Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


Bản án số: 439/2024/DS - PT

Ngày: 16-05-2024

V/v "Tranh chấp hợp đồng thi

công xây dựng”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Kim Thương

Các Thẩm phán: 1. Ông Uông Văn Tuấn

2. Bà Nguyễn Thị Thu

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy, Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đồng Văn Nam – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 05 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 263/2024/TLPT-DS ngày 14 tháng 03 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 4295/2023/DS-ST ngày 13 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1594/2024/QĐ - PT ngày 27 tháng 03 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 4567/2024/QĐ-PT ngày 23 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Công ty TNHH T3.

Địa chỉ: 1 N, phường C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quốc L, sinh năm 1985 (có mặt).

Địa chỉ: B L, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư lê Văn L1 (có mặt).

Bị đơn: Ông Nguyễn Kim V, sinh năm 1968 và Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1972; (bà T có mặt).

Cùng địa chỉ: F N, phường C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Võ Thị Minh T1, sinh năm 1978 (có mặt).

Địa chỉ: 2 N, Phường G, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thúy H, Luật sư Công ty L3, Đoàn luật sư TP . (có mặt).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Công ty Cổ phần G.

Địa chỉ: B L, phường A, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Trịnh Thành T2 (vắng mặt).

- Ngân hàng N (chi nhánh Đ1).

Địa chỉ liên hệ: 96 Đ, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Bùi Trọng Đ (xin vắng mặt).

Do có kháng cáo của nguyên đơn – Công ty TNHH T3.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung Đơn khởi kiện, các bản tự khai tại Tòa của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 01/3/2018, ông Nguyễn Kim V, bà Nguyễn Thị T và Công ty TNHH T3 (sau đây gọi tắt là Công ty T3) ký Hợp đồng giao thầu thi công trung tâm thương mại số 09 ST/HĐTC-03/2018. Theo đó, Công ty TNHH T3 là đơn vị thi công công trình nhà ở dân dụng tại số F N, phường T, Quận B (nay là Thành phố T) do ông V và bà T là chủ sở hữu với giá trị hợp đồng là 58.750.950.000 đồng, thời gian thi công dự kiến là ngày 26/10/2018.

Ngày 30/8/2018, ông V, bà T và Công ty T3 đã ký Biên bản thỏa thuận xác nhận nợ và thanh toán với nội dung ông V và bà T đã thanh toán được số tiền 27.408.000.000 đồng, số tiền còn lại 31.342.950.000 đồng, ông V và bà T được trả chậm trong vòng 03 năm, phương thức thanh toán mỗi tháng là 870.637.500 đồng.

Ngày 19/9/2018, ông V, bà T tiếp tục thanh toán số tiền 6.000.000.000 đồng.

Ngày 10/6/2020, ông V, bà T và Công ty T3 đã ký Biên bản thỏa thuận xác nhận nợ và thanh toán với nội dung ông V và bà T đã thanh toán được số tiền 33.408.000.000 đồng, số tiền còn lại 25.342.950.000 đồng, ông V và bà T được trả chậm trong vòng 05 năm, không thỏa thuận thời gian bắt đầu trả nợ, phương thức thanh toán theo khả năng chi trả của ông V, bà T.

Ngày 10/6/2020, Công ty T3 đã bàn giao công trình cho ông V và bà T.

Căn cứ vào biên bản thỏa thuận và xác nhận công nợ ngày 30/8/2018 và ngày 10/6/2020, ông V và bà T hàng tháng phải trả cho Công ty T3 số tiền 870.637.500 đồng trong thời hạn 05 năm. Tuy nhiên từ ngày 30/8/2018 cho đến nay, ông V và bà T chưa thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Công ty T3. Ngoài ra ông V, bà T chỉ xác nhận giá trị hợp đồng là 37.797.260.000 đồng, không xác nhận giá trị hợp đồng là 58.750.950.000 đồng. Công ty T3 khởi kiện yêu cầu ông V, bà T có nghĩa vụ thanh toán số tiền 25.342.950.000 đồng một lần ngay khi bản án hoặc quyết định của tòa án có hiệu lực pháp luật.

Bà Võ Thị Minh T1 là đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Ông V, bà T và Công ty T3 có giao kết Hợp đồng giao thầu thi công nhà ở dân dụng số 218 ST/HĐTC-03/2018 ngày 01/3/2018 với diện tích thi công phần thô là 5.043 m2, đơn giá thi công là 5.230.116 đồng, giá trị hợp đồng là 26.375.475.000 (Hai mươi sáu tỉ, ba trăm bảy mươi lăm triệu, bốn trăm bảy mươi lăm ngàn) đồng và Hợp đồng không số ST/HĐTC-03/2018 ngày 01/3/2018 về việc thi công hoàn chỉnh khoán trọn gói công trình nhà ở dân dụng tại địa chỉ số F N, K, phường T, thành phố T, diện tích xây dựng tạm tính là 5.043 m2, giá trị hợp đồng là 58.750.950.000 đồng (chưa bao gồm VAT).

Trên thực tế Công ty T3 mới chỉ hoàn thiện được diện tích 3.244,4 m2 (theo giấy chứng nhận) mà trong diện tích này có nhiều hạng mục không hoàn thiện.

Trong khi đến tháng 3/2018 ông V, bà T đã thanh toán tạm ứng cho Công ty T3 số tiền là: 33.408.000.000 đồng (Biên bản thỏa thuận xác nhận nợ và thanh toán).

Ngày 19/9/2018, ông V và bà T thanh toán cho Công ty T3 số tiền 6.000.000.000 đồng (thanh toán bằng tiền mặt, có biên bản xác nhận). Đây là số tiền thanh toán cho căn P nằm ngoài giấy phép xây dựng của công trình nhà ở dân dụng tại số F N, phường T, Quận B.

Tổng số tiền ông V, bà T đã thanh toán tạm ứng cho Công ty T3 là:

(33.408.000.000 đồng + 6.000.000.000 đồng) = 39.408.000.000 đồng.

Theo thỏa thuận trong Hợp đồng ông V, bà T sẽ thanh toán phần còn lại cho Công ty T3 khi Công ty này thực hiện xây dựng hoàn thiện xong toàn bộ các hạng mục để ông V, bà T đưa công trình vào sử dụng (vì tổng giá trị công trình trên là đơn giá hoàn thiện) và đầy đủ pháp lý về PCCC và Sở T4. Tuy nhiên, Công ty T3 đã cố tình không thực hiện hoàn thiện các hạng mục, khi ông V, bà T gửi yêu cầu đến thực hiện tiếp các hạng mục công ty này vẫn cố tình không đến và sau đó đã khởi kiện yêu cầu ông V, bà T. Vì thế ông V, bà T phải lập vi bằng ghi nhận hiện trạng sau khi Công ty T3 không đến để có bằng chứng để ghi nhận lại sự việc, và để có bằng chứng khởi kiện, và yêu cầu nhà thầu khác hoàn thiện công trình (đối với phần Công trình Công ty T3 không thực hiện) để ông V, bà T đưa vào sử dụng trên thực tế.

Do đó, đối với yêu cầu khởi kiện của Công ty T3, ông V, bà T không đồng ý và yêu cầu Tòa trưng cầu giám định khối lượng xây dựng thực tế và thẩm định giá đối với công trình mà Công ty T3 đã thi công, nếu Công ty T3 thi công khối lượng công trình lớn hơn số tiền mà ông V, bà T đã thanh toán thì ông V, bà T sẽ thanh toán nốt số tiền còn thiếu tương ứng với khối lượng thực tế đã thi công, nếu Công ty T3 thi công không đủ khối lượng công trình so với số tiền ông V bà T đã thanh toán thì ông V, bà T yêu cầu Công ty T3 phải trả lại cho ông V, bà T phần giá trị vượt quá, giá trị tranh chấp tạm tính là là 2.000.000.000 (Hai tỷ đồng) và không yêu cầu tính lãi.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần G có bà Đỗ Thị Thùy L2 đại diện ủy quyền trình bày bản tự khai như sau:

Khoảng đầu tháng 12/2020, Công ty Cổ phần G (sau đây gọi tắt là “Công ty G") đã làm việc và đàm phán với ông Nguyễn Kim V và bà Nguyễn Thị T (sau đây gọi tắt là “Ông V, Bà T”) để thuê toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản hình thành trên đất tại địa chỉ A đường A, khu phố B, phường T, Quận B và tại địa chỉ F N, phường T, Quận B (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh. Sau quá trình thương lượng, ngày 18/12/2020, Công ty G là Bên thuê và ông Nguyễn Kim V, bà Nguyễn Thị T là B cho thuê đã ký Hợp đồng thuê tài sản về việc Công ty G thuê toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản hình thành trên thửa đất số 589, tờ bản đồ số 14, giấy chúng nhận số CH 03670, số phát hành GCN: BR 385545, địa chỉ 11 đường A, khu phố B, phường T, Quận B; và thuê 1 phần quyền sử dụng đất và tài sản hình thành trên thửa đất số 1,2, tờ bản đồ số 4 (sơ đồ nền) có giấy chứng nhận hồ sơ gốc số: 360/2004, số phát hành GCN: 70103213631, địa chỉ: F N, phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Tại thời điểm ký kết Hợp đồng thuê tài sản ông V và bà T đã cam kết tài sản cho thuê hiện không bị tranh chấp bởi bất cứ bên thứ ba nào, và bên cho thuê chịu trách nhiệm về mọi tranh chấp phát sinh liên quan đến quyền sở hữu, khai thác và cho thuê tài sản cho thuê với bất kỳ bên thứ ba nào. Vào lúc 15h ngày 16/3/2021 Công ty G và ông V, bà Tạo lập biên bản bàn giao tài sản cho thuê có nội dung như sau: ông V, bà T bàn giao toàn bộ tòa nhà và mặt bằng sân xung quanh, các tài sản gắn liền với tòa nhà, kết cấu tòa nhà bao gồm 01 hầm, 01 trệt, 05 lầu, sân thượng, hoàn thiện sàn lót gạch, trần thạch cao, hệ thống phòng cháy chữa cháy, hệ thống điện chiếu sáng, hệ thống điều hòa không khí, máy phát điện và bên ngoài tòa nhà bao gồm xung quanh tòa nhà ốp kính, sân ngoài nhà hoàn thiện gạch.

Trên đây là các nội dung của Công ty G thuê tài sản và nhận bản giao tài sản từ ông V, bà T là bên cho thuê. Công ty G đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức xem xét giải quyết vụ việc một cách khách quan, đúng quy định pháp luật và đảm bảo đầy đủ quyền lợi của Công ty G là bên thuê tài sản theo quy định pháp luật. Ngoài ra, bà L2 có đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan Ngân hàng N - Chi nhánh Đ1 do ông Bùi Trọng Đ là đại diện ủy quyền có bản tự khai trình bày như sau:

Ngày 26 tháng 06 năm 2018 Ngân hàng N - Chi nhánh Đ1 (sau đây viết tắt là A -CN Đông S) và ông Nguyễn Kim V, bà Nguyễn Thị T có ký Hợp đồng tín dụng số: 6280LAV 201801102 và ông V, bà T đã thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tải sản gắn liền với đất của căn nhà tọa lạc tại số F N, phường T, Quận B (nay là Thành phố T), thành phố Hồ Chí Minh cho Ngân hàng để đảm bảo cho khoản vay trên. Từ khi vay tiền cho đến nay ông V, bà T vẫn thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng tín dụng với A -CN Đông S. Thực tế ông V, bà T đang sử dụng một phần căn nhà để ở và kinh doanh và cho thuê một phần căn nhà số F N, phường T, Quận B (nay là Thành phố T) thành phố Hồ Chí Minh. Nay Công ty TNHH T3 khởi kiện ông Nguyễn Kim V, bà Nguyễn Thị T về việc tranh chấp hợp đồng xây dựng, vụ kiện tranh chấp này không liên quan gì đến A - CN Đông S. Do đó, A - C1 không có ý kiến gì và có đơn xin vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án, đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức xét xử vụ kiện trên theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa:

Tại phiên tòa Chủ tọa công bố Công văn xác minh số 4837 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Công văn số 1428/UBND ngày 26/10/2023 của Ủy ban nhân dân phường T, Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 6072/QĐ – XPVPHC ngày 04/12/2019 của Ủy ban nhân dân Quận B1 và Quyết định trưng cầu giám định bổ sung số 7078/2023 ngày 30/10/2023, Phụ lục III Chứng thư thẩm định giá bổ sung của Công ty T5.

