TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 4381/2023/DS-ST.
Ngày: 20/11/2023.
V/v: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Quốc Thịnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Huỳnh Thị Thanh Thảo.
- Bà Phạm Thị Ngọc Dưỡng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Xuân Thu – Cán bộ Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Lam - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 790/2023/TLST-DS, ngày 19/5/2023 về “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 6771/2023/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 10 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 7052/2023/QĐST-DS ngày 03/11/2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Võ Bá C, sinh năm 1973.
Địa chỉ: Số A V, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Triệu Thị Linh H.
Địa chỉ: Số A V, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Văn bản ủy quyền ngày 03/6/2023.
- Bị đơn: Ông Hà Phương B, sinh năm 1976
Địa chỉ: Căn hộ C 0808 Chung cư D, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Tại phiên tòa: Bà Triệu Thị Linh H có đơn xin vắng mặt; ông Hà Phương B vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại Đơn khởi kiện ngày 07/10/2022, các bản tự khai, nguyên đơn - ông Võ Bá C, có bà Triệu Thị Linh H là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Ông Võ Bá C có cho ông Hà Phương B vay tổng số tiền là 430.000.000 đồng (Bốn trăm ba mươi triệu đồng) theo các giấy mượn tiền lần lượt như sau. Lần 1: Ngày 09 tháng 12 năm 2021 cho ông B vay 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) trong thời hạn 20 ngày (Hai mươi ngày) kể từ ngày 09 tháng 12 năm 2021 đến ngày 29 tháng 12 năm 2021; Lần 2: Ngày 10 tháng 12 năm 2021 cho ông B vay 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) trong thời hạn 30 ngày (Ba mươi ngày) kể từ ngày 10 tháng 12 năm 2021; Lần 3: Ngày 23 tháng 3 năm 2022 cho ông B vay 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng) trong thời hạn 30 ngày (Ba mươi ngày) kể từ ngày 23 tháng 3 năm 2022; Lần 4: Ngày 24 tháng 3 năm 2022 cho ông B vay 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) trong thời hạn 30 ngày (Ba mươi ngày) kể từ ngày 24 tháng 3 năm 2022. Mặc dù hai bên có thỏa thuận về thời hạn trả các khoản tiền trên. Tuy nhiên cho đến thời điểm hiện tại, sau nhiều lần nhắc nhở, ông B vẫn cố tình kéo dài, chưa thành toán bất kỳ lần nào.
Nay đề nghị, Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức giải quyết những vấn đề sau: Yêu cầu ông Hà Phương B trả lại cho ông Võ Bá C, số tiền là 430.000.000 đồng (Bốn trăm ba mươi triệu đồng) và yêu cầu ông Hà Phương B trả phần lãi do chậm thanh toán tạm tính đến ngày 20/11/2023. Tổng số tiền lãi chậm trả là: 9.444.420 + 18.583.323 + 12.577.768 + 31.444.426 = 72.049.937 đồng. Vậy tổng số tiền tạm tính là 430.000.000 + 72.049.937 = 502.049.937 đồng. Yêu cầu trả một lần ngay sau khi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Đối với số tiền nêu trên mà ông C cho ông B vay là tiền của cá nhân ông C. Ông C cho cá nhân ông B vay tiền không liên quan ai khác nên xác định chỉ khởi kiện ông B là người có trách nhiệm trả tiền, không yêu cầu ai khác.
Quá trình tiến hành tố tụng: Bị đơn – ông Hà Phương B không đến làm việc theo giấy triệu tập và thông báo của Tòa án. Tòa án đã niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn vắng mặt không có lý do, không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu: Các trình tự, thủ tục đều tuân thủ quy định của pháp luật. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thẩm quyền: Nguyên đơn – ông Võ Bá C khởi kiện bị đơn – ông Hà Phương B tranh chấp hợp đồng vay tài sản, bị đơn cư trú tại thành phố T. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Triệu Thị Linh H có đơn xin vắng mặt. Bị đơn – ông Hà Phương B vắng mặt. Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[3] Về yêu cầu của đương sự: Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, xét các giấy mượn tiền gồm: Lần 1: Ngày 09 tháng 12 năm 2021 cho ông B vay 50.000.000 đồng (Năm mươi triệu đồng) trong thời hạn 20 ngày (Hai mươi ngày) kể từ ngày 09 tháng 12 năm 2021 đến ngày 29 tháng 12 năm 2021. Lần 2: Ngày 10 tháng 12 năm 2021 cho ông B vay 100.000.000 đồng (Một trăm triệu đồng) trong thời hạn 30 ngày (Ba mươi ngày) kể từ ngày 10 tháng 12 năm 2021. Lần 3: Ngày 23 tháng 3 năm 2022 cho ông B vay 80.000.000 đồng (Tám mươi triệu đồng) trong thời hạn 30 ngày (Ba mươi ngày) kể từ ngày 23 tháng 3 năm 2022. Lần 4: Ngày 24 tháng 3 năm 2022 cho ông B vay 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng) trong thời hạn 30 ngày (Ba mươi ngày) kể từ ngày 24 tháng 3 năm 2022.
Xét thấy, các thỏa thuận của nguyên đơn - ông C và bị đơn - ông B nêu trên là hoàn toàn tự nguyện, không trái quy định pháp luật nên là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia giao dịch. Bị đơn - ông Hà Phương B đều ký tên, ghi họ tên và điểm chỉ vào bên mượn của các giấy mượn tiền. Quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn - ông C xuất trình bản chính các giấy mượn tiền, bị đơn - ông B không đến làm việc theo giấy triệu tập và thông báo của Tòa án, không có văn bản thể hiện ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Căn cứ Điều 91, Khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết vụ án. Bị đơn - ông B đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền theo các giấy mượn tiền: Lần 1 ngày 09 tháng 12 năm 2021, Lần 2 ngày 10 tháng 12 năm 2021, Lần 3 ngày 23 tháng 3 năm 2022, Lần 4 ngày 24 tháng 3 năm 2022 nên nguyên đơn - ông C khởi kiện yêu cầu trả tiền nợ gốc tổng cộng 430.000.000 đồng (Bốn trăm ba mươi triệu đồng) là có căn cứ.
Về tiền lãi: Xét 04 giấy mượn tiền nêu trên đều có ghi thời hạn trả tiền, nhưng hai bên không có thỏa thuận về lãi suất. Do đó, đối với yêu cầu tính tiền lãi của nguyên đơn - ông C sẽ được tính theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2015. Tại Khoản 4 Điều 466 Nghĩa vụ trả nợ của bên vay quy định: “4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác”.
Do vậy căn cứ Điều 468 Bộ luật dân sự 2015, nguyên đơn - ông C yêu cầu tính tiền lãi với lãi suất 10%/năm là phù hợp quy định pháp luật nên được chấp nhận. Số tiền lãi được tính cụ thể như sau:
Lần 1: Giấy mượn tiền ngày 09/12/2021, vi phạm tính từ ngày 30/12/2021 đến ngày 20/11/2023 (01 năm 10 tháng 20 ngày), với số tiền 50.000.000 đồng. Vậy, tiền lãi là (5.000.000 + 4.166.660 +277.760) = 9.444.420 đồng
Lần 2: Giấy mượn tiền ngày 10/12/2021, vi phạm tính từ ngày 11/01/2022 đến ngày 20/11/2023 (01 năm 10 tháng 09 ngày), với số tiền 100.000.000 đồng. Vậy, tiền lãi là (10.000.000 + 8.333.330 + 249.993) = 18.583.323 đồng.
Lần 3: Giấy mượn tiền ngày 23/3/2022, vi phạm tính từ ngày 24/4/2022 đến ngày 20/11/2023 (01 năm 06 tháng 26 ngày), với số tiền 80.000.000 đồng. Vậy, tiền lãi là (8.000.000 + 3.999.996 + 577.772) = 12.577.768 đồng.
Lần 4: Giấy mượn tiền ngày 24/3/2022, vi phạm tính từ ngày 25/4/2022 đến ngày 20/11/2023 (01 năm 06 tháng 26 ngày), với số tiền 200.000.000 đồng. Vậy, tiền lãi là (20.000.000 + 9.999.996 + 1.444.430) = 31.444.426 đồng.
Vậy tổng cộng tiền lãi là: 72.049.937 đồng.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Võ Bá C. Buộc bị đơn - ông Hà Phương B có trách nhiệm trả cho ông Võ Bá C số tiền (430.000.000 + 72.049.937) = 502.049.937 đồng (Năm trăm lẻ hai triệu không trăm bốn mươi chín nghìn chín trăm ba mươi bảy đồng).
[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn – ông Hà Phương B phải chịu tiền án phí là 24.081.997 đồng.
Nguyên đơn – ông Võ Bá C được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 11.075.342 đồng theo biên lai thu tiền số 0003351 ngày 15/5/2023 do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức lập.
[5] Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phân tích và đề nghị là có căn cứ, phù hợp nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- - Khoản 3 Điều 26; Điểm a Khoản 1 Điều 35; Điểm a Khoản 1 Điều 39; Khoản 1 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
- - Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
- - Luật phí và lệ phí năm 2015.
- - Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.
- - Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- - Luật thi hành án dân sự.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Võ Bá C: Buộc ông Hà Phương B có trách nhiệm trả cho ông Võ Bá C số tiền còn nợ là 430.000.000 đồng và tiền lãi 72.049.937 đồng, tổng cộng 502.049.937 đồng (Năm trăm lẻ hai triệu không trăm bốn mươi chín nghìn chín trăm ba mươi bảy đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ông Võ Bá C cho đến khi thi hành án xong, ông Hà Phương B còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bị đơn – ông Hà Phương B phải chịu tiền án phí là 24.081.997 đồng (Hai mươi bốn triệu không trăm tám mươi mốt nghìn chín trăm chín mươi bảy đồng).
Nguyên đơn – ông Võ Bá C được nhận lại số tiền tạm ứng án phí 11.075.342 đồng (Mười một triệu không trăm bảy mươi lăm nghìn ba trăm bốn mươi hai đồng) theo biên lai thu tiền số 0003351 ngày 15/5/2023 do Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức lập.
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn – ông Võ Bá C và bị đơn – ông Hà Phương B được quyền kháng cáo bản án này đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận hoặc niêm yết bản sao bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Ký tên) |
Bản án số 4381/2023/DS-ST ngày 20/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 4381/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông C khởi kiện ông B
