|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 439/2025/HS-PT Ngày 13 tháng 6 năm 2025 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Công
Các thẩm phán:
Bà Đinh Ngọc Thu Hương
Ông Vương Minh Tâm
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Hải Đăng – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Thành Đạt – Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 263/2025/TLPT-HS ngày 14 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo Nguyễn Thanh S và bị cáo Nguyễn Hoài T do các bị cáo kháng cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2025/HS-ST ngày 05/3/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
Bị cáo có kháng cáo:
-
Nguyễn Thanh S (Tên gọi khác: E), sinh năm 1977 tại tỉnh Tây Ninh; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Ô1/172, khu phố Thanh Hà, thị trấn Gò Dầu, huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh; Chỗ ở hiện tại: Ấp 4, xã Xuân Thới Sơn, huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Khuynh (chết) và bà Nguyễn Thị Bé (chết); Có vợ tên là Nguyễn Thị Tốt và 04 con; Tiền án: Bản án hình sự phúc thẩm số 114/2011/HS-PT ngày 27/6/2011 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh phạt 05 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/9/2014 (bút lục số 1509); Tiền sự: Không; Nhân thân: Không; Bị bắt giữ ngày 21/11/2023 đến ngày 30/11/2023 chuyển sang tạm giam cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
-
Nguyễn Hoài T (Tên gọi khác: V), sinh năm 1983 tại tỉnh Tây Ninh; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú: Khu phố 3, Phường 4, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh; Chỗ ở hiện tại: Ấp Ninh Phú, xã Bàu Năng, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): Lớp 7/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Cao Đài; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn Liêm và bà Nguyễn Thị Ánh; Có vợ tên là Trần Thị Kim Liên và 02 con; Tiền án: Bản án hình sự phúc thẩm số 119/2009/HS-PT ngày 02/6/2009 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh phạt 06 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”, chấp hành hình phạt tù xong ngày 25/02/2014, chưa thi hành xong phần trách nhiệm bồi thường (bút lục số 928); Tiền sự: Không; Nhân thân: Bản án hình sự phúc thẩm số 31/2006/HS-PT ngày 09/02/2006 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh phạt 30 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, chấp hành hình phạt tù xong vào ngày 24/01/2008 (bút lục số 1510); Ngày 10/8/2003 Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc 24 tháng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, “Gây rối trật tự công cộng”; Đầu thú và bị bắt giữ ngày 22/11/2023 đến ngày 01/12/2023 chuyển sang tạm giam cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thanh S: Luật sư Trương Quốc Phòng, Công ty Luật Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên Nam Quốc thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh – Có mặt;
Người bào chữa chỉ định:
- Bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thanh S: Luật sư Trần Thị Thuý Hằng, Văn phòng luật sư Phương Lê thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh – Có mặt;
- Bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hoài T: Luật sư Trần Thanh Phúc, Văn phòng luật sư Phương Lê thuộc Đoàn luật sư Thành phố Hồ Chí Minh – Có mặt;
Ngoài ra còn có 12 người bị hại và 02 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không kháng cáo, không bị kháng nghị và không liên quan đến kháng cáo.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Bị cáo Nguyễn Thanh S và bị cáo Nguyễn Hoài T quen biết nhau khi cùng chấp hành án tại Trại giam Cây Cầy. Cuối năm 2019 S và T gặp lại nhau thì bàn bạc cùng nhau đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền chia nhau tiêu xài. S giấu các dụng cụ như máy khoan cầm tay, tua vít, kìm, mỏ lếch, đèn pin... vào xe mô tô rồi chở T đi khảo sát, chọn các ngôi nhà kiểu chữ Đinh, mái ngói... kiến trúc cũ, xuống cấp, dễ đột nhập. Chọn được nhà thì S chở T đi ăn uống, nghỉ ngơi chờ đến khoảng 21 – 22 giờ thì quay lại tuyến đường đã khảo sát, dừng xe tại vị trí mà S đã chọn trước, cách địa điểm trộm khoảng 500 mét đến 02 km. S lấy các dụng cụ rồi giao xe cho T chạy đi tìm chỗ nghỉ, chờ S điện thoại thì T đến rước S. Khoảng từ 00 giờ đến 02 giờ, S sử dụng dụng cụ để cắt rào, bẻ khoá, bẻ song sắt cửa sổ... đột nhập vào bên trong lấy trộm tài sản xong thì điện thoại cho T điều khiển xe mô tô đến rước. S không nói cho T biết trộm được những gì.
Từ ngày 01/10/2019 đến ngày 21/11/2023, bị cáo S và bị cáo T đã thực hiện 10 vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh; huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh; huyện Đức Hoà, tỉnh Long An như sau:
Tại thị xã Trảng Bàng, tỉnh Tây Ninh: 07 vụ
Vụ thứ Nhất: khoảng 21 giờ ngày 15/4/2023, S điều khiển xe mô tô 70F1-729.00 chở T đến đường đất đỏ thì dừng xe cách Cửa hàng phân bón thuốc bảo vệ thực vật “Mai” của chị Trịnh Thu Mai khoảng 70 mét thì lấy dụng cụ ra rồi giao xe cho T chạy về nhà nghỉ Khánh An thuê phòng nghỉ. Khoảng 02 giờ ngày 16/4/2023 S đi bộ đến phía sau Cửa hàng, dùng máy khoan cầm tay mở vít bắn tol cạy bung tol, đột nhập vào bên trong lấy trộm bọc nilon đen, bên trong có 170.000.000 đồng. Chị Mai thức dậy truy hô thì S chạy theo đường cũ ra ngoài rồi điện thoại cho T đến rước. S cho T 8.000.000 đồng, số còn lại 162.000.000 đồng S tiêu xài và đánh bạc hết.
Vụ thứ Hai: khoảng 20 giờ ngày 25/6/2023, S điều khiển xe mô tô 70F1-729.00 chở T đến Cửa hàng vật liệu xây dựng “Huệ Diễm” của anh Nguyễn Thành Diễn thì lấy dụng cụ ra rồi giao xe cho T chạy về nhà nghỉ Khánh An thuê phòng nghỉ. Khoảng 02 giờ ngày 26/6/2023 S trèo qua tường rào Cửa hàng, đột nhập vào bên trong đến hộc bàn quầy thu ngân lấy trộm 80.000.000 đồng rồi theo đường cũ ra ngoài điện thoại cho T đến rước. S cho T 5.000.000 đồng, số còn lại 75.000.000 đồng S tiêu xài và đánh bạc hết.
Vụ thứ Ba: khoảng 01 giờ ngày 17/7/2023, S điều khiển xe mô tô 70F1-729.00 chở T đến Cửa hàng vật tư nông nghiệp “Trương Bá Khiêm” của chị Trương Thị Ngọc Hân thì lấy dụng cụ ra rồi giao xe cho T chạy về nhà nghỉ Khánh An thuê phòng nghỉ. S đi bộ đến dùng kìm cắt lưới hàng rào B40, dùng tua vít cạy bung cửa sổ, đột nhập vào bên trong đến hộc bàn quầy bán hàng lấy trộm 6.500.000 đồng rồi theo đường cũ ra ngoài điện thoại cho T đến rước. S cho T 2.500.000 đồng, số còn lại 4.000.000 đồng S tiêu xài hết.
Vụ thứ Tư: khoảng 21 giờ ngày 18/7/2023, S điều khiển xe mô tô 70F1-729.00 chở T đến nhà ông Trương Văn Tửng thì lấy dụng cụ ra rồi giao xe cho T chạy về nhà nghỉ Khánh An thuê phòng nghỉ. Khoảng 01 giờ ngày 19/7/2023 S dùng kìm cắt lưới hàng rào B40, dùng tua vít cạy cửa sổ, đột nhập vào bên trong đến cạy cửa tủ gỗ lấy trộm 8.600.000 đồng, 01 con chuột đất bên trong có 7.400.000 đồng, 01 nhẫn trơn 02 chỉ vàng 24K, 01 dây chuyền 03 chỉ vàng 18K, 01 vòng đeo tay bằng cẩm thạch có gắn móc khoá 01 chỉ vàng 18K rồi theo đường cũ ra ngoài điện thoại cho T đến rước. S cho T 2.000.000 đồng, số còn lại 14.000.000 đồng và tiền bán trang sức thì S tiêu xài, đánh bạc hết.
Kết luận định giá tài sản số 04/KL-HĐĐG ngày 20/5/2024 kết luận: 01 nhẫn trơn 02 chỉ vàng 24K, 01 dây chuyền 03 chỉ vàng 18K, 01 vòng đeo tay bằng cẩm thạch có gắn móc khoá 01 chỉ vàng 18K. Tổng trị giá 30.300.000 đồng.
Vụ thứ Năm: khoảng 21 giờ ngày 20/7/2023, S điều khiển xe mô tô 70F1-729.00 chở T đến nhà ông Nguyễn Tú Anh thì lấy dụng cụ ra rồi giao xe cho T chạy về nhà nghỉ Khánh An thuê phòng nghỉ. Khoảng 01 giờ ngày 21/7/2023 S dùng kìm cắt lưới hàng rào B40, dùng mỏ lếch bẻ song sắt cửa sổ, đột nhập vào bên trong đến cạy cửa tủ gỗ lấy trộm 8.000.000 đồng trong ví nam, kéo két sắt trong phòng ngủ ra hàng ba rồi vào nhà kho lục tìm 01 xà beng cạy két sắt nhưng bên trong không có tài sản gì.
S đi qua nhà bà Nguyễn Thị Minh Phương dùng tua vít cạy mở cửa nhà, đột nhập vào bên trong dùng mỏ lếch bẻ gẫy khoen phòng ngủ, vào bên trong thấy 01 két sắt thì S trở lại nhà ông Tú Anh lấy xà beng, rựa, dao rồi trở lại nhà bà Phương cạy mở két sắt lấy 165.000.000 đồng, 07 chiếc nhẫn tổng trọng lượng 08 chỉ vàng 24K, 01 chiếc nhẫn vuông 05 chỉ vàng 24K, 01 bộ vòng ximen 14 chiếc trọng lượng 10,850 chỉ vàng 18K, 01 chiếc lắc 07 chỉ vàng 18K, 01 sợi dây chuyền trọng lượng 1,89 chỉ vàng 18K, 01 đôi bông tai 0,525 chỉ vàng 18K, 01 đôi bông tai hình bông mai 0,525 chỉ vàng 18K, 01 đôi bông tai 3,05 gam vàng Italy TNJ750 rồi theo đường cũ ra ngoài điện thoại cho T đến rước. S cho T 12.000.000 đồng, số còn lại 161.000.000 đồng và tiền bán trang sức thì S tiêu xài, đánh bạc hết.
Kết luận định giá tài sản số 40/KL-HĐĐG ngày 28/7/2023 kết luận: 07 chiếc nhẫn tổng trọng lượng 08 chỉ vàng 24K, 01 chiếc nhẫn vuông 05 chỉ vàng 24K, 01 bộ vòng ximen 14 chiếc trọng lượng 10,850 chỉ vàng 18K, 01 chiếc lắc 07 chỉ vàng 18K, 01 sợi dây chuyền trọng lượng 1,89 chỉ vàng 18K, 01 đôi bông tai 0,525 chỉ vàng 18K, 01 đôi bông tai hình bông mai 0,525 chỉ vàng 18K, 01 đôi bông tai 3,05 gam vàng Italy TNJ750. Tổng trị giá 144.121.484 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 220/KL-HĐĐG ngày 25/01/2024 kết luận: 01 két sắt hiệu Bauche, kích thước (55x43x60) cm trị giá 383.300 đồng và 01 két sắt hiệu Bauche, kích thước (60x47x82) cm trị giá 466.600 đồng
Vụ thứ Sáu: khoảng 21 giờ ngày 23/7/2023, S điều khiển xe mô tô 70F1-729.00 chở T đến nhà ông Trần Minh Pha thì lấy dụng cụ ra rồi giao xe cho T chạy về nhà nghỉ Khánh An thuê phòng nghỉ. Khoảng 0 giờ ngày 24/7/2023 S dùng kìm cắt lưới hàng rào B40, đột nhập vào bên trong đến cạy cửa tủ gỗ lấy trộm 40.000.000 đồng, 01 đôi bông tai 01 chỉ vàng 24K, 02 dây chuyền 01 chỉ vàng 18K, 02 lắc đeo tay 01 chỉ vàng 18K, 01 nhẫn 01 chỉ vàng 18K rồi theo đường cũ ra ngoài điện thoại cho T đến rước. S cho T 3.000.000 đồng, số còn lại 37.000.000 đồng và tiền bán trang sức thì S tiêu xài, đánh bạc hết.
Kết luận định giá tài sản số 42/KL-HĐĐG ngày 03/8/2023 kết luận: 01 đôi bông tai 01 chỉ vàng 24K, 02 dây chuyền 01 chỉ vàng 18K, 02 lắc đeo tay 01 chỉ vàng 18K, 01 nhẫn 01 chỉ vàng 18K. Tổng trị giá 15.596.666 đồng.
Vụ thứ Bảy: khoảng 20 giờ ngày 20/11/2023, S điều khiển xe mô tô 70F1-729.00 chở T đến nhà bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh thì lấy dụng cụ ra rồi giao xe cho T chạy về nhà nghỉ Khánh An thuê phòng nghỉ. Khoảng 01 giờ ngày 21/11/2023 S dùng kìm cắt lưới hàng rào B40, thấy có ánh đèn nên S vòng ra trước nhà cắt thêm 01 lỗ rào B40 nhằm chuẩn bị lối thoát nếu bị phát hiện. S dùng mỏ lếch bẻ song sắt cửa sổ đột nhập vào bên trong thấy 01 két sắt thì S lục tìm trong túi áo treo trong phòng có chìa khoá, S dùng chìa khoá mở két sắt lấy trộm 18.000.000 đồng và 02 túi vải có dây rút, bên trong 02 túi vải có: 01 kiềng 02 chỉ vàng 24K, 01 nhẫn có chữ Quyền 09 phân 98 ly vàng 24K, 01 dây chuyền 02 chỉ 04 phân vàng 18K, 01 dây chuyền 05 phân 51 ly vàng 18K, 01 lắc 04 chỉ 568 phân vàng 24K, 02 miếng vàng SJC 02 lượng, 01 nhẫn có chữ Quyền 05 chỉ vàng 24K, 01 nhẫn 02 chỉ vàng 24K, 01 nhẫn 01 chỉ 996 phân. Sơn tiếp tục lục áo quần và lấy 5.000.000 đồng trong túi áo khoác của bà Nguyễn Thị Kim Nguyệt. Lấy xong S theo đường cũ ra ngoài cho T đến rước. S cho T 3.000.000 đồng, số tiền còn lại 37.000.000 đồng và trang sức thì S cất giấu nhiều nơi trong nhà của S.
Khoảng 12 giờ 50 phút cùng ngày 21/11/2023, Công an tỉnh Tây Ninh thực hiện Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và khám xét chỗ ở của S thu được các tài sản S đã lấy trộm ở nhà bà Ánh.
Kết luận định giá tài sản số 08/KL-HĐĐG ngày 01/8/2024 kết luận: 01 kiềng 02 chỉ vàng 24K, 01 nhẫn có chữ Quyền 09 phân 98 ly vàng 24K, 01 dây chuyền 02 chỉ 04 phân vàng 18K, 01 dây chuyền 05 phân 51 ly vàng 18K, 01 lắc 04 chỉ 568 phân vàng 24K, 02 miếng vàng SJC 02 lượng, 01 nhẫn có chữ Quyền 05 chỉ vàng 24K, 01 nhẫn 02 chỉ vàng 24K, 01 nhẫn 01 chỉ 996 phân. Tổng trị giá 254.566.767 đồng.
Tại huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh: 02 vụ
Vụ thứ Nhất: khoảng 21 giờ ngày 07/8/2022, S điều khiển xe mô tô 70F1-729.00 chở T đến tiệm tạp hoá “Út Thêm” của bà Nguyễn Thị Thu Trúc. S xuống xe ẩn nấp để quan sát, T điều khiển xe đi tìm khách sạn để nghỉ, chờ đón S. Khoảng 02 giờ ngày 08/8/2022, S dùng kìm cắt lưới B40, dung mỏ lếch bẻ gãy song sắt cửa sổ đột nhập vào bên trong, lục tìm trong tủ quần áo lấy 160.000.000 đồng, 02 đôi bông tai 1,5 chỉ vàng 24K, 01 dây chuyền 6,5 chỉ vàng 24K, 01 dây chuyền 02 chỉ vàng 24K, 02 nhẫn trơn 01 chỉ vàng 24K rồi theo đường cũ ra ngoài điện thoại cho T đến rước. S cho T 3.000.000 đồng, số còn lại 157.000.000 đồng và bán trang sức thì S tiêu xài, đánh bạc hết.
Kết luận định giá tài sản số 157/KL-HĐĐG ngày 19/9/2022 kết luận: 02 đôi bông tai 1,5 chỉ vàng 24K, 01 dây chuyền 6,5 chỉ vàng 24K, 01 dây chuyền 02 chỉ vàng 24K, 02 nhẫn trơn 01 chỉ vàng 24K. Tổng trị giá 58.421.000 đồng.
Vụ thứ Hai: khoảng 21 giờ ngày 22/10/2022, S điều khiển xe mô tô 70F1-729.00 chở T đến bờ kênh Đông thuộc ấp Mít Nài, xã Phước Thạnh, huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh. S xuống xe đi bộ, T điều khiển xe đi tìm khách sạn để nghỉ, chờ đón S. Khoảng 02 giờ ngày 23/10/2022, S đến nhà ông Huỳnh Hữu Quan thấy nhiều người đã ngủ say nên S đột nhập vào bên trong, dùng tua vít cạy tủ quần áo lấy 40.000.000 đồng, 01 dây chuyền 02 chỉ vàng 18K, 01 mặt dây chuyền 0,5 chỉ vàng 18K, 01 mặt dây chuyền 01 chỉ vàng PNJ, 01 lắc tay 01 chỉ vàng 18K, 01 nhẫn 01 chỉ vàng 18K, 01 đôi bông tai vàng Ý 1,86 gam, 01 nhẫn 3,1 gam vàng trắng, 01 lắc tay 01 chỉ vàng 18K, 01 nhẫn vàng 0,5 chỉ vàng 18K, 01 đôi bông tai 0,7 chỉ vàng trắng, 01 dây chuyền 1,7 chỉ vàng trắng, 01 nhẫn 0,4 chỉ vàng trắng rồi theo đường cũ ra ngoài điện thoại cho T đến rước. S cho T 3.000.000 đồng, số còn lại 37.000.000 đồng và bán trang sức thì S tiêu xài, đánh bạc hết.
Kết luận định giá tài sản số 02/KL-HĐĐG ngày 09/01/2024 kết luận: 01 dây chuyền 02 chỉ vàng 18K, 01 mặt dây chuyền 0,5 chỉ vàng 18K, 01 mặt dây chuyền 01 chỉ vàng PNJ, 01 lắc tay 01 chỉ vàng 18K, 01 nhẫn 01 chỉ vàng 18K, 01 đôi bông tai vàng Ý 1,86 gam, 01 nhẫn 3,1 gam vàng trắng, 01 lắc tay 01 chỉ vàng 18K, 01 nhẫn vàng 0,5 chỉ vàng 18K, 01 đôi bông tai 0,7 chỉ vàng trắng, 01 dây chuyền 1,7 chỉ vàng trắng, 01 nhẫn 0,4 chỉ vàng trắng. Tổng trị giá 38.642.000 đồng.
Tại huyện Đức Hoà, tỉnh Long An: 01 vụ
Khoảng 22 giờ ngày 01/10/2019, S điều khiển xe mô tô 70F1-729.00 chở T đến gần nhà ông Nguyễn Văn Đô La thì S xuống xe đi bộ, T điều khiển xe đến khách sạn “Tuấn Anh” để nghỉ, chờ đón S. S dùng kìm cắt hàng rào B40, dùng mỏ lếch cạy cửa, đột nhập vào bên trong, lục tìm trong tủ quần áo lấy 5.000.000 đồng trong cái ví và lấy 01 hộp nhựa màu đỏ, bên trong có 01 dây chuyền PNJ đính ngọc trai 0,3827 gam, 01 đôi bông tai PNJ có đính ngọc trai 0,5724 gam, 01 lắc 01 lượng vàng 24K, 01 lắc 05 chỉ vàng 18K, 01 nhẫn 02 chỉ vàng 24K, 01 nhẫn 01 chỉ vàng 18K, tiếp tục lấy trong ngăn tủ gỗ 01 bóp vải có 30.000.000 đồng và 01 heo đất bên trong có 10.000.000 đồng rồi theo đường cũ ra ngoài điện thoại cho T đến rước. S cho T 2.000.000 đồng, số còn lại 43.000.000 đồng và bán trang sức thì S tiêu xài, đánh bạc hết.
Kết luận định giá tài sản số 126/KL.ĐGTS ngày 12/12/2019 kết luận: 01 dây chuyền PNJ đính ngọc trai 0,3827 gam, 01 đôi bông tai PNJ có đính ngọc trai 0,5724 gam, 01 lắc 01 lượng vàng 24K, 01 lắc 05 chỉ vàng 18K, 01 nhẫn 02 chỉ vàng 24K, 01 nhẫn 01 chỉ vàng 18K. Tổng trị giá 83.967.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã thu giữ vật chứng và xử lý vật chứng (Có bảng thống kê kèm theo) và kê biên 02 thửa đất của bị cáo S;
Tại Bản cáo trạng số 39/CTr-VKS-P3 ngày 11/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thanh và Nguyễn Hoài T về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 15/2025/HS-ST ngày 05/3/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh S (tên gọi khác: E) và bị cáo Nguyễn Hoài T (tên gọi khác: V) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 173; điểm b, r, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm a, b, g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh S (tên gọi khác: E) 17 (mười bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 21/11/2023.
Căn cứ điểm a khoản 4 Điều 173; điểm r, s khoản 1 Điều 51; điểm a, b, g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự;
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài T (tên gọi khác: V) 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/11/2023.
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định về trách nhiệm dân sự; về xử lý vật chứng; về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm; về nghĩa vụ thi hành án; về trách nhiệm do chậm thi hành án và tuyên về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 13/3/2025, bị cáo Nguyễn Thanh S kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù.
Ngày 12/3/2025, bị cáo Nguyễn Hoài T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:
Bị cáo Nguyễn Thanh S khai nhận có thực hiện hành vi trộm cắp tài sản như Bản án sơ thẩm đã xử, chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt tù để sớm về làm ăn kiếm tiền bồi thường cho các bị hại và nuôi con còn nhỏ, sau khi xét xử sơ thẩm gia đình bị cáo đã nộp thêm 500.000.000 đồng để bồi thường cho các bị hại.
Bị cáo Nguyễn Hoài T khai nhận có thực hiện hành vi như Bản án sơ thẩm đã quy kết, chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt vì mức án quá cao, bị cáo được hưởng lợi rất ít, mẹ của bị cáo bị tai biến, con bị cáo còn nhỏ, sau khi xét xử sơ thẩm gia đình bị cáo đã nộp thêm 20.000.000 đồng để bồi thường cho các bị hại.
Luật sư Trương Quốc Phòng đề nghị xem xét bị cáo S đã thành khẩn khai báo, đã tác động gia đình nộp thêm 500.000.000 đồng là số tiền rất lớn để bồi thường cho bị hại, chứng tỏ bị cáo rất có thiện chí khắc phục hậu quả nên đề nghị giảm nhẹ tối đa về hình phạt cho bị cáo S.
Luật sư Trần Thị Thuý Hằng thống nhất ý kiến của luật sư Trương Quốc Phòng. Tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo S cũng đã xin lỗi các bị hại nên đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo S.
Luật sư Trần Thanh Phúc đề nghị xem xét bị cáo Nguyễn Hoài T có nhiều tình tiết giảm nhẹ như Bản án sơ thẩm đã nhận định, bị cáo đã tác động gia đình nộp tiền bồi thường là 20.000.000 đồng nên đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo T.
Đại diện Viện Kiểm sát đề nghị xem xét đơn kháng cáo của các bị cáo đều hợp lệ. Về nội dung Bản án sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh S và bị cáo Nguyễn Hoài T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội và đã xử phạt mức hình phạt là tương xứng. Tuy nhiên sau khi xét xử sơ thẩm, các bị cáo tác động gia đình nộp thêm tiền bồi thường cho các bị hại nên đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc cho các bị cáo.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ NHẬN ĐỊNH:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
-
Đơn kháng cáo của hai bị cáo đều đảm bảo hình thức và thời hạn, đủ điều kiện để giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
-
Lời khai nhận của hai bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của những người bị hại, phù hợp với biên bản xác định hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng, các kết luận định giá cùng các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ để xác định trong khoảng thời gian từ ngày 01/10/2019 đến ngày 21/11/2023, bị cáo Nguyễn Thanh S và bị cáo Nguyễn Hoài T đã thực hiện tổng cộng 10 vụ trộm cắp tài sản có tổng trị giá là 1.379.114.917 đồng. Do đó, Bản án sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh S và bị cáo Nguyễn Hoài T phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội;
-
Hành vi phạm tội của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến tài sản của người khác, gây tác động xấu đến trật tự, an toàn xã hội nên các bị cáo phải chịu hình phạt.
-
Bản án sơ thẩm đã xem xét bị cáo Nguyễn Thanh S phạm tội với vai trò là chủ mưu, cầm đầu đồng thời cũng là người trực tiếp lấy trộm tài sản và thụ hưởng 1.335.614.917 đồng/tổng giá trị tài sản trộm được (1.379.114.917 đồng), bị cáo chỉ chia cho bị cáo T 43.500.000 đồng, bị cáo có quá trình nhân thân xấu, đã từng bị phạt tù với cùng tội danh “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích lại tái phạm, phạm tội từ hai lần trở lên, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp và phạm tội có tổ chức là các tình tiết tăng nặng quy định tại các điểm h, g, b, a khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; đồng thời Bản án sơ thẩm đã cân nhắc bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho các bị hại 158.000.000 đồng, có 02 bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đã thành khẩn khai báo, tự thú những lần phạm tội trước lần bị bắt nên xử phạt bị cáo 17 năm tù là tương xứng. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã tác động gia đình nộp thêm 500.000.000 đồng để bồi thường, cộng với số tiền đã nộp trước 158.000.000 đồng nữa là đã khắc phục được khoảng 50% thiệt hại, nên chấp nhận kháng cáo của bị cáo và lời bào chữa của luật sư, sửa Bản án sơ thẩm, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại viện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp.
-
Bị cáo Nguyễn Hoài T là đồng phạm, vai trò thấp hơn so với bị cáo S, chỉ được bị cáo T chia cho một phần rất nhỏ tài sản trộm được. Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, tự thú những lần phạm tội trước lần bị bắt nhưng bị cáo có quá trình nhân thân rất xấu, đã bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, nhiều lần bị phạt tù chưa được xóa án tích lại tái phạm, phạm tội từ hai lần trở lên, phạm tội có tính chất chuyên nghiệp và phạm tội có tổ chức là các tình tiết tăng nặng quy định tại các điểm h, g, b, a khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự nên Bản án sơ thẩm đã cân nhắc xử phạt bị cáo 15 năm tù là tương xứng. Tuy nhiên, sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã tác động gia đình nộp 20.000.000 đồng để bồi thường nên áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, chấp nhận kháng cáo của bị cáo và lời bào chữa của luật sư, sửa Bản án sơ thẩm, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo như đề nghị của đại viện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp.
-
-
Do được chấp nhận kháng cáo nên hai bị cáo đều không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm;
-
Số tiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) do gia đình bị cáo Nguyễn Thanh S nộp và số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) do gia đình bị cáo Nguyễn Hoài T nộp được khấu trừ vào trách nhiệm bồi thường của các bị cáo trong giai đoạn thi hành án.
-
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về trách nhiệm dân sự; về xử lý vật chứng; về án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm; về nghĩa vụ thi hành án, trách nhiệm do chậm thi hành án không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh S và bị cáo Nguyễn Hoài T;
-
Sửa Bản án hình sự sơ thẩm 15/2025/HS-ST ngày 05/3/2025 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh về hình phạt đối với hai bị cáo.
2.1. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 173; Các điểm: b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Các điểm: a, b, g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh S (tên gọi khác: E) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh S (tên gọi khác: E) 15 (mười lăm) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 21/11/2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
2.2. Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 173; Các điểm: b, r, s khoản 1 Điều 51; Các điểm: a, b, g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoài T (tên gọi khác: V) phạm tội “Trộm cắp tài sản".
Xử phạt bị cáo Nguyễn Hoài T (tên gọi khác: V) 14 (mười bốn) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 22/11/2023. Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
-
Các bị cáo Nguyễn Thanh S, Nguyễn Hoài T đều không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
-
Số tiền 500.000.000 đồng (năm trăm triệu đồng) do gia đình bị cáo Nguyễn Thanh S nộp theo Biên lai thu số 0000639 ngày 17/3/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh và số tiền 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng) do gia đình bị cáo Nguyễn Hoài T nộp theo Biên lai thu số 0000694 ngày 24/3/2025 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh được khấu trừ vào trách nhiệm bồi thường của các bị cáo trong giai đoạn thi hành án.
-
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm về trách nhiệm dân sự; về xử lý vật chứng; về án phí hình sự sơ thẩm, án phí dân sự sơ thẩm; về nghĩa vụ thi hành án, trách nhiệm do chậm thi hành án không có kháng cáo kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
-
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Công |
Bản án số 439/2025/HS-PT ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 439/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận kháng cáo, sửa Bản án sơ thẩm