Đại diện ủy quyền của Công ty T3 vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu ông V và bà T thanh toán số tiền 25.342.950.000 đồng còn thiếu theo thỏa thuận tại Hợp đồng số 09 ST/HĐTC - 03 ngày 01/3/2018. Thanh toán một lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

Đại diện ủy quyền của bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và vẫn giữ nguyên yêu cầu phản tố. Bà Minh T1 cho rằng giữa ông V, bà T và Công ty T3 (hai) hợp đồng: Hợp đồng số 218 ngày 01/3/2018 là hợp đồng thỏa thuận về việc xây thô công trình trị giá 26.375.475.000 đồng và Hợp đồng không số đề ngày 01/3/2018 về việc khoán trọn gói công trình trị giá 58.750.950.000 đồng tại số F N, phường T, Quận B. Tuy nhiên, trong hồ sơ thể hiện phía nguyên đơn cung cấp là Hợp đồng ghi số 09 ST/HĐTC - 03 ngày 01/3/2018 có cùng nội dung với Hợp đồng không số ngày 01/3/2018 mà bị đơn cung cấp, nên bà T1 thống nhất gọi là Hợp đồng số 09 ST/HĐTC - 03 ngày 01/3/2018. Sở dĩ tồn tại 02 (hai) hợp đồng 218 và hợp đồng 09 vì ký cùng ngày, hợp đồng 218 ký trước là thỏa thuận giá xây thô, hợp đồng 09 ký sau là thỏa thuận giá xây trọn gói.

Theo kết quả thẩm định giá do Công ty Cổ phần T5 tiến hành thẩm định giá trị công trình xây dựng tại thời điểm tháng 10/2020 là 34.464.154.000 đồng và Phụ lục III bổ sung chứng thư thẩm định giá đối với công trình xây dựng trái phép là 823.942.000 đồng, tổng cộng là 35.288.096.000 đồng. Như vậy so với số tiền ông V, bà T đã thanh toán, vượt quá phần giá trị thực tế xây dựng là: 4.119.904.000 (Bốn tỷ, một trăm mười chín triệu, chín trăm lẻ bốn ngàn) đồng. Do đó, ông Nguyễn Kim V, bà Nguyễn Thị T yêu cầu Công ty TNHH T3 hoàn trả lại cho ông V, bà T số đã thanh toán tạm ứng vượt quá phần giá trị công việc đã thực hiện là: 4.119.904.000 (Bốn tỷ, một trăm mười chín triệu, chín trăm lẻ bốn ngàn) đồng và không yêu cầu tính lãi.

Đại diện ủy quyền của Công ty T3 thừa nhận các bên có ký hai hợp đồng gồm: Hợp đồng số 218 (giá xây thô) và Hợp đồng số 09 ST/HĐTC - 03 ngày 01/3/2018 (giá xây hoàn thiện).

Luật sư L1 tranh luận: Luật sư yêu cầu tạm ngừng phiên tòa để tiến hành trưng cầu giám định lại, luật sư không đồng ý với kết quả trưng cầu giám định của Công ty T5 lý do phía bị đơn chỉ yêu cầu giám định khối lượng thực tế đã thi công nhưng Công ty thẩm định giá Thịnh V1 lại thẩm định giá đối với công trình là không đúng. Luật sư còn cho rằng 02 (hai) Vi bằng mà ông V, bà Tạo 1 không có giá trị pháp lý vì được lập sau khi các bên ký biên bản nghiệm thu công trình 05 (năm) tháng. Ngoài ra, căn cứ vào bản vẽ thiết kế Công ty T3 thực tế xây dựng còn nhiều hơn diện tích các bên thỏa thuận trong hợp đồng, trong bản vẽ hoàn công, giấy phép xây dựng và phần bị xử phạt vi phạm trái phép. Căn cứ vào Biên bản thỏa thuận xác nhận nợ và thanh toán ghi ngày 30/8/2018 ông V, bà T đã thanh toán số tiền 27.408.000.000 đồng; Biên bản xác nhận thanh toán ghi ngày 19/9/2018 thanh toán số tiền 6.000.000.000 đồng; Biên bản thỏa thuận xác nhận nợ và thanh toán ghi ngày 10/6/2020 đã thanh toán 33.408.000.000 đồng; Biên bản bàn giao công trình hoàn thành đưa vào sử dụng ghi ngày 10/6/2020. Căn cứ vào các tài liệu trên, Luật sư L1 cho rằng tính đến tháng 6/2020 ông V và bà T mới chỉ thanh toán cho Công ty T3 số tiền là 33.408.000.000 đồng, số tiền còn lại là 25.342.950.000 đồng chưa thanh toán. Tại buổi hòa giải ngày 13/7/2023 các bên thống nhất số tiền ông V, bà T đã thanh toán cho Công ty T3 là 39.408.000.000 đồng, luật sư cho rằng có sự nhầm lẫn nên phủ nhận toàn bộ nội dung đã thống nhất được tại biên bản hòa giải ngày 13/7/2023.

Luật sư H tranh luận: Luật sư H không đồng ý với phần tranh luận của luật sư L1 vì tại Đơn yêu cầu trưng cầu giám định ngày 13/6/2022 phía bị đơn yêu cầu kiểm định khối lượng thực tế thi công và thẩm định giá do đó Chứng thư thẩm định giá của Công ty T5 là đúng quy định. Đối với phần diện tích thực tế Công ty T3 xây dựng luật sư L1 cho rằng Công ty T3 xây dựng nhiều hơn so với diện tích thỏa thuận tạo Hợp đồng số 09, Giấy phép xây dựng và bản vẽ hoàn công căn cứ vào bản vẽ thiết kế là không hợp lý vì bản vẽ thiết kế có trước khi hai bên ký hợp đồng số 09 và trước khi xin giấy phép, ngoài ra luật sư nguyên đơn không đưa ra được tài liệu chứng cứ nào khác để chứng minh rằng Công ty T3 thực tế xây dựng nhiều hơn so với kết luận giám định. Đối với việc thanh toán, phía nguyên đơn chỉ cung cấp cho Tòa Biên bản thỏa thuận xác nhận nợ và thanh toán ghi ngày 10/6/2020 đã thanh toán 33.408.000.000 đồng nhưng nội dung lại ghi là tính đến tháng 8/2018 đã thanh toán 33.408.000.000 đồng chứ không phải tính đến ngày 10/6/2020, hơn nữa Biên bản này phía bị đơn có giữ một bản nhưng không đề ngày tháng năm, việc ghi ngày 10/6/2020 là do phía Công ty T3 tự ý điền ngày vào. Ngoài ra phía bị đơn còn cung cấp được Phụ lục thanh toán đính kèm hợp đồng không ghi số có ký tên đóng dấu của Công ty T3 nội dung ghi: “Giá trị đã thanh toán tạm ứng giai đoạn là 33.408.000.000 đồng, Giá trị còn lại là 25.342.950.000 đồng. Phần cuối có ghi 03/2018”. Tài liệu này nguyên đơn không cung cấp cho Tòa. Ngoài ra, Biên bản bàn giao công trình hoàn thành đưa vào sử dụng ghi ngày 10/6/2020 do Công ty T3 cung cấp có chữ ký của ông V, bà T ý nhằm mục đích để làm thủ tục hoàn công, trong nội dung biên bản này ông V, bà T chỉ xác nhận chất lượng công trình theo hợp đồng số 218 chứ không xác nhận khối lượng công trình đã thi công theo hợp đồng số 09 ngày 01/3/2018. Phía nguyên đơn không thể chỉ căn cứ vào những tài liệu này để cho rằng phía nguyên đơn đã hoàn thành nghĩa vụ theo hợp đồng số 09 và buộc bị đơn phải thanh toán số tiền còn lại theo thỏa thuận hợp đồng được vì thực tế nguyên đơn đã bỏ dở công trình và không hoàn thành theo đúng thảo thuận của hợp đồng. Tại phiên tòa hôm nay (ngày 08/11/2023), nếu phía nguyên đơn có thiện chí thì bị đơn đồng ý xác định tổng giá trị công trình là: 37.797.260.000 đồng (theo Thông báo khi lập vi bằng) + 823.942.000 (phần xây trái phép) = 38.621.202.000 đồng.

Tuy nhiên sau phiên tòa ngày 08/11/2023 đến phiên tòa ngày 13/11/2023, ông V, bà T thay đổi ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các chứng thư thẩm định giá của Công ty T5 để giải quyết theo quy định của pháp luật và không đồng ý xác định giá trị công trình là 37.797.260.000 đồng như phiên tòa ngày 08/11/2023 do Công ty T3 không có thiện chí hợp tác hòa giải.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần G có đơn xin vắng mặt nên không có lời trình bày tại phiên tòa.

Người có quyền và nghĩa vụ liên quan Ngân hàng N - Chi nhánh Đ1 có đơn xin vắng mặt nên không có lời trình bày tại phiên tòa.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 4295/2023/DS-ST ngày 13 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã căn cứ vào các Điều 116; 117; 513; 514; 515; 516; 517 Bộ luật Dân sự năm 2015; Căn cứ Điều 123; 124; 137; 144; 147 Luật xây dựng năm 2014, tuyên xử:

1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH T3 về việc buộc ông Nguyễn Kim V, bà Nguyễn Thị T phải thanh toán số tiền 25.342.950.000 (Hai mươi lăm tỷ, ba trăm bốn mươi hai triệu, chín trăm năm mươi ngàn) đồng.

2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Kim V, bà Nguyễn Thị T về việc buộc Công ty TNHH T3 phải trả lại cho ông Nguyễn Kim V, bà Nguyễn Thị T 4.119.904.000 (Bốn tỷ, một trăm mười chín triệu, chín trăm lẻ bốn ngàn) đồng. Thanh toán một lần ngay khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

3. Án phí dân sự sơ thẩm:

Công ty TNHH T3 phải chịu án phí là 133.342.950 (Một trăm ba mươi ba triệu, ba trăm bốn mươi hai ngàn, chín trăm năm mươi) đồng đối với yêu cầu không được chấp nhận và chịu án phí 112.119.904 (Một trăm mười hai triệu, một trăm mười chín ngàn, chín trăm lẻ bốn) đồng đối với yêu cầu phản tố của ông V, bà T được chấp nhận. Tổng số tiền án phí mà Công ty TNHH T3 phải chịu là 245.462.854 (Hai trăm bốn mươi lăm triệu, bốn trăm sáu mươi hai ngàn, tám trăm năm mươi bốn) đồng. Công ty TNHH T3 đã nộp tiền tạm ứng án phí là 66.671.475 (Sáu mươi sáu triệu, sáu trăm bảy mươi mốt ngàn, bốn trăm bảy mươi lăm) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số AA/2018/0028369 ngày 25 tháng 01 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh nên Công ty TNHH T3 còn phải nộp là 178.791.379 (Một trăm bảy mươi tám triệu, bảy trăm chín mươi mốt ngàn, ba trăm bảy mươi chín) đồng.

Ông Nguyễn Kim V và bà Nguyễn Thị T không phải chịu án phí. Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí cho ông Nguyễn Kim V và bà Nguyễn Thị T là 36.000.000 (Ba mươi sáu triệu) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số AA/2021/0026624 ngày 04 tháng 4 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Các bên Thi hành án tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về quyền kháng cáo và quy định về thi hành án cho các bên đương sự.

Ngày 20 tháng 11 năm 2023, nguyên đơn có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị hủy án. Lý do kháng cáo: Hoạt động tố tụng vi phạm, cụ thể trong việc: Trưng cầu giám định, ban hành Quyết định trưng cầu giám định nhưng lại thực hiện việc Thẩm định giá; Xem xét việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu của bị đơn và chấp nhận yêu cầu phản tố vượt quá phạm vi phản tố trước đó vào ngày 22/03/2022. Việc chấp nhận yêu cầu phản tố vượt quá phạm vi phản tố trước đó tại phiên tòa sơ thẩm đã làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn; Bị đơn không đưa ra bất cứ tài liệu chứng cứ gì liên quan đến nội dung tranh chấp; án tuyên không đưa ra đủ căn cứ để bác yêu cầu của nguyên đơn. Tại đơn kháng cáo bổ sung ngày 19/01/2024, nguyên đơn đề nghị giám định lại.

Tại phiên tòa phúc thẩm

Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện; Người kháng cáo không rút đơn kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày yêu cầu kháng cáo: Hủy bản án sơ thẩm do: vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khác làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích của đương sự; việc thu thập đánh giá chứng cứ không đúng quy định tại chương VII của Bộ luật tố tụng dân sự;

Đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Không đồng ý yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Phần tranh luận

Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn tranh luận: bản án sơ thẩm có nhiều sai phạm: tự ý thực hiện không đúng yêu cầu của nguyên đơn và bị đơn khi bị đơn yêu cầu thực hiện giám định khối lượng thực tế công trình đã thi công, Tòa án ban hành Quyết định trưng cầu giám định nhưng lại thực hiện Thẩm định giá nhằm đánh thấp giá trị đã xây dựng thực tế xây dựng của bên thi công (nguyên đơn) để buộc bên thi công phải hoàn trả lại cho bên bị đơn số tiền chênh lệch 4.119.904.000 đồng. Việc xét xử cấp sơ thẩm là hoàn toàn sai phạm, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn tuyên hủy án sơ thẩm.

Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn bổ sung: ông V, bà T đưa ra yêu cầu phản tố sau thời điểm Tòa án tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án cấp sơ thẩm thụ lý yêu cầu phản tố của bị đơn là vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn. Tòa án cấp sơ thẩm đã trưng cầu đơn vị không có chức năng giám định xây dựng để thực hiện việc giám định là việc thu thập chứng cứ và chứng minh không theo đúng quy định tại chương VII của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 mà tại phiên tòa phúc thẩm không thể thực hiện bổ sung được. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Luật sư bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bị đơn tranh luận: Đơn kháng cáo ngày 20/11/2023 và đơn kháng cáo bổ sung ngày 29/12/2023 của Công ty TNHH T3 về việc đề nghị Hội đồng xét xử hủy Bản án số: 4295/2023/DS-ST ngày 13/11/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức giao hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết là không có căn cứ pháp lý. Đề nghị HĐXX bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo của Công ty TNHH T3. Đề nghị HĐXX giữ nguyên Bản án số: 4295/2023/DS-ST ngày 13/11/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng: trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong giai đoạn xét xử phúc thẩm đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn; Giữ nguyên bản án sơ thẩm số 4295/2023/DS-ST ngày 13/11/2023 của Toà án nhân dân Thành phố Thủ Đức.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn kháng cáo trong thời hạn luật định đã tạm nộp án phí phúc thẩm nên xác định là hợp lệ.

[2] Về ủy quyền của đương sự: Nguyên đơn ủy quyền cho ông Nguyễn Quốc L đại diện. Bị đơn ủy quyền cho bà Võ Thị Minh T1 đại diện. Việc ủy quyền của các đương sự là phù hợp theo quy định của pháp luật.

[3] Về nội dung: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[3.1] Nhận thấy, vào ngày 01/3/2018, Công ty T3 và ông Nguyễn Kim V, bà Nguyễn Thị T ký 02 hợp đồng về việc thi công xây dựng công trình nhà ở dân dụng tại số F N, phường T, Quận B, nay là thành phố T, có nội dung như sau:

  • Hợp đồng số 218 ST/HĐTC-03/2018, nguyên đơn nhận thi công phần thô cho căn nhà nêu trên theo phương thức khoán trọn gói phần thô với đơn giá thi công là 5.230.116 đồng/m2, diện tích sàn thi công là 5.043m2, tổng giá trị hợp đồng trước thuế là 26.375.475.000 đồng.
  • Hợp đồng số 09 ST/HĐTC-03/2018 (là hợp đồng phía bị đơn giữ không có số nhưng nội dung hợp đồng số 09 và hợp đồng không số giống nhau nên các bên thống nhất gọi đây là hợp đồng số 09), nguyên đơn nhận thi công hoàn chỉnh cho căn nhà nêu trên theo phương thức khoán trọn gói nên tăng đơn giá thi công là 11.650.000 đồng/m2, diện tích sàn thi công là 5.043m2 (bao gồm 5 phòng ngủ ngăn bằng kính ép keo, bếp gỗ đỏ, 1 phòng thờ, máy phát điện, trạm điện, máy bơm áp PCCC), tổng giá trị hợp đồng trước thuế là 58.750.950.000 đồng.

Phần diện tích thi công được tính theo bản vẽ kèm theo trong hợp đồng, khi thi công xong phần thô phần diện tích này được đo trực tiếp tại công trình khi quyết toán hợp đồng. Giá trị thanh quyết toán hợp đồng sẽ căn cứ vào bảng khối lượng thi công thực tế được xác nhận giữa hai bên.

Do cả hai hợp đồng số 218 và số 09 ST/ HĐTC-03/2018 đều do nguyên đơn và bị đơn ký tên, đóng dấu nên đều có hiệu lực ràng buộc các bên thực hiện. Theo đó, đơn giá thi công phần thô sẽ được xác định theo hợp đồng số 218, còn đơn giá thi công hoàn chỉnh sẽ được tính theo hợp đồng số 09. Thực hiện hợp đồng, nguyên đơn đã tiến hành thi công xây dựng công trình nhà ở dân dụng tại số F N, phường T, Quận B, nay là thành phố T.

Theo bản vẽ sơ đồ nhà đất số 02/TV/19 ngày 03/01/2019 được Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H – chi nhánh Q kiểm tra nội nghiệp ngày 15/01/2019 và bản vẽ sơ đồ nhà đất số 03/TV/19 ngày 03/01/2019 được Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H – chi nhánh Q kiểm tra nội nghiệp ngày 10/01/2019 thì diện tích sàn mà nguyên đơn đã xây dựng là đúng với hai Giấy phép xây dựng số 95 và 96/GPXD-UBND đã được Ủy ban nhân dân Quận B1 cấp, tổng diện tích sàn là 3.244,4m2.

Ngày 10/6/2020, công trình được phía nguyên đơn bàn giao cho bị đơn để khai thác, sử dụng. Tuy nhiên, sau khi bàn giao công trình, phía nguyên đơn không tiếp tục xây dựng hoàn thiện các hạng mục như trong hợp đồng đã thỏa thuận nên bị đơn đã gửi Thông báo yêu cầu đối chiếu lại khối lượng công trình xây dựng thực tế và thanh quyết toán hợp đồng.

Ngày 05/10/2020, bị đơn bà T đề nghị Văn phòng Thừa phát lại Thành phố H lập Vi bằng số 264/2020/VB-VPTPLTPHCM ghi nhận sự việc bà T tiến hành giao “Thông báo về việc yêu cầu tiến hành kiểm tra xác nhận khối lượng công việc đã thi công, đối chiếu các khoản tiền đã thanh toán theo Hợp đồng số 218 ST/HĐTC-03/2018 ngày 01/3/2018 tại công trình số F N, phường T, Quận B và thanh lý hợp đồng” cho bà M Trung Thu là đại diện theo pháp luật của Công ty T3 tại địa chỉ số E Đường số A, Tổ D, Khu phố Ô, phường L, Quận I, Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngày 12/10/2020, Công ty S thu có Thư trả lời số 03/20/TL gửi ông Nguyễn Kim V với nội dung trả lời cho ông V, bà T biết giữa hai bên đã kiểm tra, đối chiếu khối lượng công việc và xác nhận công nợ. Theo đó, ông V, bà T còn nợ Công ty số tiền 25.342.950.000 đồng. Không đồng ý với việc trả lời của Công ty T3, ngày 23/10/2020 bà T đề nghị Văn phòng Thừa phát lại Thành phố H lập Vi bằng số 281/2020/VB-VPTPLTPHCM ghi nhận hiện trạng toàn bộ công trình xây dựng tại số F N, phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Theo Chứng thư Thẩm định giá số 1480423/CT-TV ngày 23/6/2023 của Công ty CP T5 ghi nhận khối lượng công trình xây dựng đã thi công tại số F N, phường T, Quận B, nay là thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh như sau:

  • Diện tích sàn thi công theo hợp đồng: 5.043,00 m2
  • Diện tích sàn thi công theo giấy phép xây dựng: 5.043,00 m2. Trong đó:
    • + Diện tích sàn thi công tại thửa đất số 1, 2 tờ bản đồ số 04 (sơ đồ nền): 2.279,40 m2
    • + Diện tích sàn thi công tại thửa đất số 589 tờ bản đồ số 14: 965,00 m2
  • Diện tích sàn thi công theo bản vẽ hoàn công: 3.244,40 m2 (chưa bao gồm móng và mái, với diện tích móng ước tính: 400,10 m2, diện tích mái ước tính: 108,10 m2)
  • Diện tích sàn chưa xây dựng (diện tích sàn chênh lệch giữa diện tích sàn thi công theo hợp đồng và diện tích sàn thi công theo bản vẽ hoàn công) là 5.043,00m2 – (3.244,40m2 + 400,10m2 + 108,10m2) = 1.290,40m2.
  • Công trình chưa hoàn thiện là nhà penhouse tại tầng 8 (gồm 5 phòng ngủ, bếp, phòng thờ, toa lét và phòng khách), nhà tiền chế tại tầng 6 với diện tích là 435m2.

Xác định tổng giá trị công trình xây dựng đã thực hiện tại địa chỉ F N là 34.464.154.000 đồng.

[3.2] Như vậy, theo các tài liệu chứng cứ nêu trên, có cơ sở xác định nguyên đơn chưa hoàn thành nghĩa vụ thi công xây dựng theo hai hợp đồng thi công ngày 01/3/2018 đã ký kết với bị đơn. Phía nguyên đơn cho rằng thực tế nguyên đơn đã xây dựng nhiều hơn so với thẩm định nhưng nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh khối lượng thực tế đã xây dựng; các biên bản xác nhận thanh toán giữa nguyên đơn và bị đơn chỉ xác nhận số tiền đã thanh toán và số tiền còn lại chưa thanh toán theo giá trong hợp đồng chứ không xác nhận khối lượng thực tế công việc mà nguyên đơn đã làm, tại Điều 3 của hợp đồng đã xác định giá trị thanh quyết toán hợp đồng sẽ căn cứ vào bảng khối lượng thi công thực tế được xác nhận giữa hai bên.

[3.3] Sau khi hoàn công, vào ngày 04/12/2019, Ủy ban nhân dân Quận B1 có Quyết định xử phạt số 6072/QĐ-XPVPHC xử phạt ông Nguyễn Kim V số tiền 25.000.000 đồng vì đã có hành vi tổ chức thi công xây dựng công trình không phép tại thửa đất số 1, 2 tờ bản đồ số 4 và thửa đất số 589, tờ bản đồ số 14, phường T, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh và buộc ông V phải tháo dỡ toàn bộ công trình có diện tích 165,95m2 với kết cấu: Cột, xà gồ, kèo thép hình, mái bê tông cốt thép.

[3.4] Ngày 26/10/2023, Ủy ban nhân dân phường T có Công văn số 1428/UBND xác nhận diện tích xây dựng không phép theo Quyết định xử phạt số 6072/QĐ-XPVPHC ngày 04/12/2019 vẫn còn tồn tại, ông V chưa chấp hành phá dỡ phần diện tích xây dựng vi phạm.

[3.5] Ngày 30/10/2023, Tòa án có Quyết định trưng cầu giám định bổ sung để xác định giá trị diện tích xây dựng không phép nêu trên. Theo Phụ lục III bổ sung Chứng thư thẩm định giá 1480423/CT-TV thì Công ty CP T5 xác định giá trị phần công trình xây dựng thi công trái phép có kết cấu: Cột, xà gồ, kèo thép hình, mái bê tông cốt thép là 165,95m2 x 4.965.000 đồng/m2 = 823.941.750 đồng.

[3.6] Do đó, có cơ sở xác định tổng giá trị khối lượng công trình mà nguyên đơn đã xây dựng tại địa chỉ F N là 34.464.154.000 đồng + 823.941.750 đồng = 35.288.096.000 đồng.

[4] Xét số tiền thực tế bị đơn đã thanh toán:

[4.1] Nguyên đơn căn cứ vào Biên bản thỏa thuận xác nhận nợ và thanh toán ghi ngày 30/8/2018 nội dung tại Điều 1 ghi: “Phần giá trị của hợp đồng đã thanh toán đến hết ngày ...tháng 8 năm 2018 bên A (ông V, bà T) đã thanh toán 27.408.000.000 đồng”; Biên bản xác nhận thanh toán ghi ngày 19/9/2018 nội dung “bên B (Công ty T3) đã nhận của bên A (ông V, bà T) số tiền 6.000.000.000 đồng cho công trình nhà lắp ráp”; Biên bản thỏa thuận xác nhận nợ và thanh toán ghi ngày 10/6/2020 nội dung tại Điều 1 ghi: ““Phần giá trị của hợp đồng đã thanh toán đến hết ngày ...tháng 8 năm 2018 bên A (ông V, bà T) đã thanh toán 33.408.000.000 đồng”; Biên bản bàn giao công trình hoàn thành đưa vào sử dụng ghi ngày 10/6/2020 cho rằng tính đến tháng 6/2020 bị đơn mới chỉ thanh toán cho nguyên đơn số tiền là 33.408.000.000 đồng nên yêu cầu bị đơn phải có nghĩa vụ thanh toán số tiền còn nợ so với hợp đồng là 25.342.950.000 đồng.

[4.2] Bị đơn cung cấp cho Tòa án các tài liệu sau: Biên bản thỏa thuận xác nhận nợ và thanh toán không ghi ngày tháng năm nội dung tại Điều 1 ghi: ““Phần giá trị của hợp đồng đã thanh toán đến hết ngày ...tháng 8 năm 2018 bên A (ông V, bà T) đã thanh toán 33.408.000.000 đồng”; Biên bản xác nhận thanh toán ghi ngày 19/9/2018 nội dung “bên B (Công ty T3) đã nhận của bên A (ông V, bà T) số tiền 6.000.000.000 đồng cho công trình nhà lắp ráp”; Phụ lục thanh toán đính kèm hợp đồng không ghi số nội dung ghi: “Giá trị đã thanh toán tạm ứng giai đoạn là 33.408.000.000 đồng, Giá trị còn lại 03/2018 là 25.342.950.000 đồng”.

[4.3] Theo hồ sơ thể hiện Biên bản thỏa thuận xác nhận nợ và thanh toán do nguyên đơn cung cấp có ghi ngày 10/6/2020 nhưng Biên bản thỏa thuận xác nhận nợ và thanh toán do bị đơn cung cấp lại không ghi ngày tháng năm nhưng 02 biên bản này có cùng nội dung tại Điều 1 ghi: “Phần giá trị của hợp đồng đã thanh toán đến hết ngày ... tháng 8 năm 2018 bên A (ông V, bà T) đã thanh toán 33.408.000.000 đồng”. Như vậy, mặc dù 02 biên bản khác nhau về việc ghi ngày 20/6/2020 và biên bản không đề ngày tháng năm nhưng nội dung đều tính đến tháng 8/2018 phía bị đơn đã thanh toán 33.408.000.000 đồng. Ngoài ra bị đơn còn cung cấp Phụ lục thanh toán đính kèm hợp đồng không ghi số nội dung ghi: “Giá trị đã thanh toán tạm ứng giai đoạn là 33.408.000.000 đồng, Giá trị còn lại 03/2018 là 25.342.950.000 đồng.

[4.4] Như vậy, căn cứ vào các tài liệu hai bên cung cấp có cơ sở xác định tính đến tháng 8/2018 thì bị đơn đã thanh toán 33.408.000.000 đồng, ngày 19/9/2018 bị đơn tiếp tục thanh toán số tiền 6.000.000.000 đồng cho phần thi công nhà lắp ráp nhưng thực tế đã không thi công. Tổng số tiền bị đơn đã thực tế thanh toán cho nguyên đơn là 39.408.000.000 đồng. Bị đơn đã thanh toán nhiều hơn so với khối lượng thực tế mà nguyên đơn đã xây dựng nên yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải thanh toán tiếp cho nguyên đơn số tiền 25.342.950.000 đồng còn thiếu trong hợp đồng thi công số 09 ST/HĐTC-03/2018 ngày 01/3/2018 là không có căn cứ, không phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 144 Luật Xây dựng năm 2014 nên không chấp nhận.

[5] Đối với ý kiến của nguyên đơn về việc không đồng ý chứng thư Thẩm định giá số 1480423/CT-TV ngày 23/6/2023 của Công ty T5 vì cho rằng C Thịnh Vượng chỉ có chức năng thẩm định giá, không có chức năng giám định, xác định không đúng khối lượng thực tế đã thi công nên đề nghị Tòa án tiến hành giám định lại:

[5.1] Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn và bị đơn đều đồng ý để Tòa án chỉ định cơ quan chuyên môn kiểm định khối lượng, chất lượng thi công công trình xây dựng đối với phần diện tích mà nguyên đơn đã xây dựng thực tế tại số F N. Ngày 21/4/2023, Tòa án đã ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 1231/2023/QĐ-TCGĐ trưng cầu Công ty T5 thực hiện giám định giá trị khối lượng công trình đã xây dựng tại địa chỉ F N. Do công trình chưa hoàn thiện, có cả những phần xây dựng thô và những phần xây dựng đã hoàn chỉnh nên việc thực hiện giám định để xác định khối lượng công trình thực tế đã thi công và giá trị của các phần này là cần thiết và phù hợp để có thể giải quyết được vụ án.

[5.2] Quyết định trưng cầu giám định đã được gửi cho các đương sự và không ai khiếu nại gì về quyết định. Trước khi Công ty T5 tiến hành xác định khối lượng thi công thực tế và thẩm định giá trị cũng đã lập biên bản thẩm định hiện trường, ghi nhận hiện trạng thực tế công trình xây dựng có sự có mặt của các đương sự và cũng không có ai khiếu nại biên bản này.

[5.3] Như vậy, không có cơ sở để xác định việc giám định là không khách quan. Mặt khác, sau khi có Chứng thư thẩm định giá thì nguyên đơn đã có đơn khiếu nại và yêu cầu Tòa án tiến hành giám định lại và Chánh án Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã có Quyết định giải quyết khiếu nại không chấp nhận yêu cầu khiếu nại của nguyên đơn.

[5.4] Theo hồ sơ năng lực thẩm định giá thì Công ty T5 có các chức năng kiểm định chất lượng công trình xây dựng, dịch vụ giám định thương mại, thẩm định giá. Do vậy, việc nguyên đơn cho rằng Công ty T5 không có đủ chuyên môn để xác định khối lượng công trình đã thi công là không có cơ sở; không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc tiến hành giám định lại.

[6] Xét yêu cầu phản tố của bị đơn:

Do số tiền mà bị đơn đã thanh toán cho nguyên đơn là 39.408.000.000 đồng, cao hơn giá trị thực tế mà nguyên đơn đã thi công xây dựng theo Chứng thư Thẩm định giá và các phụ lục kèm theo là 35.288.096.000 đồng nên yêu cầu phản tố của bị đơn về việc buộc nguyên đơn phải thanh toán số tiền đã tạm ứng vượt quá là 4.119.904.000 đồng là phù hợp với quy định tại khoản 4 Điều 144 Luật Xây dựng năm 2014 nên chấp nhận.

[7] Xét kháng cáo của nguyên đơn: Nhận thấy, tại Quyết định trưng cầu giám định số 1231/2023/QĐ-TCGĐ ngày 21/4/2023, Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức yêu cầu công ty T5 giám định, định giá công trình xây dựng tại thời điểm tháng 10/2020. Căn cứ hồ sơ năng lực thì công ty T5 đủ năng lực giám định, định giá và Chứng thư Thẩm định giá số 1480423/CT-TV ngày 23/6/2023 là chứng cứ để giải quyết vụ án là đúng quy định. Việc thụ lý yêu cầu phản tố ban đầu (02 tỷ đồng) và sau đó là hơn 04 tỷ đồng vẫn nằm trong cùng một quan hệ tranh chấp, không phát sinh quan hệ tranh chấp mới, Tòa án không phải thu thập thêm chứng cứ. Đối với kháng cáo liên quan đến nội dung vụ án, như đã nhận định nêu trên, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên nội dung kháng cáo này là không có căn cứ chấp nhận.

[8] Từ những nhận định trên, nhận thấy bản án sơ thẩm số 4295/2023/DS-ST ngày 13/11/2023 của Toà án nhân dân Thành phố Thủ Đức không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; chấp nhận toàn bộ yêu cầu phản tố của bị đơn là có căn cứ. Do đó, nguyên đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm là không có căn cứ chấp nhận.

[9] Tại phiên tòa, Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đề nghị chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, hủy bản án sơ thẩm. Như đã nhận định nêu trên, yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn không có cơ sở nên không được HĐXX cấp phúc thẩm chấp nhận.

[10] Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ.

[11] Về án phí phúc thẩm: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 308, Điều 148 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015; các Điều 116; 117; 513; 514; 515; 516; 517 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 123; 124; 137; 144; 147 Luật xây dựng năm 2014, Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tuyên xử:

Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn – Công ty TNHH T3.

Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 4295/2023/DS-ST ngày 13 tháng 11 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH T3 về việc buộc ông Nguyễn Kim V, bà Nguyễn Thị T phải thanh toán số tiền 25.342.950.000 (Hai mươi lăm tỷ, ba trăm bốn mươi hai triệu, chín trăm năm mươi ngàn) đồng.
  2. Chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Kim V, bà Nguyễn Thị T về việc buộc Công ty TNHH T3 phải trả lại cho ông Nguyễn Kim V, bà Nguyễn Thị T 4.119.904.000 (Bốn tỷ, một trăm mười chín triệu, chín trăm lẻ bốn ngàn) đồng. Thanh toán một lần ngay khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
  3. Án phí dân sự sơ thẩm:

    Công ty TNHH T3 phải chịu án phí là 133.342.950 (Một trăm ba mươi ba triệu, ba trăm bốn mươi hai ngàn, chín trăm năm mươi) đồng đối với yêu cầu không được chấp nhận và chịu án phí 112.119.904 (Một trăm mười hai triệu, một trăm mười chín ngàn, chín trăm lẻ bốn) đồng đối với yêu cầu phản tố của ông V, bà T được chấp nhận. Tổng số tiền án phí mà Công ty TNHH T3 phải chịu là 245.462.854 (Hai trăm bốn mươi lăm triệu, bốn trăm sáu mươi hai ngàn, tám trăm năm mươi bốn) đồng. Công ty TNHH T3 đã nộp tiền tạm ứng án phí là 66.671.475 (Sáu mươi sáu triệu, sáu trăm bảy mươi mốt ngàn, bốn trăm bảy mươi lăm) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số AA/2018/0028369 ngày 25 tháng 01 năm 2021 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh nên Công ty TNHH T3 còn phải nộp là 178.791.379 (Một trăm bảy mươi tám triệu, bảy trăm chín mươi mốt ngàn, ba trăm bảy mươi chín) đồng.

    Ông Nguyễn Kim V và bà Nguyễn Thị T không phải chịu án phí. Hoàn trả số tiền tạm ứng án phí cho ông Nguyễn Kim V và bà Nguyễn Thị T là 36.000.000 (Ba mươi sáu triệu) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số AA/2021/0026624 ngày 04 tháng 4 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Các bên Thi hành án tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

    Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

  4. Về án phí phúc thẩm: Nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng được cấn trừ vào án phí tạm nộp theo biên lai thu số AA/2023/0001800 ngày 28/11/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức. Nguyên đơn đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND Tối Cao;
  • - TAND Cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - Cục thi hành án dân sự TPHCM;
  • - Chi cục THADS thành phố Thủ Đức;
  • - TAND thành phố Thủ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Võ Thị Kim Thương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 439/2024/DS - PT ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng

  • Số bản án: 439/2024/DS - PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng thi công
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger