Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập- Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 4385/2024/DS-ST

Ngày: 17/9/2024

V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ánh Nguyệt

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Bà Bùi Thị Phụng
  • 2. Bà Nguyễn Thị Lượng

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mến, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Phượng- Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1144/2024/TLST - DS ngày 30/5/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6928/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Lâm Ngọc C, sinh năm 1965

Thường trú: Số A Đường B, khu phố I, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, (có đơn xin vắng mặt).

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thiên T, sinh năm 1971

Địa chỉ: Số F Đường H, khu phố G, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lâm Ngọc C trình bày: Do quen biết nên ngày 17/3/2021 bà có cho bà Nguyễn Thị Thiên T vay số tiền là 20.000.000 đồng, hai bên viết giấy mượn tiền với số tiền là 20.000.000 đồng, sau đó ngày 17/4/2021, bà T vay thêm 10.000.000 đồng nên viết thêm 10.000.000 đồng vào giấy mượn tiền ngày 17/3/2021, hai bên có thỏa thuận trả lãi theo lãi suất Ngân hàng chứ không thỏa thuận cụ thể là bao nhiêu. Thời hạn vay là 01 năm nhưng bị đơn không thực hiện nên hai bên có viết lại giấy mượn tiền, xác định mượn số tiền là 30.000.000 đồng và hẹn đến tháng 4/2024 sẽ trả số tiền gốc và lãi nhưng cho đến nay bị đơn vẫn chưa thanh toán số tiền gốc và lãi nên nay bà khởi kiện yêu cầu bị đơn trả tiền gốc và tiền lãi tính từ ngày 17/4/2021 đến ngày xét xử với lãi suất 10%/năm.

Số tiền trên là của cá nhân bà C cho cá nhân bà T vay nên nay bà C chỉ yêu cầu cá nhân bà T trả, không liên quan gì đến ai. Khi vay tiền bà T không có thế chấp tài sản gì.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Thiên T đã được Toà án tống đạt hợp lệ để tham gia tố tụng tại Toà án nhưng đều vắng mặt nên Toà án không thể lấy lời khai của bà T.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn bà Lâm Ngọc C yêu cầu bị đơn trả số tiền gốc còn nợ là 30.000.000 đồng, tiền lãi tính từ ngày 18/4/2021 đến ngày xét xử với lãi suất 10%/năm với số tiền là 10.000.000 đồng.

* Bị đơn bà Nguyễn Thị Thiên T đã được Toà án tống đạt hợp lệ để tham gia tố tụng tại Toà án nhưng đều vắng mặt nên Toà án không thể lấy lời khai của bà T được.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.

Về nội dung: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến, sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Căn cứ đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo có cơ sở xác định quan hệ pháp luật tranh chấp giữa bà Lâm Ngọc C và bà Nguyễn Thị Thiên T là tranh chấp hợp đồng vay tài sản được quy định tại Khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015. Bị đơn cư trú tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh nên theo điểm a Khoản 1 Điều 35 và Điểm a Khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt. Bị đơn bà Nguyễn Thị Thiên T đã được tống đạt theo quy định của pháp luật nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ vào điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung:

2.1 Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn phải trả số tiền gốc còn nợ là 30.000.000 đồng; Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bà Lâm Ngọc C và bà Nguyễn Thị Thiên T thỏa thuận với nhau việc vay tiền và được các bên lập giấy mượn tiền nên thỏa thuận vay tiền giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật.

Căn cứ vào giấy mượn tiền ngày 17/3/2021 giữa bà Lâm Ngọc C và bà Nguyễn Thị Thiên T thể hiện bà C có cho bà T vay số tiền là 30.000.000 đồng, thời hạn vay là 01 năm kể từ ngày 17/3/2021. Các bên thỏa thuận trả lãi nhưng không thỏa thuận lãi suất cụ thể là bao nhiêu. Do bà T không thực hiện như thỏa thuận nên ngày 21/01/2024 bà T tiếp tục viết giấy mượn tiền xác nhận lại còn nợ số tiền là 30.000.000 đồng và cam kết đến tháng 4/2024 sẽ trả hết số tiền gốc và lãi cho nguyên đơn. Xét theo thỏa thuận, bà Nguyễn Thị Thiên T có trách nhiệm trả số tiền đã vay đến tháng 4/2024 nhưng do bị đơn không thực hiện nên nguyên đơn yêu cầu cá nhân bà Nguyễn Thị Thiên T thanh toán số tiền nợ gốc là 30.000.000 đồng là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.

2.2 Xét, yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn phải trả số tiền lãi chậm trả với mức lãi suất là 10%/năm, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Theo thỏa thuận thời gian vay tiền đến tháng 4/2024, có thỏa thuận lãi suất nên nguyên đơn yêu cầu tính lãi kể từ ngày 18/4/2021 đến ngày 17/9/2024 theo mức lãi suất 10%/năm. Xét thấy, khi đến hạn bị đơn không trả nợ nên nguyên đơn yêu cầu trả tiền lãi theo mức lãi suất 10%/năm kể từ ngày 18/4/2021 là phù hợp với quy định tại Khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 và có cơ sở nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.

Căn cứ vào Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tính lãi như sau:

- Tiền lãi từ ngày 18/4/2021 đến ngày 17/9/2024 là 03 năm 05 tháng theo mức lãi suất 10%/năm với số tiền là 10.000.000 đồng là có lợi cho bị đơn nên được chấp nhận.

Như vậy, tổng số tiền gốc và lãi nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả cho nguyên đơn bà C là 30.000.000 đồng + 10.000.000 đồng = 40.000.000 đồng là có cơ sở.

[3] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử nhận thấy bị đơn có giao dịch vay tiền với nguyên đơn, quá trình vay mượn đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên có cơ sở chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[4] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Về án phí: Nguyên đơn bà Lâm Ngọc C không phải chịu án phí, hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho bà C.

Bị đơn bà Nguyễn Thị Thiên T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm 2.000.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 40, khoản 1 Điều 147, Khoản 2 Điều 227, Khoản 1, Điều 228, Điều 238, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 357, 429, 463, 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015;

- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014;

- Căn cứ Luật phí và Lệ phí năm 2015;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lâm Ngọc C.

    Buộc bà Nguyễn Thị Thiên T trả cho bà Lâm Ngọc C số tiền là 40.000.000 (bốn mươi triệu) đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bà Lâm Ngọc C cho đến khi thi hành án xong số tiền nêu trên, hàng tháng bà Nguyễn Thị Thiên T còn phải chịu khoản tiền lãi theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

    Bà Nguyễn Thị Thiên T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.000.000 (hai triệu đồng). Bà Nguyễn Thị Thiên T chưa nộp án phí.

    Bà Lâm Ngọc C không phải chịu án phí. Hoàn lại cho bà Lâm Ngọc C số tiền tạm ứng án phí 1.320.000 (một triệu ba trăm hai mươi ngàn đồng) theo biên lai thu số 0027076 ngày 24/5/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.

  3. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
  4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND TP. Thủ Đức;
  • - Chi cục THADS TP. Thủ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Ánh Nguyệt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 4385/2024/DS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 4385/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger