|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 439/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 17-7 - 2024
V/v "Ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Văn Chiến
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lê Văn Phương
- Ông Lương Phi Hùng
Thư ký phiên toà: Ông Trần Thiện Nhân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa: Ông Lưu Tiến Dũng – Kiểm sát viên sơ cấp
Trong ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 21/2024/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp Hôn nhân và Gia đình “ Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 104/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2024, Quyết định Hoãn phiên toà số 78/2024/QĐST - DS, ngày 29/3/2024, Quyết định tạm ngừng phiên toà số 02/QĐST -DS, ngày 12/4/2024 và thông báo mở lại phiên toà số 11/2024/TB -MPT, ngày 01/7/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Nguyễn Thành V, sinh năm 1955.
Nơi cư trú: số A, tổ D, ấp P, xã P, thị xã T, tỉnh An Giang. Số điện thoại: 0833.330.xxx;
- Bị đơn: bà Nguyễn Thị Minh T, sinh năm 1959.
Nơi cư trú: tổ A, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.
(ông V xin vắng mặt, bà T vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình hòa giải, nguyên đơn ông Nguyễn Thành V trình bày: Ông và bà Nguyễn Thị Minh T tự tìm hiểu, quen biết, được cha mẹ hai bên đồng ý tổ chức lễ cưới và chung sống với nhau từ năm 1976, từ đó đến nay không có đăng ký kết hôn. Sau khi cưới vợ chồng sống chung với gia đình bà T, được một thời gian do không hợp nhau cách sinh hoạt nên cũng thường xuyên cãi vã, càng về sau vợ chồng càng phát sinh nhiều chuyện rồi mâu thuẫn, chủ yếu là về chuyện tiền bạc chi tiêu trong cuộc sống, chăm sóc con rồi chuyện làm kinh tế trong gia đình không đồng thuận, nên từ đó vợ chồng thường xuyên cãi nhau dẫn đến tình cảm vợ chồng phai nhạt. Đến khoảng năm 2009-2010 thì ông bỏ đi đến Thành phố Hồ Chí Minh sinh sống và làm nhiều công việc tự mưu sinh, từ đó vợ chồng chính thức ly thân cho đến nay. Quá trình ly thân vợ chồng có liên lạc nhưng cũng không thể hàn gắn được, bà T tự ý bán nhiều tài sản chung của vợ chồng mà không hỏi ý kiến của ông, không quan tâm hay tôn trọng ông, vì vậy tình cảm không còn nên ông yêu cầu được ly hôn với bà Nguyễn Thị Minh T.
- Về con chung: có 03 con chung tên Nguyễn Thị Diễm C, sinh năm 1978, Nguyễn Thị Kiều C1, sinh năm 1979 và Nguyễn Viễn C2, sinh năm 1981. Nay cả 03 con đã thành niên và lao động được nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung, nợ chung: tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết.
* Bà Nguyễn Thị Minh T vắng mặt từ khi Toà án thụ lý vụ án nên không có ý kiến trình bày
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân:
- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng quy định pháp luật, tuy nhiên bà T vắng mặt suốt quá trình tố tụng là chấp hành pháp luật chưa nghiêm, bà cũng được tống đạt triệu tập để nghe xét xử đến lần thứ 2 mà vẫn vắng mặt, ông V có đơn xin vắng mặt và có ý kiến trình bày rõ ràng yêu cầu của mình, do đó đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) xét xử vắng mặt ông V và bà T theo Điều 227 và Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Hôn nhân của ông, bà do hai người tự tìm hiểu được cha mẹ chấp thuận, có tổ chức lễ cưới năm 1976, đến nay không có đăng ký kết hôn, thời gian đầu chung sống hạnh phúc cùng gia đình bà T, sau đó phát sinh mâu thuẩn giữa ông V với gia đình bà T, rồi sau đó giữa hai ông bà cũng phát sinh nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống như chi tiêu tiền bạc, công việc làm kinh tế cho gia đình rồi chăm sóc con cái, kéo dài đến năm 2009 ông V bỏ lên TP HCM tìm việc làm tự nuôi sống bản thân từ đó vợ chồng chính thức ly thân cho đến nay, sau khi ly thân hai người cũng có liên lạc tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn, nhưng cũng không được, cuộc sống khó khăn bệnh tật, đau ốm không có tiền chi tiêu bà T bán tài sản chung để trang trải cuộc sống mà không thông tin cho ông V biết, từ đó làm cho mâu thuẫn vợ chồng càng thêm gay gắt, tình cảm vợ chồng phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được, nên ông V yêu cầu ly hôn với bà T là có căn cứ, phù hợp với lời trình bày của ông Trương Văn D (Trưởng Ban N, xã P), Tuy ông bà chung sống đến nay không có đăng ký kết hôn, nhưng theo Nghị quyết số 35/2000/NQQH10, ngày 09/6/2000 của Quốc Hội khoá X hướng dẫn áp dụng và thi hành Luật HN và GĐ năm 2000 thì hôn nhân của ông, bà được xác lập trước ngày 03/01/1987 là hôn nhân thực tế được coi là hôn nhân hợp pháp, khi ly hôn thì áp dụng Luật hôn nhân và Gia đình để giải quyết, hiện nay ông bà đã ly thân khá lâu để cho mỗi người có cuộc sống riêng, nên đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông V như nhận định phần trên cũng phù hợp với Điều 56 Luật HN và GĐ năm 2014.
- Về con chung: có 03 con chung tên Nguyễn Thị Diễm C, sinh năm 1978, Nguyễn Thị Kiều C1, sinh năm 1979 và Nguyễn Viễn C2, sinh năm 1981. Nay cả 03 con đã thành niên và tự lao động lo cho cuộc sống bản thân nên không cần đặt ra xem xét
- Về tài sản chung và nợ chung do đương sự không có yêu cầu nên không đặt ra giải quyết
Đồng thời buộc các đương sự chịu án phí theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về người tham gia tố tụng: nguyên đơn ông Nguyễn Thành V yêu cầu được vắng mặt khi xét xử, ông có ý kiến trình bày rõ ràng yêu cầu của mình; bị đơn bà Nguyễn Thị Minh T đã được tống đạt các văn bản tố tụng cũng như triệu tập lần thứ 2 để nghe xét xử, nhưng bà vẫn vắng mặt, việc vắng mặt của ông, bà không ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, nên HĐXX xét xử vắng mặt ông, bà theo Điều 227 và Điều 228 Bộ Luật Tố tụng dân sự để đảm bảo quyền lợi cho các bên.
[1.2] Về thẩm quyền giải quyết: hiện nay bà T cư trú tại ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang, nên ông V khởi kiện xin ly hôn là thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Về quan hệ tranh chấp: ông Văn x ly hôn, nên quan hệ tranh chấp là “ Ly hôn” theo quy định tại khỏan 1 Điều 28 Bộ Luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Xét chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện, hôn nhân của ông, bà do hai người tự tìm hiểu, được cha mẹ đồng ý, tổ chức lễ cưới năm 1976, chung sống đến nay không có đăng ký kết hôn, nhưng theo Nghị quyết số 35/2000/NQQH10, ngày 09/6/2000 của Quốc Hội khoá X hướng dẫn áp dụng và thi hành Luật HN và GĐ năm 2000 thì hôn nhân của ông, bà được xác lập trước ngày 03/01/1987 (trước ngày Luật Hôn nhân và Gia đình 1986 có hiệu lực) là hôn nhân thực tế được coi là hôn nhân hợp pháp, khi ly hôn thì áp dụng Luật hôn nhân và Gia đình để giải quyết.
Sau khi cưới ông bà chung sống cùng với gia đình bà T, thời gian đầu chung sống hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẩn giữa ông V với gia đình bà T, rồi giữa hai ông bà cũng phát sinh nhiều mâu thuẫn trong cuộc sống như chi tiêu tiền bạc, công việc làm kinh tế cho gia đình rồi chăm sóc con cái, kéo dài đến năm 2009 ông V bỏ lên TP HCM tìm việc làm tự nuôi sống bản thân từ đó vợ chồng chính thức ly thân cho đến nay, sau khi ly thân hai người cũng có liên lạc tạo điều kiện để vợ chồng hàn gắn, nhưng cũng không được, cuộc sống khó khăn bệnh tật, đau ốm không có tiền chi tiêu bà T bán tài sản chung để trang trải cuộc sống mà không thông tin cho ông V biết, khi ông V biết được thì xảy ra xung đột làm cho mâu thuẫn vợ chồng càng thêm gay gắt, tình cảm vợ chồng phai nhạt, mục đích hôn nhân không đạt được, nên ông V yêu cầu ly hôn với bà T là có căn cứ, phù hợp với lời trình bày của ông Trương Văn D (Trưởng Ban N, xã P), nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông V theo quy định tại Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014.
- Về con chung có 03 con chung tên Nguyễn Thị Diễm C, sinh năm 1978, Nguyễn Thị Kiều C1, sinh năm 1979 và Nguyễn Viễn C2, sinh năm 1981, cả 03 con đã thành niên và tự lao động lo cho cuộc sống bản thân nên không cần đặt ra xem xét
- Về tài sản chung và nợ: do đương sự không có yêu cầu Toà án giải quyết, nên không đặt ra xem xét
Ghi nhận ông V khai không có nợ chung, nhưng sau khi bản án ly hôn có hiệu lực pháp luật, nếu có đương sự xuất trình chứng cứ chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì ông V, bà T phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án khác.
[3] Về án phí: Ông Nguyễn Thành V là người xin ly hôn, nên phải chịu án phí theo quy định pháp luật, nhưng ông trên 60 tuổi có đơn xin miễn, hội đồng xét xử miễn cho ông.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- - Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ Luật Tố tụng Dân sự 2015;
- - Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án dân sự;
- - Căn cứ Điều 26, khoản 5 Điều 27, Điều 48 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của ông Nguyễn Thành V đối với bà Nguyễn Thị Minh T.
- - Về hôn nhân: ông Nguyễn Thành V được ly hôn với bà Nguyễn Thị Minh T.
- - Về con chung, tài sản chung; nợ chung phải thu, phải trả: không giải quyết
- - Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí ly hôn cho ông Nguyễn Thành V, bà Nguyễn Thị Minh T không phải chịu án phí.
Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hoặc niêm yết bản sao bản án.
Trường hợp bản án, được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sư, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Thành viên của Hội đồng xét xử |
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |
|
Lê Văn P - L |
Bùi Văn C3 |
Bản án số 439/2024/HNGĐ-ST ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về ly hôn
- Số bản án: 439/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của ông Nguyễn Thành V đối với bà Nguyễn Thị Minh T.
