Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

QUẬN TÂN PHÚ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 439/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 24-6-2025

V/v: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hương

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Võ Kim Hường
  2. Bà Trần Quang Cảnh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Lan – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 6 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 160/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 03 năm 2025, về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 160/2025/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 03 năm 2025, về việc “Ly hôn” và Quyết định hoãn phiên tòa số 880/2025/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 05 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Lê Thị H, sinh năm 1982; CCCD số [...], cấp ngày 12/01/2022 tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Địa chỉ: Số A Đường S, phường T, quận T, Tp.Hồ Chí Minh. (có mặt).

- Bị đơn: Ông Lý Thanh N, sinh năm 1978; CCCD số [...], cấp ngày 03/8/2022 tại Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội; Địa chỉ: Số A Đường S, phường T, quận T, Tp.Hồ Chí Minh. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 10/03/2025 cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn bà Lê Thị H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà H và ông N tự nguyên chung sống với nhau có tổ chức đám cưới và đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 2/2005 quyển số I/P.TT do Ủy ban nhân dân phường T, quận T, TP Hồ Chí Minh cấp ngày 05/01/2005.

Trong thời gian chung sống thì hai vợ chồng bất đồng quan điểm, cách sống khác nhau dẫn đến nhiều mâu thuẫn. Từ khi kết hôn đến nay kinh tế của vợ chồng độc lập, tiền của ông N thì ông giữ chi tiêu, tiền bà kiếm được thì lo cho các con ăn học. Mẹ con bà ăn uống gì thì tự nấu, còn ông N tự nấu những món ông thích. Ngoài ra, khi xảy ra mâu thuẫn bà thường tìm cách để nói chuyện giải quyết nhưng ông N hoàn toàn im lặng nên hai bên không có tiếng nói chung. Mặt khác ông N là người chơi cá độ đá banh dẫn đến nợ phải bán đất đai của gia đình cho để trả nợ, ông N có nhờ bà vay mượn thêm để trả. Năm 2013 bà phát hiện ông N có người phụ nữ khác bên ngoài. Tuy nhiên nhiên bà suy nghỉ cho con nên đã cố gắng tha thứ. Ngoài vấn đề chơi cá độ đá banh, đá gà và có người phụ nữ khác thì ông N còn thường xuyên nhậu nhẹt cùng bạn bè. Cuộc sống của bà diễn ra như vậy suốt gần 20 năm. Bà đã cố gắng chịu đựng rất nhiều vì con nhưng tới nay cuộc sống hôn nhân của bà không còn gì để níu kéo, bà đã không còn tình cảm với ông N nên không thể hòa hợp được nữa. Nay bà H yêu cầu được ly hôn với ông Lý Thanh N.

- Về quan hệ con chung: Bà và ông N có 3 con chung tên Lý Lê Xuân M, sinh ngày 22/8/2005, Lý Lê Thanh S, sinh ngày 21/6/2012 và Lý Lê Thanh T, sinh ngày 26/01/2016. Khi ly hôn bà yêu cầu được nuôi 02 con chung là Lý Lê Thanh S và Lý Lê Thanh T. Bà H không yêu cầu ông N cấp dưỡng. Riêng con chung Lý Lê Xuân M, sinh ngày 22/8/2005 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Bà H khai không có.

- Tại lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn – ông Lý Thanh N trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: ông N xác nhận thời gian chung sống và kết hôn như bà H trình bày là đúng. Ông xác nhận trước đến nay kinh tế vợ chồng độc lập, ông dẫn các con đi mua sắm còn bà H là người chi tiên ăn uống và học hành cho các con. Tiền riêng thì ông giữ không đưa cho bà H. Ông thừa nhận trước đây ông làm cá độ đá banh nhưng đã nghỉ rất lâu, các khoản nợ cá nhân thì ông đã giải quyết. Ngoài ra ông còn thừa nhận có người phụ nữ khác nhưng cũng đã chia tay hiện không còn mối quan hệ với người khác. Ông thừa nhận bản thân có thói quen hằng ngày nhậu với bạn bè nhưng không quấy phá gì vợ con. Nay ông còn thương vợ và các con nên ông không đồng ý ly hôn. Ông muốn vợ chồng hòa thuận, hàn gắn tình cảm cho ông cơ hội thay đổi bản thân.

- Về quan hệ con chung: Ông xác nhận ông và bà H chung sống có 3 con chung tên Lý Lê Xuân M, sinh ngày 22/8/2005, Lý Lê Thanh S, sinh ngày 21/6/2012 và Lý Lê Thanh T, sinh ngày 26/01/2016. Nếu Tòa án giải quyết ly hôn, hai cháu Thanh S

và Thanh T muốn ở với bà H thì ông đồng ý. Ông không cấp dưỡng nuôi con. Riêng con chung Lý Lê Xuân M, sinh ngày 22/8/2005 đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về tài sản chung, nợ chung: Ông N khai không có.

Tòa án đã tiến hành hòa giải để các bên đoàn tụ nhưng không thành.

Bị đơn – Ông Lý Thanh N đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt. Do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo luật định.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú phát biểu quan điểm:

- Về việc tuân theo pháp luật: Đương sự, Thư ký và Hội đồng xét xử đều tuân theo pháp luật tố tụng qui định tại Điều 28; Điều 48; Điều 69; Điều 79; Điều 171; Điều 173 ; Điều 203 và Điều 220 Bộ luật tố tụng dân sự 2015.

- Về nội dung vụ án: Căn cứ vào giấy chứng nhận kết hôn năm 2005 thì quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông N là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Hai bên chung sống phát sinh nhiều mâu thuẫn, bị đơn mong muốn hàn gắn tình cảm nhưng vắng mặt tại phiên tòa nên không thể hiện được thiện chí đoàn tụ. Nay bà H yêu cầu ly hôn, và yêu cầu được nuôi con chung là phù hợp. Do đó căn cứ vào các quy định pháp luật đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà H; Về tài sản chung và nợ chung: bà H và ông N khai không có nên không xem xét; Về án phí: Tính theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Căn cứ vào Giấy chứng nhận kết hôn số 02/2005 quyển số I/P.TT do Ủy ban nhân dân phường T, quận T, Tp . cấp ngày 05/01/2005 cho bà Lê Thị H và ông Lý Thanh N thì quan hệ hôn nhân giữa bà H và ông N là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận. Nay bà H yêu cầu ly hôn, ông N hiện cư ngụ tại quận T. Do đó Toà án nhân dân quận Tân Phú thụ lý giải quyết là phù hợp với khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về thủ tục vắng mặt đương sự:

Bị đơn – ông Lý Thanh N đã được Tòa án nhân dân quận Tân Phú tống đạt quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa theo khoản 1, khoản 2 Điều 177; khoản 2 Điều 220; khoản 3 Điều 233 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, nhưng ông N vẫn vắng mặt không lý do. Căn cứ quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án nhân dân quận Tân Phú vẫn tiến hành xét xử vắng mặt ông N.

[2] Về yêu cầu của nguyên đơn:

- Về quan hệ hôn nhân: Xét, việc bà Lê Thị H yêu cầu ly hôn với ông Lý Thanh N:

Căn cứ lời khai của nguyên đơn trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: bà H và ông N chung sống phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm nên vợ chồng không hạnh phúc. Ngoài ra trong cuộc sống hai bên không hỗ trợ nhau về vấn đề kinh tế. Ông N có người phụ nữ khác bên ngoài và cũng có thú vui chơi cá độ đá banh và hay uống bia rượu cùng bạn bè nên từ đó cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Bản thân ông N mong muốn hàn gắn tình cảm để ông có cơ hội thay đổi nhưng quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay cũng vắng mặt, qua đó thể hiện ông N không có thiện chí để hàn gắn tình cảm. Hiện nay bà H cũng không còn tình cảm với ông N. Xét thấy, tình trạng vợ chồng giữa bà H và ông N là có thật, khả năng hàn gắn không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Căn cứ Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà H.

- Về quan hệ con chung: Xét, bà H yêu cầu trực tiếp nuôi dưỡng 02 (hai) con chung tên Lý Lê Thanh S, sinh ngày 21/6/2012 và Lý Lê Thanh T, sinh ngày 26/01/2016. Bà H không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy:

Xét, việc giao con chung cho ai là người trực tiếp nuôi dưỡng phải dựa vào quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên. Hiện nay con chung đang chung sống cùng bà H ông N, các cháu phát triển bình thường. Ngoài ra, nguyện vọng của 02 con chung là muốn sống cùng bà H. Mặt khác, tại bản tự khai và biên bản hòa giải ông N cũng đồng ý giao 02 con chung Lý Lê Thanh S, sinh ngày 21/6/2012 và Lý Lê Thanh T, sinh ngày 26/01/2016 cho bà H trực tiếp nuôi dưỡng. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy việc bà H yêu cầu được nuôi 02 con chung là có cơ sở và phù hợp quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Ghi nhận việc bà H không yêu cầu ông N cấp dưỡng nuôi con.

Riêng con chung tên Lý Lê Xuân M, sinh ngày 22/8/2005 đã trưởng thành, bà H và ông N không có yêu cầu. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Bà H khai không có, tại bản tự khai và biên bản hòa giải ông N cũng khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này bà H, ông N chứng minh được hai bên có tài sản chung và có nợ chung thì sẽ được khởi kiện bằng vụ án khác.

[3] Về án phí:

Căn cứ theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu,

miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bà H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 267; khoản 1 Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56; Điều 57; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84; Điều 107; Điều 110; Điều 116; Điều 117, Điều 118 và Điều 119 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 24; điểm a khoản 5 Điều 27; điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/NQUBTVQH14 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn bà Lê Thị H.

- Về quan hệ hôn nhân: bà Lê Thị H được ly hôn với ông Lý Thanh N.

Giấy chứng nhận kết hôn số 02/2005 quyển số I/P.TT do Ủy ban nhân dân phường T, quận T, Tp . cấp ngày 05/01/2005 cho bà Lê Thị H và ông Lý Thanh N không còn giá trị pháp luật kể từ ngày Bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.

- Về quan hệ con chung: Giao 02 (hai) con chung tên Lý Lê Thanh S, sinh ngày 21/6/2012 và Lý Lê Thanh T, sinh ngày 26/1/2016 cho bà Lê Thị H trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng của ông Lý Thanh N do bà Lê Thị H không có yêu cầu.

+ Khi có lý do chính đáng, mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng có thể thay đổi. Việc thay đổi mức cấp dưỡng và phương thức cấp dưỡng do các bên tự thỏa thuận. Nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết.

+ Ông N được quyền thăm nom con, không ai được cản trở.

+ Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha mẹ hoặc cá nhân, tổ chức (người thân thích, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình, cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em, Hội L), Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Riêng con chung tên Lý Lê Xuân M, sinh ngày 22/8/2005 đã trưởng thành, bà H và ông N không có yêu cầu. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét.

- Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Bà H khai không có, tại bản tự khai và biên bản hòa giải ông N cũng khai không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Nếu sau này bà H, ông N chứng minh được hai bên có tài sản chung và có nợ chung thì sẽ được khởi kiện bằng vụ án khác.

2. Về án phí:

Bà Lê Thị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí do bà H đã nộp theo biên lai thu tiền số 0078075 ngày 20 tháng 03 năm 2025 của Chi cục thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà H đã nộp đủ án phí.

Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

3. Quyền kháng cáo:

Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận

  • - Các đương sự;
  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND Quận Tân Phú;
  • - UBND p.Tây Thạnh, Q.Tân Phú;
  • - Chi cục THADS Q. Tân Phú;
  • - Lưu VP, hồ sơ ./.(Vinh).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thanh Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 439/2025/HNGĐ-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 439/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: xét xử
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger