TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 438/2024/DS-ST Ngày: 11-7-2024 V/v Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Hoàng Thị Thanh Mai
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Võ Kim Hường
- Bà Nguyễn Thị Mỹ Linh
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Thu Hương – Kiểm sát viên.
Ngày 11 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 375/2023/TLST- DS ngày 02 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 475/2024/QĐXXST-DS ngày 24 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 562/2024/QĐST-DS ngày 12 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Hoàng Văn T, sinh năm 1969; Địa chỉ: 1 C, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.
- Bị đơn: Ông Phạm Quý B, sinh năm 1973 và bà Trần Thị N, sinh năm 1977; Cùng địa chỉ: 3 Lô E, đường C, phường S, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1970; Địa chỉ: 1 C, phường B, quận B, thành phố Hồ Chí Minh.
(Tại phiên tòa: Ông T, bà Đ có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn vắng mặt không lý do )
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 13/7/2023 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn ông Hoàng Văn T trình bày:
Ông và vợ chồng ông Phạm Quý B, bà Trần Thị N quen biết nhau lâu năm. Ông có cho ông B bà N vay tiền nhiều lần, do tin tưởng nên khi cho vay, ông không yêu cầu ông B bà N viết giấy nợ. Đến ngày 03/3/2023 thì hai bên chốt nợ, ông B có viết Giấy cam kết trả nợ xác nhận còn nợ ông số tiền 2.300.000.000 đồng, thời điểm viết giấy cam kết trả nợ thì không có mặt bà N nên chỉ có một mình ông B ký tên là bên vay trong giấy nợ. Ông B có nói với ông là bà N sẽ ký sau. Tuy nhiên, khi ông B đưa lại Giấy cam kết trả nợ cho ông thì chỉ có một mình ông B ký. Ông có hỏi lý do tại sao bà N không ký thì ông B nói bà N đang bận từ từ ký, sau đó thì bà N không đồng ý ký tên là bên vay.
Tại Giấy cam kết trả nợ ngày 03/3/2023 ông B bà N có cam kết trả nợ gốc mỗi tháng là 150.000.000 đồng và 15.000.000 đồng tiền lãi, nếu không trả lãi thì sẽ chịu phạt tiền lãi là 66.000.000 đồng. Tuy nhiên, sau khi viết giấy cam kết trả nợ xong thì ông B bà N không thực hiện, ông có yêu cầu ông B bà N trả nợ nhưng ông B bà N cố tình né tránh và cắt mọi liên lạc với ông nên ông khởi kiện tại Tòa án.
Số tiền ông cho ông B vay là tiền chung của ông và bà Nguyễn Thị Đ. Nay ông yêu cầu Tòa án buộc ông B trả cho ông số tiền gốc là 2.300.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi, không yêu cầu bà N liên đới trả nợ do bà N cố tình tránh né, không ký giấy nợ.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Đ trình bày: Bà là vợ của ông Hoàng Văn T. Bà có biết việc ông T cho vợ chồng ông B, bà N vay tiền. Số tiền cho ông B bà N vay là tiền chung của bà và ông T. Bà thống nhất với yêu cầu khởi kiện của ông T.
Tòa án đã triệu tập hợp lệ ông B, bà N nhưng ông B bà N không có bản trình bày ý kiến của mình về vụ án cũng như vắng mặt tại các phiên hòa giải, phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, do đó, Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
Tại phiên tòa hôm nay:
- Nguyên đơn ông T vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, cụ thể: Yêu cầu ông B thanh toán số tiền gốc là 2.300.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi, không yêu cầu bà N liên đới trả nợ. Yêu cầu thanh toán một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.
- Bị đơn ông B, bà N: Vắng mặt không có lý do.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Đ có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến:
+ Về việc tuân theo pháp luật: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và đương sự đều tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào phòng nghị án theo quy định tại
Điều 48, Điều 51, Điều 63, Điều 203, Từ Điều 239 đến Điều 267 Bộ luật tố tụng dân sự.
+ Về nội dung vụ án: Căn cứ các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, thể hiện: Ông B có vay của ông T số tiền là 2.300.000.000 đồng. Do ông B vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ông T khởi kiện yêu cầu ông B thanh toán số tiền 2.300.000.000 đồng, không yêu cầu tính lãi, không yêu cầu bà N - vợ ông B liên đới trả nợ, yêu cầu thanh toán một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 463, Điều 466, Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và nghe ý kiến trình bày của đại diện Viện kiểm sát. Sau khi nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
- Về quyền khởi kiện, quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Xét đơn khởi kiện đề ngày 13/7/2023, Hội đồng xét xử xác định quan hệ tranh chấp là tranh chấp hợp đồng vay tài sản. Bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên nguyên đơn khởi kiện tại Tòa án. Bị đơn cư trú tại quận T nên Tòa án nhân dân quận Tân Phú, thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết là phù hợp quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về thủ tục xét xử vắng mặt bị đơn: Toà án đã tống đạt văn bản tố tụng cho bị đơn theo quy định tại Điều 177, Điều 180 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng bị đơn vẫn vắng mặt. Do vậy Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về thủ tục xét xử vắng mặt nguyên đơn ông Hoàng Văn T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Đ: Xét, ngày 27/6/2024, ông T và bà Đ có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Căn cứ Khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông T, bà Đ.
[2]. Về yêu cầu của các đương sự:
Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, bị đơn không có mặt để trình bày ý kiến, cung cấp chứng cứ, mặt dù đã được Tòa án thực hiện các thủ tục tống đạt hợp lệ. Do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào những chứng cứ, yêu cầu của phía nguyên đơn để xem xét giải quyết vụ án.
- Về yêu cầu thanh toán số tiền gốc là 2.300.000.000 đồng:
Xét, Giấy cam kết trả nợ đề ngày 03/3/2023 thể hiện: Nguyên đơn có cho bị đơn vay số tiền 2.300.000.000 đồng, cam kết trả mỗi tháng 150.000.000 đồng và 15.000.000 đồng tiền lãi, nếu không trả lãi thì sẽ chịu phạt tiền lãi là 66.000.000 đồng. Tuy nhiên, đến hạn trả nợ, bị đơn không trả tiền gốc cũng như tiền lãi, do đó,
nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền gốc còn nợ là 2.300.000.000 đồng là phù hợp quy định tại Điều 466 và Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên có cơ sở chấp nhận.
Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn không yêu cầu tính lãi đối với số tiền trên.
Ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn không yêu cầu bà Trần Thị N liên đới trả số tiền nợ trên.
- Về thời hạn và phương thức thanh toán: Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật. Hội đồng xét xử xét thấy bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đã lâu (từ tháng 4/2023) việc này đã gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ một lần ngay khi án có hiệu lực pháp luật là phù hợp Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015 nên có cơ sở chấp nhận.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm:
Căn cứ Khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn là 2.300.000.000 đồng, tương ứng với số tiền án phí là 78.000.000 đồng.
H lại cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí 39.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0006580 ngày 27/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; Điều 227; Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự
Căn cứ vào Điều 463, Điều 466, Điều 468, Điều 470 Bộ luật Dân sự năm 2015
Căn cứ vào Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1/ Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Hoàng Văn T.
Buộc ông Phạm Quý B có trách nhiệm thanh toán cho ông Hoàng Văn T và bà Nguyễn Thị Đ số tiền là 2.300.000.000 đồng (Hai tỷ ba trăm triệu đồng).
Thời hạn thanh toán: Một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Thi hành tại Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền .
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành chưa thi hành khoản tiền nêu trên phải chịu lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo thỏa thuận của các bên nhưng không được vượt quá mức lãi suất được quy định tại Điều 357, Khoản 1 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành.
2/ Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Ông Phạm Quý B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 78.000.000 đồng.
- H lại cho ông Hoàng Văn T số tiền tạm ứng án phí là 39.000.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0006580 ngày 27/9/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Phú, Thành phố Hồ Chí Minh.
Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3/ Về quyền kháng cáo:
Ông Hoàng Văn T, ông Phạm Quý B, bà Trần Thị N, bà Nguyễn Thị Đ có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Hoàng Thị Thanh Mai |
Bản án số 438/2024/DS-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 438/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN PHÚ, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng vay tài sản
