Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 438/2025/DS-ST

Ngày 30 - 9 - 2025

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất & xác định ranh giới quyền sử dụng đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – TÂY NINH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mộng Thúy

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Chí Lin
  2. Bà Trương Thị Kim Tiến

Thư ký phiên tòa: Nguyễn Thị Kim Thoa - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3 – Tây Ninh.

Đại diện viện kiểm sát nhân dân khu vực 3 - Tây Ninh gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Còn - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 29 và 30 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 3-Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 1053/2024/TLST-DS ngày 08 tháng 11 năm 2024 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất & xác định ranh giới quyền sử dụng đất” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 524/2025/QĐXXST - DS ngày 18 tháng 9 năm 2025, giữa:

1. Nguyên đơn: Ông Lê Huy H, sinh năm 1948. Địa chỉ liên hệ hiện nay: A đường số H, phường B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ liên hệ cũ: A đường số H, phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ thường trú hiện nay: F T, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ thường trú cũ: F T, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của ông H: Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1975 .Địa chỉ hiện nay: 1 T, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh. Địa chỉ cũ: 1 T, phường A, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

(Theo Hợp đồng ủy quyền do Văn phòng C, quyển số 06/2025TP/CC-SCC/HĐGD ngày 10/6/2025) (có mặt)

2. Bị đơn: Ông Trần Văn T1, sinh năm 1955

Địa chỉ: ấp S, xã A, tỉnh Tây Ninh.

Địa chỉ cũ: ấp S, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An.

Người đại diện theo ủy quyền của ông T1: Ông Trần Quốc T2, sinh năm 1975 (Theo Hợp đồng ủy quyền số 4810/2025/CCGD do Văn phòng C1 công chứng số 4810/2025/CCGD ngày 13/9/2025) (có mặt)

Địa chỉ: ấp A, xã A, tỉnh Tây Ninh.

Địa chỉ cũ: ấp A, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An.

3.Người quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Hữu T3, sinh năm 1972
  2. Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1975
  3. Ông Lương Hữu T4, sinh năm 1986

Địa chỉ: 1 T, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ cũ: 1 T, phường A, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Ông Nguyễn Hữu T5, sinh năm 1974

Địa chỉ: F M, xã H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ cũ: F M, T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền của ông T3, ông T4, ông T5: Ông Nguyễn Hữu T, sinh năm 1975 (Theo Hợp đồng ủy quyền số 4810/2025/CCGD do Văn phòng C2, quyển số 01/2025TP/CC-SCC/HĐGD ngày 09/6/2025) (có mặt).

Địa chỉ: 1 T, phường P, Thành phố Hồ Chí Minh.

Địa chỉ cũ: 1 T, phường A, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Bà Trần Thị H1, sinh năm 1970 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp B, xã T, tỉnh Tây Ninh.

Địa chỉ cũ: ấp B, xã S, huyện T, tỉnh Tây Ninh.

  1. Bà Trần Thị T6, sinh năm 1967 (vắng mặt)

Địa chỉ: 9 T, phường L, tỉnh Tây Ninh.

Địa chỉ cũ: 9 T, phường D, Thành phố T, tỉnh Long An.

  1. Bà Trần Thị T7, sinh năm 1965 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp L, xã A, tỉnh Tây Ninh

Địa chỉ cũ: ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An.

  1. Bà Trần Thị H2, sinh năm 1957 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp L, xã A, tỉnh Tây Ninh

Địa chỉ cũ: ấp L, xã L, huyện Đ, tỉnh Long An.

  1. Ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1973 (có mặt)

Địa chỉ: ấp S, xã A, tỉnh Tây Ninh.

Địa chỉ cũ: ấp S, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An.

Người đại diện theo ủy quyền của ông Đ: Ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1959 (vắng mặt) (Theo Giấy ủy quyền do Văn phòng C3 công chứng số 528, quyển số 01-SCT/CK,CĐ ngày 30/10/2024)

Địa chỉ: Khu phố D, xã Đ, tỉnh Tây Ninh.

2

Địa chỉ cũ: Khu phố D, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Long An.

  1. Bà Dương Thị Đ2, sinh năm 1975 (vắng mặt)
  2. Ông Nguyễn Chí T8, sinh năm 1992 (vắng mặt)
  3. Ông Nguyễn Chí L, sinh năm 1994 (vắng mặt)
  4. Bà Phạm Thị P, sinh năm 1962 (vắng mặt)
  5. Ông Trần Quang H3, sinh năm 1987 (vắng mặt)
  6. Bà Trần Thị Ngọc H4, sinh năm 1991 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: ấp S, xã A, tỉnh Tây Ninh.

Cùng địa chỉ cũ: ấp S, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 18 tháng 10 năm 2024, đơn khởi kiện bổ sung ngày 09 tháng 09 năm 2025 và lời trình bày tiếp theo tại Tòa án của ông Lê Huy H do ông Nguyễn Hữu T đại diện trình bày:

Mẹ ông Lê Huy H là cụ bà Lê Thị Đ3 chết 2004, cụ Đ3 có 02 người con: 1. Ông Lê Huy H và 2. Bà Nguyễn Thúy P1 (chết năm 2022) có 4 người con: 2.1/ Nguyễn Hữu T, 2.2/ Lương Hữu T4, 2.3/ Nguyễn Hữu T3, 2.4/ Nguyễn Hữu T5. Nguồn gốc quyền sử dụng đất thuộc thửa 191, 190, 161, 192 tờ bản đồ số 03 cũ (nay thuộc tờ bản đồ mới là 96) tại ấp S, xã A, tỉnh Tây Ninh ( trước đây là ấp S, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An) là của cha mẹ cụ Đ3 chết để lại. Cụ Đ3 quản lý sử dụng từ trước năm 1975. Đến năm 1975 do cụ Đ3 chuyển nhà về Thành phố ở nên cụ Đ3 có cho bà Biện Thị K cất nhà ở nhờ trên đất thửa 192 và quản lý, sử dụng, canh tác trên các thửa còn lại. Đến khoảng năm 2002, thì bà Biện Thị K trả đất lại cho cụ Đ3. Nhưng do cụ Đ3 ở xa, không có trực tiếp canh tác đất nên ông T1 có nhà gần đó vào canh tác trên 4 thửa đất trên. Đến khi cụ bà Đ3 chết, thì các người con của bà Đ3 có yêu cầu ông T1 trả đất, nhưng ông T1 không đồng ý trả. Nay ông H (con cụ Đ3) yêu cầu:

  1. Buộc ông T1 trả lại quyền sử dụng đất có diện tích đo đạc thực tế là 1.937,2m² thuộc thửa 190, 161, 192, 191 tờ bản đồ số 3 cũ (tờ bản đồ mới là 96) tại xã A, tỉnh Tây Ninh cho những người thừa kế của bà Đ3 gồm ông H, và các con bà Thúy P1 (ông T3, ông T5, ông T, ông T4);
  2. Công nhận các quyền sử dụng đất có diện tích đo đạc thực tế là 1.937,2m² thuộc thửa 190, 161, 192, 191 tờ bản đồ số 96 (tờ bản đồ cũ là số 03) tại xã A, tỉnh Tây Ninh là của những người thừa kế của cụ Đ3 là ông H, T, T3, T5, T4 để được đi đăng ký kê khai phần đất trên.

Ngoài ra ông không yêu cầu gì khác.

3

Theo đơn yêu cầu phản tố ngày 10 tháng 9 năm 2025, bản tự khai và lời trình bày tiếp theo tại phiên tòa của bị đơn ông Trần Văn T1 do ông Trần Quốc T2 đại diện trình bày:

Ông H với ông T1 là họ hàng cùng đầu ông S là cụ Lê Văn L1, ông H là con của người chi thứ 8, ông T1 là con của người chi thứ 5, ông T9 là con của người chỉ thứ Út. Nguồn gốc đất thửa 190, 161, 192, 191 tờ bản đồ số 96 (tờ bản đồ cũ là số 03) tại xã A, tỉnh Tây Ninh là của ông bà S để lại. Bà Đ3 chỉ đại diện gia tộc đứng tên, quản lý. Đến năm 1975 bà Đ3 có cho bà K ở, việc bà K được đăng ký trong sổ mục kê, thì gia tộc không biết. Đến khoảng 2001 thì bà K trả đất lại, gia tộc đã thống nhất giao lại cho ông T1 quản lý sử dụng có chi của người thứ Út do ông Phan Đức T9 đại diện viết giấy xác nhận để lại cho ông. Từ khi được giao đất ông T1 sử dụng, ông T1 đã san lấp 2 hố bơm, trông coi gìn giữ 2 ngôi mộ, không ai tranh chấp hay ngăn cản.

Đối với phần ranh đất với ông Đ, ông đồng ý xác định ranh đất giữa ông và ông Đ theo ranh bản đồ địa chính.

Nay ông T1 yêu cầu:

Công nhận các quyền sử dụng đất có diện tích đo đạc thực tế là 1.937,2m² thuộc thửa 190, 161, 192, 191 tờ bản đồ số 96 (tờ bản đồ cũ là số 03) tại xã A, tỉnh Tây Ninh là của ông Trần Văn T1 để ông T1 được đi đăng ký kê khai phần đất trên.

Ngoài ra ông không yêu cầu gì khác.

Theo đơn yêu cầu độc lập ngày 07 tháng 6 năm 2025, đơn yêu cầu độc lập bổ sung ngày 09 tháng 09 năm 2025, bản tự khai và lời trình bày tiếp theo tại phiên tòa của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hữu T, ông Nguyễn Hữu T3, ông Lương Hữu T4, ông Nguyễn Hữu T5 do ông Nguyễn Hữu T đại diện trình bày:

Các ông thống nhất với lời trình bày của ông H. Các ông là con của bà Nguyễn Thúy P1, cháu ngoại của cụ bà Lê Thị Đ3. Cụ Đ3 quản lý sử dụng từ trước năm 1975, đến năm 1975 do ở xa nên cụ Đ3 có cho bà Biện Thị K cất nhà trên đất và quản lý, sử dụng, canh tác trên các thửa còn lại. Đến khoảng năm 2002, thì bà K trả đất lại cho cụ Đ3. Nhưng do cụ Đ3 ở xa, không có trực tiếp canh tác đất nên có cho ông T1 canh tác trên 4 thửa đất trên. Đến khi cụ Đ3 chết, thì các người con của cụ Đ3 có yêu cầu ông T1 trả đất, nhưng ông T1 không đồng ý trả.

Các ông có yêu cầu:

4

  1. Buộc ông T1 trả lại quyền sử dụng đất có diện tích đo đạc thực tế là 1.937,2m² thuộc thửa 190, 161, 192, 191 tờ bản đồ số 96 thửa 190, 161, 192, 191 tờ bản đồ số 96 (tờ bản đồ cũ là số 03) tại xã A, tỉnh Tây Ninh;
  2. Công nhận các quyền sử dụng đất có diện tích đo đạc thực tế là 1.937,2m² thuộc thửa 190, 161, 192, 191 tờ bản đồ số 96 thửa 190, 161, 192, 191 tờ bản đồ số 96 (tờ bản đồ cũ là số 03) tại xã A, tỉnh Tây Ninh là của những người thừa kế của bà Đ3 là ông H và các con bà Phượng T10, T3, T5, T4 để được đi đăng ký kê khai phần đất trên.

Ngoài ra các ông không yêu cầu gì khác.

Theo đơn khởi kiện ngày 17 tháng 10 năm 2024, bản tự khai và các lời trình bày tiếp theo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Đ trình bày:

Ông là con bà Biện Thị K, bà Biên Thị K1 có 7 người con: 1.Nguyễn Văn Đ, 2. Nguyễn Thị G, 3. Nguyễn Văn H5, 4. Phạm Thị P2, 5. Phạm Thị D, 6. Phạm Thị L2 (chết có 02 người con làTrà Thị Mai Lý và Trà Thị Mai T11); 7. Phạm Thị Ánh . Đất bà Đ3 liền canh với đất mẹ ông là bà K1. Từ năm 1975 bà Đ3 cho cho mẹ ông là bà K1 cất nhà và canh tác trên các phần đất thuộc thửa 190, 161, 192, 191 tờ bản đồ số 96 (tờ bản đồ cũ là số 03) tại xã A, tỉnh Tây Ninh. Đến khoảng năm 2001, do nhà cháy thì mẹ ông trả lại đất cho bà Đ3. Sau đó ông thấy ông T1 tự canh tác, còn lý do thì ông không rõ. Nay qua yêu cầu của nguyên đơn, bị đơn, ông không có ý kiến. Ông không có yêu cầu gì đối với các thửa đất 190, 161, 192, 191 tờ bản đồ số 96 (tờ bản đồ cũ là số 03) có diện tích 1.937,2m² tại xã A, tỉnh Tây Ninh.

Ông là chủ quyền sử dụng đất thuộc thửa 193, 221, 196, 217 tờ bản đồ số 96 (tờ bản đồ cũ là số 03) tại xã A, tỉnh Tây Ninh giáp ranh với thửa 192, 194, 195, 198, 199 tờ bản đồ số 96 (tờ bản đồ cũ là số 03) tại xã A, tỉnh Tây Ninh của ông T1 đang quản lý, sử dụng. Giữa ông với ông T1 không thống nhất được ranh đất. Nay ông yêu cầu:

Buộc gia đình ông T1 trả lại cho ông phần đất tại khu D (14,5m²), E (6,6m²) thuộc thửa 192; khu G (11,4m²) thuộc thửa 194, Khu O (10,2m²) thuộc thửa 193, Khu Q (20,1m²) thuộc thửa 221, khu S (18,9m²) thuộc thửa 196, khu I (7m²) thuộc thửa 195, Khu K (12,3m²) thuộc thửa 195, Khu M (7,6m²) thuộc thửa 199, khu U (8,1m²) thuộc thửa 217 tờ bản đồ số 96 (tờ bản đồ cũ là số 03) tại xã A, tỉnh Tây Ninh theo Mãnh trích đo Công ty cổ phần D2 Chi nhánh T14 lập được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực Đ duyệt ngày 29/9/2025.

5

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị H1, bà Trần Thị T6, bà Trần Thị T7, bà Trần Thị H2 có văn bản trình bày:

Các bà là chị ruột của ông Trần Văn T1, cha mẹ các bà là ông Trần Văn T12 (mất năm 2022) và bà Võ Thị Kiều O (mất năm 2008). Cha mẹ các ông bà có 05 người con: 1.Trần Văn T1, 2. Trần Thị H1, 3. Trần Thị T7, 4. Trần Thị H2. Các bà với ông H là chung đầu ông S. Ông cố các bà là người thứ 5, ông ngoại ông H là người thứ 8. Nguồn gốc quyền sử dụng đất thuộc thửa 190, 161, 192, 191 tờ bản đồ số 96 (tờ bản đồ cũ là số 03) có diện tích 1.937,2m² tại xã A, tỉnh Tây Ninh là ông S để lại làm hương quả. Năm 1975 bà K1 ở đất này. Năm 2003, bà K1 trả lại đất, chỉ thứ út là ông Phan Đức T9 để lại cho ông T1 canh tác tới nay. Các bà không có yêu cầu gì trong vụ án, để cho ông T1 toàn quyền quyết định và các bà đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị P, Trần Quang H3, Trần Thị Ngọc H4 có văn trình bày: Các ông bà là vợ và con của ông T1, các ông bà thống nhất với lời trình bày của ông T1 và để ông T1 toàn quyền quyết định trong vụ án. Các ông bà đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Dương Thị Đ2, ông Nguyễn Chí L, ông Nguyễn Chí T8 có văn bản trình bày: Các ông bà là vợ và con của ông Đ. Các ông bà thống nhất với lời trình bày của ông Đ và để ông Đ toàn quyền quyết định trong vụ án. Các ông bà đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H5, ông Nguyễn Thị G, bà Phạm Thị D, bà Phạm Thị P2, Phạm Thị Á, Trà Thị Mai L3, Trà Thị Mai T11 có văn trình bày: Các ông bà là con cháu của bà Biên Thị K1. Các ông bà thống nhất với lời trình bày của ông Đ. Nguồn gốc quyền sử dụng đất thuộc các thửa 190, 161, 192, 191 tờ bản đồ số 96 (tờ bản đồ cũ là số 03) có diện tích 1.937,2m² tại xã A, tỉnh Tây Ninh là do bà K1 được bà Đ3 cho ở nhờ. Đến khoảng năm 2001 nhà bị cháy thì bà K1 đã trả đất cho bà Đ3. Nên các ông bà không yêu cầu gì trong vụ án và đề nghị được vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án.

Ủy ban nhân dân xã A, tỉnh Tây Ninh (trước đây là Ủy ban nhân dân xã A, huyện Đ, tỉnh Long An) có văn bản trình bày: Nguồn gốc quyền sử dụng đất thuộc thửa 190, 161, 192, 191 tờ bản đồ số 3 cũ (tờ bản đồ mới là 96) tại xã A, tỉnh Tây Ninh (trước đây là ấp S, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An) là của bà Lê Thị Đ3 mẹ của ông Lê Huy H cho bà Biện Thị K ở và canh tác từ khoảng năm 1975 đến khoảng năm 1995 nhà bà K bị cháy nên bà K đã dời nhà qua thửa 189 tờ bản

6

đồ số 03 cũ (tờ bản đồ mới là 96). Từ khoảng năm 1996 ông T1 sử dụng thửa 161, 190, 191 tờ bản đồ số 03 cũ (tờ bản đồ mới là 96) hiện trạng ông T1 đang trồng cỏ, thửa 192 là đất nghĩa địa, trên đất có mồ mã của thân tộc.

Tại phiên tòa, nguyên đơn ông Lê Huy H do ông T10 đại diện, bị đơn ông T1 do ông T2 đại diện và ông Đ thống nhất: Ông T1 tự nguyện trả lại cho những người thừa kế của bà Đ3 gồm ông H, ông T10, ông T3, ông T4, ông T5 quyền sử dụng đất thuộc thửa 191, 190 tờ bản đồ số 03 cũ (tờ bản đồ mới là 96) tại xã A, tỉnh Tây Ninh để những người thừa kế của bà Đ3 đi đăng ký kê khai; ông H đồng ý để gia đình ông T1 được quản lý, sử dụng kê khai quyền sử dụng đất thuộc thửa 161, 192 tờ bản đồ số 03 cũ (tờ bản đồ mới là 96) tại xã A, tỉnh Tây Ninh; và ông H cũng đồng ý để một phần ngang 4m, dài dọc thuộc thửa 190 tờ bản đồ số 03 cũ (tờ bản đồ mới là 96) tại xã A, tỉnh Tây Ninh để làm lối đi cho nhà ông T1, nhưng gia đình ông T1 phải hoàn trả cho gia đình ông H số tiền 40.000.000 đồng.

Đối với ranh đất giữa ông T1 và ông Đ, cả hai thống nhất theo ranh bản đồ địa chính theo Mảnh trích đo địa chính số 30-2025 do Công ty Cổ phần D2 – Chi nhánh T14 lập được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại Khu V duyệt ngày 29/9/2025.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Tây Ninh phát biểu quan điểm như sau:

Về tố tụng:

Từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử vụ án, những người tiến hành tố tụng và đương sự đã tuân thủ đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án:

Xét tại phiên tòa nguyên đơn ông Lê Huy H, bị đơn ông Trần Văn T1, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Đ, người có quyền nghĩa vụ liên quan ông T3, ông T10, ông T4, ông T5 thỏa thuận được với nhau để giải quyết vụ án do đó đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền và quan hệ pháp luật cần giải quyết: xét yêu cầu khởi kiện của ông Lê Huy H trình bày nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy quan hệ pháp luật cần giải quyết trong vụ án là: “Tranh chấp quyền sử dụng đất & xác định ranh đất quyền sử dụng đất” vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 9 và khoản 5 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Đất tranh chấp thuộc thửa 190, 161, 192, 191, 194, 193, 221, 196, 195, 199, 217 tờ bản đồ

7

số 3 cũ (tờ bản đồ mới là 96) tại xã A, tỉnh Tây Ninh (trước đây là ấp S, xã A, huyện Đ, tỉnh Long An) nên Tòa án nhân dân Khu vực 3 – Tây Ninh thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm c khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về tư cách tố tụng, thời hiệu và phạm vi giải quyết.

Ông Lê Huy H khởi kiện được xác định là nguyên đơn; ông Trần Văn T1 được xác định là bị đơn; ông Nguyễn Hữu T3, Nguyễn Hữu T, Nguyễn Hữu T5, Lương Hữu T4, Nguyễn Văn Đ được xác định là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập; bà Trần Thị H1, bà Trần Thị T6, bà Trần Thị T7, Trần Thị H2, Phạm Thị P, Trần Quang H3, Trần Thị Ngọc H4, Dương Thị Đ2, ông Nguyễn Chí T8, Nguyễn Chí L là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

Thời hiệu khởi kiện: nguyên đơn có yêu cầu tranh chấp liên quan đến quyền sử dụng đất nên đối chiếu Điều 155 và Điều 429 Bộ luật dân sự năm 2015 thể hiện việc tranh chấp quyền sử dụng đất không tính thời hiệu theo quy định. Ông H có quyền khởi kiện theo quy định Điều 186 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.3] Chứng cứ, nghĩa vụ chứng minh và luật áp dụng.

Quá trình tố tụng: nguyên đơn có nộp Trích lục khai tử, Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, Giấy xác nhận của bà K, Giấy xác nhận của bà M, Các biên bản hòa giải ngày 26/7/2018, ngày 14/9/2018; bị đơn có nộp Giấy xác nhận của ông T9, ông D1, ông Ê. Các tài liệu chứng cứ Tòa án thu thập: Biên bản thẩm định; Mảnh trích đo địa chính, Công văn số 21059/UBND-TA ngày 23/12/2024 của UBND huyện Đ, Công văn số 541/CV-UBND ngày 04/12/2024 của UBND xã A; Công văn số 171/CN.VPĐKĐĐ-HCTH ngày 18/7/2025 và các tài liệu kèm theo; Công văn số 24/CN.VPĐKĐĐ-HCTH ngày 03/1/2025 và các tài liệu kèm theo.

Tòa án xét xử trên cơ sở chứng cứ do người khởi kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cung cấp và chứng cứ do Tòa án thu thập khi thấy cần thiết theo quy định tại khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự 2015. Về chứng cứ chứng minh cho lời trình bày các đương sự Tòa án đã thu thập đầy đủ.

Thời điểm phát sinh tranh chấp Bộ luật dân sự 2015, Luật Đất đai năm 2013 đang có hiệu lực pháp luật nên được áp dụng.

Tòa án lập biên bản về việc công khai chứng cứ, hòa giải và đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung. Tòa án xét xử trong phạm vi đương sự có yêu cầu. Các đương sự xác định đã tiếp nhận đầy đủ chứng cứ của nhau.

[1.4]. Về việc yêu cầu xét xử vắng mặt: Trong vụ án bà Trần Thị H1, bà Trần Thị T6, bà Trần Thị T7, bà Trần Thị H2, bà Phạm Thị P, Trần Quang H3, Trần Thị Ngọc H4, bà Dương Thị Đ2, ông Nguyễn Chí L, ông Nguyễn Chí T8 có yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt các ông bà.

8

[2].Về nội dung:

[2.1] Xét yêu cầu của ông H, ông T, ông T4, ông T3, ông T5 về việc buộc ông T1 trả lại quyền sử dụng đất thuộc thửa 190, 161, 192, 191 tờ bản đồ số 96 (tờ bản đồ cũ là số 03) có diện tích 1.937,2m² tại xã A, tỉnh Tây Ninh cho những người thừa kế của bà Đ3. Tại phiên tòa các đương sự đã tự thỏa thuận với nhau về việc bị đơn ông T1 trả cho những người thừa kế của bà Đ3 gồm ông H, ông T, ông T4, ông T3, ông T5 quyền sử dụng đất thuộc thửa 190 có diện tích 428,3m², thửa 191 có diện tích 345m² tờ bản đồ số 96 (tờ bản đồ cũ là số 03) tại ấp S, xã A, tỉnh Tây Ninh và ông T đại diện cho ông H, ông T4, ông T3, ông T5 cũng đồng ý chỉ nhận lại 2 thửa 190, 191 và đồng ý để ông T1 quản lý, sử dụng quyền sử dụng đất thuộc thửa 161 có diện tích 277,5m², 192 có diện tích 886,4m² tờ bản đồ số 96 (tờ bản đồ cũ là số 03) tại ấp S, xã A, tỉnh Tây Ninh nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận của đương sự, chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông H về việc buộc ông T1 trả lại phần đất thuộc thửa 190 có diện tích 428,3m², thửa 191 có diện tích 345m² tờ bản đồ số 96 (tờ bản đồ cũ là số 03) tại ấp S, xã A, tỉnh Tây Ninh.

[2.2] Xét yêu cầu của ông H, ông T, ông T4, ông T3, ông T5 về việc công nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa 190, 161, 192, 191 tờ bản đồ số 96 (tờ bản đồ cũ là số 03) có diện tích 1.937,2m² tại xã A, tỉnh Tây Ninh cho những người thừa kế của bà Đ3. Căn cứ vào Công văn số 541/CV-UBND của Ủy ban nhân dân xã A xác định nguồn gốc đất là của bà Đ3 (mẹ ông H) cho bà K ở và canh tác từ năm 1975 đến khoảng năm 1995 thì bà K cháy nhà và trả lại cho bà Đ3. Và như nhận xét tại [2.1], ông T đồng ý rút yêu cầu công nhận đối với thửa 161, 192 tờ bản đồ số 96 (tờ bản đồ cũ là số 03) tại xã A, tỉnh Tây Ninh để ông T1 được quản lý, sử dụng. Do đó có căn cứ xác định phần đất trên là của bà Đ3, nên Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện công nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa 190 có diện tích 428,3m², thửa 191 có diện tích 345m² tờ bản đồ số 96 (tờ bản đồ cũ là số 03) tại ấp S, xã A, tỉnh Tây Ninh cho những người thừa kế của bà Đ3 gồm ông H, ông T, ông T4, ông T3, ông T5.

Ghi nhận sự thỏa thuận: Ông H, ông T, ông T4, ông T3, ông T5 do ông T đại diện tự nguyện để phần đất có diện tích 81,2m² (ngang 4m, dài 20.96m) thuộc khu B2, thửa 190 tờ bản đồ số 96 (tờ bản đồ cũ là số 03) tại xã A, tỉnh Tây Ninh làm lối đi vào nhà ông T1 theo Mảnh trích đo phân khu và Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 23-2025 do Công ty TNHH Đ4 lập được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực Đ duyệt ngày 25/8/2025. Ông T1 tự nguyện giao cho ông H, ông T, ông T4, ông T3, ông T5 số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng). Ông T1 đã giao xong.

9

[2.3] Xét yêu cầu của ông T1 về việc công nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa 190, 161, 192, 191 tờ bản đồ số 96 (tờ bản đồ cũ là số 03) có diện tích 1.937,2m² tại xã A, tỉnh Tây Ninh cho ông T1. Như nhận xét tại phần [2.1] và [2.2] ông H, ông T, ông T4, ông T3, ông T5 đồng ý để ông T1 quản lý, sử dụng và đăng ký kê khai quyền sử dụng đất tại thửa 161 có diện tích 277,5m², 192 có diện tích 886,4m² tờ bản đồ số 96 (tờ bản đồ cũ là số 03) tại ấp S, xã A, tỉnh Tây Ninh, nên Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận một phần yêu cầu của ông T1 về việc công nhận quyền sử dụng đất thửa 161, 192 tờ bản đồ số 96 (tờ bản đồ cũ là số 03) tại ấp S, xã A, tỉnh Tây Ninh.

[2.4] Xét yêu cầu của ông Đ về việc yêu cầu ông T1 trả lại quyền sử dụng đất tại các khu D (14,5m²), E (6,6m²) thuộc thửa 192; khu G (11,4m²) thuộc thửa 194, Khu O (10,2m²) thuộc thửa 193, Khu Q (20,1m²) thuộc thửa 221, khu S (18,9m²) thuộc thửa 196, khu I (7m²) thuộc thửa 195, Khu K (12,3m²) thuộc thửa 195, Khu M (7,6m²) thuộc thửa 199, khu U (8,1m²) thuộc thửa 217 tờ bản đồ số 96 (tờ bản đồ cũ là số 03) tại xã A, tỉnh Tây Ninh. Tại phiên tòa, ông Đ và ông T1 cũng tự thỏa thuận được về việc xác định ranh đất giữa các thửa 193, 221, 196, 217 tờ bản đồ 96 (tờ bản đồ cũ là số 03) của ông Đ và các thửa 192, 194, 195, 198, 199 tờ bản đồ 96 (tờ bản đồ cũ là số 03) của ông T1 theo đường ranh bản đồ địa chính là đường màu đen theo Mảnh trích đo Bản đồ địa chính số 30-2025 do Công ty Cổ phần D2 – Chi nhánh T14 lập ngày 25/9/2025 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực Đ duyệt ngày 29/9/2025. Do đó Hội đồng xét xử cần chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Đ buộc ông T1 trả lại phần đất tại Khu O (10,2m²) thuộc thửa 193, Khu Q (20,1m²) thuộc thửa 221, khu S (18,9m²) thuộc thửa 196, khu U (8,1m²) thuộc thửa 217 tờ bản đồ số 96 (tờ bản đồ cũ là số 03) tại xã A, tỉnh Tây Ninh.

[3]. Về chi phí thẩm định, lập bản vẽ: Tổng cộng chi phí thẩm định, bản vẽ 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng) đã chi phí hết. Ông H tự nguyện chịu số tiền 23.000.000 đồng, ông H đã nộp xong; ông Đ tự nguyện chịu số tiền 16.000.000 đồng, ông Đ đã nộp xong; ông T1 tự nguyện chịu số tiền 21.000.000 đồng, ông T1 đã nộp số tiền 5.000.000 đồng, ông T1 phải nộp tiếp số tiền 16.000.000 đồng hoàn trả cho ông Đ.

[4]. Về án phí, theo Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội hướng dẫn về án phí, lệ phí Tòa án, ông H, ông T1 được miễn án phí, ông Đ, ông T, ông T3, ông T4, ông T5 chịu án phí theo qui định.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH:

10

Căn cứ các Điều 26, Điều 35, Điều 34, Điều 39, Điều 147, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 100, Điều 167 Luật Đất đai năm 2013;

Căn cứ Điều 124, Điều 218, Điều 213, Điều 274, Điều 286, Điều 328, Điều 500, Điều 501, Điều 502, Điều 503, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật dân sự 2015;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Lê Huy H, ông Nguyễn Hữu T, ông Nguyễn Hữu T3, ông Lương Hữu T4, ông Nguyễn Hữu T5 về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất” với ông Trần Văn T1.

1.1. Buộc ông Trần Văn T1 và các thành viên gia đình ông T1 trả lại quyền sử dụng đất thuộc thửa 190 có diện tích 428,3m², thửa 191 có diện tích 345m² tờ bản đồ số 96 (tờ bản đồ cũ là số 03) tại ấp S, xã A, tỉnh Tây Ninh cho ông Lê Huy H, ông Nguyễn Hữu T, ông Nguyễn Hữu T3, ông Lương Hữu T4, ông Nguyễn Hữu T5. Vị trí đất theo mãnh trích đo địa chính do Công ty TNHH Đ4 lập ngày 17/8/2025 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 25/8/2025.

Ghi nhận sự tự nguyện của ông Lê Huy H, ông Nguyễn Hữu T, ông Nguyễn Hữu T3, ông Lương Hữu T4, ông Nguyễn Hữu T5 để phần đất có diện tích 81,2m² (ngang 4m, dài 20.96m) thuộc khu B2, thửa 190 tờ bản đồ số 96 (tờ bản đồ cũ là số 03) tại xã A, tỉnh Tây Ninh theo Mảnh trích đo phân khu và Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 23-2025 do Công ty TNHH Đ4 lập được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực Đ duyệt ngày 25/8/2025 làm lối đi vào nhà ông T1.

Hạn chế quyền sử dụng đất: chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp, tặng cho và ủy quyền của các ông Lê Huy H, ông Nguyễn Hữu T, ông Nguyễn Hữu T3, ông Lương Hữu T4, ông Nguyễn Hữu T5 đối với quyền sử dụng đất có diện tích 81,2m² (ngang 4m, dài 20.96m) thuộc khu B2, thửa 190 tờ bản đồ số 96 (tờ bản đồ cũ là số 03) tại xã A, tỉnh Tây Ninh theo Mảnh trích đo phân khu và Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 23-2025 do Công ty TNHH Đ4 lập được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực Đ duyệt ngày 25/8/2025.

Ông Trần Văn T1 tự nguyện trả cho ông Lê Huy H, ông Nguyễn Hữu T, ông Nguyễn Hữu T3, ông Lương Hữu T4, ông Nguyễn Hữu T5 số tiền 40.000.000 đồng (Bốn mươi triệu đồng). Ông T1 đã giao xong.

11

1.2. Công nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa 190 có diện tích 428,3m², thửa 191 có diện tích 345m² tờ bản đồ số 96 (tờ bản đồ cũ là số 03) tại ấp S, xã A, tỉnh Tây Ninh cho ông Lê Huy H, ông Nguyễn Hữu T, ông Nguyễn Hữu T3, ông Lương Hữu T4, ông Nguyễn Hữu T5. Vị trí đất theo mãnh trích đo địa chính do Công ty TNHH Đ4 lập ngày 17/8/2025 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 25/8/2025.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu phản tố của ông Trần Văn T1 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” đối với ông Lê Huy H, ông Nguyễn Hữu T, ông Nguyễn Hữu T3, ông Lương Hữu T4, ông Nguyễn Hữu T5:

Công nhận quyền sử dụng đất thuộc thửa 161 có diện tích 277,5m², tờ bản đồ số 96 (tờ bản đồ cũ là số 03) tại ấp S, xã A, tỉnh Tây Ninh theo Mãnh trích đo địa chính do Công ty TNHH Đ4 lập ngày 17/8/2025 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 25/8/2025 và thửa đất 192 có diện tích 886,4m² tờ bản đồ số 96 (tờ bản đồ cũ là số 03) tại ấp S, xã A, tỉnh Tây Ninh theo Mãnh trích đo địa chính do Công ty Cổ phần D2 – Chi nhánh T14 lập ngày 25/9/2025 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 29/9/2025 cho ông Trần Văn T1.

3. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn Đ về việc “Tranh chấp ranh đất” đối với ông Trần Văn T1.

Buộc ông Trần Văn T1 trả lại quyền sử dụng đất tại Khu O (10,2m²) thuộc thửa 193, Khu Q (20,1m²) thuộc thửa 221, khu S (18,9m²) thuộc thửa 196, khu U (8,1m²) thuộc thửa 217 tờ bản đồ số 96 (tờ bản đồ cũ là số 03) tại xã A, tỉnh Tây Ninh theo Mãnh trích đo địa chính do Công ty Cổ phần D2 – Chi nhánh T14 lập ngày 25/9/2025 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 29/9/2025 cho ông Nguyễn Văn Đ.

Xác định ranh giới giữa các thửa 193, 221, 196, 217 tờ bản đồ 96 (tờ bản đồ cũ là số 03) của ông Nguyễn Văn Đ và các thửa 192, 194, 195, 198, 199 tờ bản đồ 96 (tờ bản đồ cũ là số 03) của ông Trần Văn T1 theo đường ranh bản đồ địa chính là đường màu đen theo Mảnh trích đo Bản đồ địa chính số 30-2025 do Công ty Cổ phần D2 – Chi nhánh T14 lập ngày 25/9/2025 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai khu vực Đ duyệt ngày 29/9/2025.

4. Các đương sự được liên hệ cơ quan có thẩm quyền kê khai đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định. Vị trí các khu đất theo Mãnh trích đo phân khu và Mảnh trích đo bản đồ địa chính số 23-2025 do Công ty TNHH Đ4 lập được Chi nhánh Văn phòng Đ5 duyệt ngày 25/8/2025; Mãnh

12

trích đo địa chính do Công ty Cổ phần D2 – Chi nhánh T14 lập ngày 25/9/2025 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại huyện Đ duyệt ngày 29/9/2025.

5. Về chi phí thẩm định, bản vẽ: Tổng cộng chi phí thẩm định, bản vẽ 60.000.000 đồng (Sáu mươi triệu đồng) đã chi phí hết. Ông H tự nguyện chịu số tiền 23.000.000 đồng, ông H đã nộp xong; ông Đ tự nguyện chịu số tiền 16.000.000 đồng, ông Đ đã nộp xong; ông T1 tự nguyện chịu số tiền 21.000.000 đồng, ông T1 đã nộp số tiền 5.000.000 đồng, ông T1 phải nộp tiếp số tiền 16.000.000 đồng hoàn trả cho ông Đ.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất cơ bản do Ngân hàng N quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành theo khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015

3. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Ông Lê Huy H, ông Trần Văn T1 được miễn án phí.

Ông Nguyễn Hữu T chịu số tiền 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước. Số tiền này được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 600.000 đồng theo biên lai số 0007215 ngày 10/6/2025 tại Chi cục thi hành án huyện Đức Hòa (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh) và biên lai số 0004187 ngày 12/9/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh. H6 lại cho ông T số tiền 300.000 đồng theo các biên lai nêu trên.

Ông Nguyễn Hữu T3 chịu số tiền 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước. Số tiền này được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 600.000 đồng theo biên lai số 0007217 ngày 10/6/2025 tại Chi cục thi hành án huyện Đức Hòa (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh) và biên lai số 0004194 ngày 12/9/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh. H6 lại cho ông T3 số tiền 300.000 đồng theo các biên lai nêu trên.

Ông Lương Hữu T4 chịu số tiền 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước. Số tiền này được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 600.000 đồng theo biên lai số 0007214 ngày 10/6/2025 tại Chi cục thi hành án huyện Đức Hòa (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh) và biên lai số 0004185 ngày 12/9/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh. H6 lại cho ông T4 số tiền 300.000 đồng theo các biên lai nêu trên.

Ông Nguyễn Hữu T5 chịu số tiền 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước. Số tiền này được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 600.000 đồng theo biên lai số 0007216 ngày 10/6/2025 tại Chi cục thi hành án huyện Đức Hòa (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh) và biên lai số

13

0004189 ngày 12/9/2025 tại Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh. H6 lại cho ông T5 số tiền 300.000 đồng theo các biên lai nêu trên.

Ông Nguyễn Văn Đ chịu số tiền 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm sung vào Ngân sách Nhà nước. Số tiền này được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai số 0006393 ngày 01/11/2024 tại Chi cục thi hành án huyện Đức Hòa (nay là Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh). Ông Đ đã nộp xong.

4. Án xét xử công khai sơ thẩm, các đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Long An xét xử phúc thẩm vụ án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết hợp lệ.

5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Mộng T13

14

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 438/2025/DS-ST ngày 30/09/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – TỈNH TÂY NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất & xác định ranh giới quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 438/2025/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất & xác định ranh giới quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 – TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ông Lê Huy H "Tranh chấp quyền sử dụng đất và xác định ranh giưới quyền sử dụng đất" Trần Văn H
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger