bày như trên, đồng thời yêu cầu bà Bùi Thanh T1 phải thanh toán số tiền theo Hợp đồng tín dụng số S5000171B/HĐTD/NASB.HCM-PGD5.HTP ngày 26/9/2008, tính đến ngày 18/8/2023 là 2.812.479.166 đồng (trong đó nợ gốc là 500.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 97.416.666 đồng; nợ lãi quá hạn là 2.215.062.500 đồng).

Trường hợp bà Bùi Thanh T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì B1 được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Cụ thể tài sản là: Quyền sử dụng đất trồng lúa có diện tích 1.186,1 m², thửa số 241, tờ bản đồ 28, tọa lạc tại xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 844379, số vào sổ cấp GCN QSDĐ: H01519/13 do UBND huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 29/07/2005, đứng tên ông Đặng Ngọc S và vợ là bà Nguyễn Thị T2. Bà T1 phải chịu các khoản lãi phát sinh kể từ ngày 19/8/2023 cho đến ngày thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ theo Hợp đồng tín dụng. Ngoài ra, Ngân hàng yêu cầu bà T1 phải hoàn lại 10.000.000 đồng là chi phí thẩm định tại chỗ cho Ngân hàng.

- Bị đơn bà Bùi Thanh T1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Tòa án không lấy được lời khai cũng như không tiến hành hòa giải được. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

+ Về việc tuân theo pháp luật: Đương sự, Thư ký và Hội đồng xét xử đều tuân theo đúng qui định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

+ Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Bùi Thanh T1 phải phải thanh toán số tiền theo Hợp đồng tín dụng số S5000171B/HĐTD/NASB.HCM-PGD5.HTP ngày 26/9/2008, tính đến ngày 18/8/2023 là 2.812.479.166 đồng (trong đó nợ gốc là 500.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 97.416.666 đồng; nợ lãi quá hạn là 2.215.062.500 đồng). Thanh toán một lần ngay sau khi án có hiệu lực thi hành. Bà T1 có trách nhiệm thanh toán khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 19/08/2023 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

Trường hợp bà Bùi Thanh T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì B1 được quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án phát mại tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là Quyền sử dụng đất trồng lúa có diện tích 1.186,1 m², thửa số 241, tờ bản đồ 28, tọa lạc tại xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 844379, số vào sổ cấp GCN QSDĐ: H01519/13 do UBND huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 29/07/2005, đứng tên ông Đặng Ngọc S và vợ là bà Nguyễn Thị T2. Ngoài ra, bà T1 phải hoàn lại 10.000.000 đồng là chi phí thẩm định tại chỗ cho Ngân hàng.

T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quyền khởi kiện, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:

Căn cứ đơn khởi kiện của Ngân hàng TMCP B, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án tranh chấp về hợp đồng tín dụng. Do bị đơn Bùi Thanh T1 có hộ khẩu thường trú và đang thực tế cư trú tại quận T nên Tòa án nhân dân quận Tân Phú thụ lý giải quyết là phù hợp theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục xét xử vắng mặt: Bà Bùi Thanh T1 đã được Tòa án nhân dân quận Tân Phú niêm yết hợp lệ quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập theo qui định tại các Điều 177, Điều 208, Điều 209, Điều 210 Bộ luật Tố tụng dân sự nhưng bà T1 vẫn vắng mặt. Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bà T1 theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Ông Võ Anh K, ông Đặng Ngọc S và bà Nguyễn Thị T2 có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt, vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên theo quy định tại Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

[3] Về yêu cầu của nguyên đơn:

[3.1] Về nợ gốc:

Căn cứ Hợp đồng tín dụng số S5000171B/HĐTD/NASB.HCM-PGD5.HTP ngày 26/9/2008, các giấy nhận nợ và quá trình thanh toán, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định bà Bùi Thanh T1 có vay của Ngân hàng số tiền là 500.000.000 đồng

Tại Điều 5 của Hợp đồng tín dụng số S5000171B/HĐTD/NASB.HCM-PGD5.HTP ngày 26/9/2008 giữa Ngân hàng và bà Bùi Thanh T1 quy định về thời hạn trả nợ. Theo quy định, khách hàng trả không đầy đủ, đúng hạn khoản cấp tín dụng theo hợp đồng thì coi là sự kiện vi phạm.

Căn cứ khoản 1 Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng quy định: “Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm các quy định trong hợp đồng cấp tín dụng”.

Xét bị đơn bà Bùi Thanh T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, không tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng mặc dù đã được Ngân hàng thông báo nhắc nợ nhưng phía bị đơn vẫn không thanh toán đầy đủ số tiền nợ gốc cho Ngân hàng là đã vi phạm điều khoản thoản thuận giữa các bên theo các hợp đồng đã ký. Do đó việc Ngân hàng TMCP B khởi kiện bà Bùi Thanh T1 yêu cầu thanh toán nợ gốc 500.000.000 đồng là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.2] Về yêu cầu thanh toán lãi:

Tại Giấy nhận nợ ngày 08/10/2008, ngày đến hạn theo giấy nhận nợ 08/10/2009. Đồng thời, ghi nhận thời hạn vay là 12 tháng với lãi suất thả nổi 1,75%/tháng; lãi suất nợ quá hạn là 150% lãi suất cho vay trong hạn; mức phí phạt chậm trả lãi từ 0,05%-1,00%/ngày trên số tiền lãi chậm trả và số ngày chậm trả tương ứng.

Tại khoản 2 Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng quy định: "Trong trường hợp khách hàng không trả được nợ đến hạn thì tổ chức tín dụng có quyền xử lý nợ theo hợp đồng tín dụng", ngoài ra tại khoản 2 Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng quy định: "Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật". Vì Ngân hàng có chức năng hoạt động tín dụng nên lãi suất sẽ do thỏa thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng. Do đó, nguyên đơn căn cứ vào lãi suất thỏa thuận giữa hai bên tại hợp đồng tín dụng, giấy nhận nợ để tính lãi là phù hợp quy định tại Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng. Xét, do bà Bùi Thanh T1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng yêu cầu bị đơn trả tiền lãi là có cơ sở, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn bà Bùi Thanh T1 phải có trách nhiệm thanh toán toàn bộ nợ gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng số S5000171B/HĐTD/NASB.HCM-PGD5.HTP ngày 26/9/2008 tính đến ngày 18/8/2023 là 2.812.479.166 đồng (trong đó nợ gốc là 500.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn là 97.416.666 đồng; nợ lãi quá hạn là 2.215.062.500 đồng).

[3.3]. Về thời hạn thanh toán: Xét Ngân hàng yêu cầu bà Bùi Thanh T1 phải thanh toán toàn bộ khoản nợ gốc và lãi một lần ngay sau khi án có hiệu lực. Do bà Bùi Thanh T1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo thỏa thuận tại hợp đồng nên yêu cầu của ngân hàng là có cơ sơ chấp nhận.

[4] Về yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm:

Căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 844379 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 29/7/2005 thì ông Đặng Ngọc S là chủ sở hữu đối với quyền sử dụng đất tại thửa đất số 241, thuộc tờ bản đồ số 28, tọa lạc tại xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tại Hợp đồng ủy quyền ngày 26/9/2008 tại Phòng Công chứng số 02 giữa ông Đặng Ngọc S, bà Nguyễn Thị T2 và bà Bùi Thanh T1 có nội dung thể hiện bà T1 được quyền thay mặt ông S và bà T2 để làm thủ tục thế chấp, tặng cho hoặc chuyển nhượng đối với quyền sử dụng đất nêu trên. Đồng thời, tại Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số S5000171B/HĐTC/NASB.HCM-PGD5.HTP ngày 08/10/2008, có nội dung: Bên A (bà Bùi Thanh T1) đồng ý thế chấp các tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền quản lý của bên A để đảm bảo thực hiện thanh toán (nợ gốc, lãi phát và phí) tại các hợp đồng tín dụng số S5000171B/HĐTD/NASB.HCM-PGD5.HTP ký với bên B (Ngân hàng) vào ngày 26/8/2008. Cũng tại Điều 2 của Hợp đồng thế chấp này xác định tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 241, thuộc tờ bản đồ số 28, tọa lạc tại xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngoài ra, tại Điều 4 của Hợp đồng thế chấp quy định về quyền và nghĩa vụ các bên thể hiện ngân hàng được quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật.

Tại phiếu xác minh ngày 27/6/2023 của Công an xã T, huyện C cho biết: Tại thửa đất số 241, thuộc tờ bản đồ số 28, tọa lạc tại xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh không có công trình xây dựng trên đất và không có ai cư ngụ trên đất.

Xét, theo quy định trên thì bên thế chấp là bà Bùi Thanh T1 cùng bên thứ ba đang giữ tài sản thế chấp là ông Đặng Ngọc S và bà Nguyễn Thị T2 có nghĩa vụ giao tài sản thế chấp cho bên nhận thế chấp là Ngân hàng TMCP B để xử lý theo quy định pháp luật. Vì vậy, yêu cầu của Ngân hàng về việc phát mãi tài sản đảm bảo là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 241, thuộc tờ bản đồ số 28, tọa lạc tại xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh nếu đến hạn mà bà Bùi Thanh T1 không thực hiện nghĩa vụ thanh toán là phù hợp quy định tại Điều 299, khoản 6 Điều 320, khoản 2 Điều 324 Bộ luật Dân sự nên Hội đồng xét xử có cơ sở chấp nhận.

[5] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Nguyên đơn yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải chịu chi phí xem xét tại chỗ là 10.000.000 đồng. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên buộc bị đơn phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[6] Xét ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[7] Về án phí:

Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bà Bùi Thanh T1 phải chịu án phí trên số tiền phải trả cho nguyên đơn theo quy định tại Điều 6, Điểm b khoản 1 Điều 24, khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bà T1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 88.249.583 đồng.

Hoàn trả toàn bộ số tiền tạm ứng án phí là 41.998.542 đồng cho Ngân hàng TMCP B.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 36; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 157; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Điều 229; Điều 320; Điều 324; Điều 463; Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • - Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • - Điều 6; điểm b khoản 1 Điều 24; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP B.

  • - Buộc bà Bùi Thanh T1 phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng TMCP B số nợ theo Hợp đồng tín dụng số S5000171B/HĐTD/NASB.HCM-PGD5.HTP ngày 26/9/2008, tính đến ngày 18/8/2023 số tiền là 2.812.479.166 (hai tỷ tám trăm mười hai triệu bốn trăm bảy mươi chín nghìn một trăm sáu mươi sáu) đồng, trong đó nợ gốc là 500.000.000 (năm trăm triệu) đồng; nợ lãi trong hạn là 97.416.666 (chín mươi bảy triệu bốn trăm mười sáu nghìn sáu trăm sáu mươi sáu) đồng; nợ lãi quá hạn là 2.215.062.500 (hai tỷ hai trăm mười lăm triệu không trăm sáu mươi hai nghìn năm trăm) đồng.
  • - Thời hạn thi hành: Ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
  • - Địa điểm thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

[2]. Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm bà Bùi Thanh T1 còn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh trên nợ gốc chưa trả, theo mức lãi suất thỏa thuận tương ứng với Hợp đồng tín dụng số S5000171B/HĐTD/NASB.HCM-PGD5.HTP ngày 26/9/2008 cho đến khi trả xong toàn bộ khoản nợ. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ thì lãi suất tiếp tục thanh toán sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng.

[3]. Sau khi bà Bùi Thanh T1 trả hết số nợ nêu trên cho Ngân hàng TMCP B thì Ngân hàng phải giải chấp tài sản đảm bảo là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 241, thuộc tờ bản đồ số 28, tọa lạc tại xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định của pháp luật.

[4]. Khi bản án có hiệu lực pháp luật, bà Bùi Thanh T1 không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần B có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại thửa đất số 241, thuộc tờ bản đồ số 28, tọa lạc tại xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AC 844379 do Ủy ban nhân dân huyện C cấp ngày 29/7/2005) theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và nhà ở số S5000171B/HĐTC/NASB.HCM-PGD5.HTP ngày 08/10/2008 được công chứng số 034955, quyển số 10TP/CC-SCC/HĐGD ngày 8/10/2008 của Phòng C1, việc đăng ký thế chấp được thực hiện hoàn tất tại Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, để thu hồi nợ.

[5] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ: Buộc bà Bùi Thanh T1 phải trả cho Ngân hàng số tiền xem xét thẩm định tại chỗ là 10.000.000 (mười triệu) đồng.

[6] Án phí dân sự sơ thẩm:

  • - Bà Bùi Thanh T1 phải chịu án phí là 88.249.583 (tám mươi tám triệu hai trăm bốn mươi chín nghìn năm trăm tám mươi ba) đồng.
  • - Hoàn trả toàn bộ số tiền tạm ứng án phí là 41.998.542 (bốn mươi mốt triệu chín trăm chín mươi tám nghìn năm trăm bốn mươi hai) đồng cho Ngân hàng TMCP B theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2021/0036877 ngày 19/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú.
  • Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

[7] Quyền kháng cáo:

Đương sự có mặt có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND Q. Tân Phú;
  • - Chi cục T;
  • - Lưu VP, hồ sơ (O)./.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Lê Viết Hoàng Lâm
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 439/2023/DS – ST ngày 18/08/2023 của Tòa án Nhân dân Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 439/2023/DS – ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/08/2023
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án Nhân dân Quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger