|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 438/2025/DS-PT Ngày: 23/06/2025 V/v Tranh chấp Hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: |
Ông Chu Tuấn Anh |
Các thẩm phán: |
Ông Đàm Văn Thuận |
Ông Cao Anh Tuấn |
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Lưu Ly – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội: Bà Nguyễn Thị Hà Phương - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 23 tháng 06 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 267/2025/TLPT-DS ngày 29/04/2025 về "Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 81/2024/DS-ST ngày 19/12/2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 333/2025/QĐ-PT ngày 12/05/2025, Quyết định hoãn phiên tòa dân sự phúc thẩm số 395/2025/QĐ-HPT ngày 02/06/2025 giữa các đương sự:
-
- Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S. Địa chỉ trụ sở: Lầu H, 2 N, phường V, quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng giám đốc. Đại diện ủy quyền: Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S (công ty S1). Đại diện theo pháp luật của công ty: Ông Lê Ngọc T – Chức vụ: Tổng giám đốc. Đại diện ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Nguyễn Thanh H-nhân viên; Địa chỉ: Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S chi nhánh H1-tầng 7, số F N, phường L, quận Đ, Hà Nội (vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)
-
- Bị đơn: Bà Trần Thu P, sinh năm 1979;
Địa chỉ: Số D ngách A ngõ D đường L, phường L, quận H, Hà Nội (vắng mặt).
Người kháng cáo: Ngân hàng Thương mại cổ phần S
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo án sơ thẩm vụ án có nội dung như sau:
Tại đơn khởi kiện của nguyên đơn,bản tự khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn - Ngân hàng TMCP S trình bày:
Ngày 12/6/2017, bà Trần Thu P có ký với Ngân hàng TMCP S (gọi tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – được gọi tắt là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của bà Trần Thu P, Ngân hàng TMCP S đã đồng ý cấp thẻ tín dụng số thẻ 486265-9182 với hạn mức sử dụng là 10.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân.
Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà P đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là: 14.528.185 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ bà P đã thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền 9.071.217 đồng (Thứ tự thanh toán áp dụng theo điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, kể từ ngày chuyển nợ quá hạn sẽ thanh toán theo thứ tự gốc trước, lãi sau).
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà P vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà P vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) nên ngày 01/5/2019 Ngân hàng TMCP S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Lãi suất quá hạn: (2.15% x 150% )= 3.225%/tháng. Dư nợ chuyển quá hạn: 11.745.150 đồng (trong đó giao dịch: 10.124.127 đồng; phí chậm trả 500.642 đồng; lãi trong hạn 930.381 đồng; phí vượt mức 200.000 đồng).
Tính đến ngày 12/8/2024, bà P còn nợ Ngân hàng TMCP S số tiền: 36.125.956 đồng (trong đó: Nợ gốc: 11.745.150 đồng; Nợ lãi quá hạn: 24.380.806 đồng).
Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Trần Thu P phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền còn nợ là: 36.125.956 đồng. Bà P tiếp tục phải thanh toán khoản tiền lãi phát sinh kể từ ngày 13/8/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ theo lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng. Bà P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra, Ngân hàng TMCP S không yêu cầu Tòa án giải quyết vần đề gì khác.
Quá trình giải quyết vụ án bà Trần Thu P không đến Tòa án để thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng.
Tại phiên tòa sơ thẩm: Ngân hàng TMCP S vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi
kiện đối với Hợp đồng thẻ tín dụng số thẻ 486265-9182 ngày 12/6/2017 đã được ký kết giữa Ngân hàng và bà Trần Thu P.
Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa án buộc bà P phải thanh toán khoản nợ của thẻ tín dụng trên tính đến ngày xét xử 19/12/2024 tổng số tiền 37.754.710 đồng. Trong đó:
-
- Nợ gốc 11.745.150 đồng (Giao dịch 10.124.127 đồng, phí trậm trả 500.642 đồng, lãi trong hạn 920.318 đồng, phí vượt hạn mức 200.000 đồng).
-
- Nợ lãi quá hạn 26.009.560 đồng.
Bà P tiếp tục phải thanh toán khoản tiền lãi phát sinh kể từ ngày 20/12/2024 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ theo lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng.
Án phí: Bà P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm
Bị đơn: bà Trần Thu P vắng mặt tại phiên tòa
Tại bản án dân sự sơ thẩm số 81/2024/DSST ngày 19/12/2024 của
Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai đã quyết định:
Căn cứ:
-
- Khoản 3 Điều 26, Điểm a Khoản 1 Điều 35, Điểm a Khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 271, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
-
- Điều 117, Điều 118, Điều 119, Điều 280, Điều 357, Điều 398, Điều 399, Điều 400, Điều 401, Điều 402; Điều 429; Điều 463, Khoản 1 Điều 466; Điều 468 Bộ luật dân sự.
-
- Án lệ số 08/2016/AL
-
- Điều 90, 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng;
-
- Thông tư 12 ngày 14.4.2010 của Ngân hàng N hướng dẫn các tổ chức tín dụng cho vay đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận; Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 và Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh Ngân hàng N đối với khách hàng.
-
- Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm của hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao.
-
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH1430 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án của Ủy ban Thường vụ Q1.
*Tuyên xử:
-
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với bà Trần Thu P về việc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán số tiền nợ gốc và nợ lãi theo Hợp đồng thẻ tín dụng số thẻ 486265-9182 ngày 12/6/2017.
-
Buộc bà Trần Thu P phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền: 33.890.150 đồng (nợ gốc là: 10.000.000 đồng, lãi suất trong hạn: 1.044.508 đồng và các phí
chậm trả: 500.642 đồng, phí vượt hạn mức: 200.000 đồng; lãi suất quá hạn: 22.145.000 đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong bà Trần Thu P còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc còn phải thi hành án theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
Không chấp nhận 1 phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với số tiền 3.864.560 đồng.
-
Án phí dân sự sơ thẩm: Bà Trần Thu P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 1.694.508 đồng.
Ngân hàng TMCP S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 300.000 đồng. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 483.000 đồng theo biên lai thu số 00112843 ngày 15/03/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận Hoàng Mai,thành phố Hà Nội.
Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Không nhất trí với quyết định của bản án sơ thẩm, nguyên đơn Ngân hàng TMCP S kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm và yêu cầu sửa bản án sơ thẩm số 81/2024/DSST ngày 19/12/2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai theo hướng chấp nhận toàn bộ nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Các đương sự đã thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án.
Về giải quyết nội dung vụ án: Sau khi phân tích đại diện Viện kiểm sát đề nghị: Chấp nhận một phần đơn kháng cáo của nguyên đơn là N1. Căn cứ Khoản 2 Điều 308 BLTTDS 2015: Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 81/2024/DS-ST ngày 19/12/2024 của TAND quận Hoàng Mai về phần nợ gốc và tiền lãi trong hạn, lãi quá hạn do cấp sơ thẩm xác định tiền gốc không đúng: buộc bà Trần Thu P phải trả cho Ngân hàng TMCP S các khoản tiền còn nợ gốc, lãi trong hạn, các loại phí và lãi quá hạn là: 34.164.067 đồng (nợ gốc là: 10.124.127 đồng, phí chậm trả 500.642 đồng, lãi trong hạn 920.318 đồng, phí vượt hạn mức 200.000 đồng; lãi quá hạn: 22.418.980 đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa xét thấy:
-
*Về thủ tục: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S kháng có đơn kháng cáo và đã nộp tạm ứng án phí phúc thẩm do đó việc kháng cáo là hợp lệ về hình thức và thời hạn được quy định tại các Điều 271,272, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự nên được Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý theo thủ tục phúc thẩm.
-
*Xét kháng cáo của nguyên đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, Hội đồng xét xử nhận thấy:
[1]. Về tố tụng: Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền xét xử: Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng giữa pháp nhân và cá nhân, mục đích vay vốn của bị đơn nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân; căn cứ vào khoản 3 Điều 26 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 đây là tranh chấp về hợp đồng dân sự. Theo Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng được ký kết giữa bà Trần Thu P và Ngân hàng TMCP S đều thể hiện “Địa chỉ thường trú của bà P: Số D ngách A ngõ D đường L, phường L, quận H, Hà Nội”. Đến thời điểm thụ lý không có tài liệu nào khác về địa chỉ cư trú của bị đơn. Căn cứ vào Điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai thụ lý và giải quyết vụ án sơ thẩm về “Tranh chấp hợp đồng thẻ tín dụng” là đúng thẩm quyền.
Về việc xét xử vắng mặt Nguyên đơn và bị đơn: Đây là phiên tòa mở lần thứ hai bị đơn vắng mặt và nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên hội đồng xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn theo Điều 296 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung: Xét kháng cáo của nguyên đơn
[2.1]. Về tính hợp pháp của hợp đồng tín dụng: Giữa Ngân hàng TMCP S và bà Trần Thu P có ký Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng; số thẻ 486265-9182 ngày 12/06/2017 với hạn mức sử dụng là 10.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân. Hợp đồng tín dụng giữa các bên là hoàn toàn tự nguyện, các điều khoản hai bên thỏa thuận trong hợp đồng đều đáp ứng đủ điều kiện chủ thể ký kết hợp đồng và phù hợp với nội dung quy định tại Điều 91 Luật tổ chức tín dụng năm 2010. Nội dung trong hợp đồng không trái đạo đức xã hội, không trái pháp luật, do vậy Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng ngày 12/06/2017 có hiệu lực pháp luật và các bên phải có nghĩa vụ chấp hành.
[2.2]. Xét yêu cầu thanh toán nợ gốc: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đặc biệt là Bảng tóm tắt sao kê chi tiết giao dịch thẻ tín dụng do Ngân hàng cung cấp, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Ngân
hàng TMCP S đã cấp thẻ tín dụng cho bà Trần Thu P với hạn mức tín dụng 10.000.000 đồng. Bà P đã thực hiện các giao dịch qua thẻ với tổng số tiền là 14.528.185 đồng và đã thực hiện thanh toán cho Ngân hàng số tiền 9.071.217 đồng.
Tại thời điểm Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ sang nợ quá hạn (ngày 01/5/2019), tổng dư nợ của bà P là 11.745.150 đồng, trong đó bao gồm dư nợ phát sinh từ các giao dịch (nợ gốc), lãi trong hạn và các loại phí.
Xét yêu cầu của Ngân hàng P1 với quy định tại Điều 2 Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng về xác định "số dư nợ”, nhưng không phù hợp với quy định về “dư nợ gốc bị chuyển nợ quá hạn” tại điểm a khoản 11 Điều 2 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N dẫn đến lãi chồng lãi. Do đó, căn cứ vào Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Điều 21 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu của Ngân hàng TMCP S, xác nhận số nợ gốc mà bà Trần Thu P còn nợ ngân hàng là 10.124.127 đồng (Mười triệu một trăm hai mươi bốn nghìn một trăm hai mươi bảy đồng) và buộc bà Trần Thu P trả số nợ gốc trên cho Ngân hàng TMCP S. Bản án dân sự sơ thẩm xác định nợ gốc là 10.000.000 đồng là chưa hoàn toàn chính xác. Do đó, cần sửa bản án sơ thẩm về nội dung này.
[2.3]. Xét yêu cầu thanh toán tiền lãi trong hạn và các loại phí :
Đối với số tiền lãi trong hạn và các loại phí phát sinh trong thời gian thẻ tín dụng còn hiệu lực mà bà Trần Thu P chưa thanh toán cho Ngân hàng, căn cứ các quy định tại Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, Điều 5 Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động thẻ ngân hàng, và điểm a khoản 4 Điều 13 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng.
Bà Trần Thu P phải trả Ngân hàng TMCP S tổng số tiền lãi trong hạn và các loại phí là 1.621.023 đồng (Một triệu sáu trăm hai mươi mốt nghìn không trăm hai mươi ba đồng). Số tiền này bao gồm: phí chậm trả 500.642 đồng, lãi trong hạn 920.318 đồng và phí vượt hạn mức 200.000 đồng.
[2.4]. Xét yêu cầu thanh toán tiền lãi quá hạn:
Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định của Tòa án cấp sơ thẩm về việc bà Trần Thu P đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng tín dụng và Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ, chuyển toàn bộ khoản nợ của bà P sang nợ quá hạn kể từ ngày 01/5/2019. Mức lãi suất áp dụng đối với thẻ tín dụng quốc tế S2 là 2.15%/tháng (tương đương 25.8%/năm) theo Thông báo số 113/TB-TTT ngày 04/07/2011 là phù hợp với quy định tại Khoản 2, Điều 91
Luật Các tổ chức tín dụng và Điều 20, Điều 23 bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng.
Tuy nhiên, việc Ngân hàng TMCP S tính lãi suất quá hạn đối với toàn bộ dư nợ bao gồm cả nợ gốc, nợ lãi trong hạn và các khoản phí là không đảm bảo theo tinh thần Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm. Theo Nghị quyết này, lãi suất quá hạn chỉ được áp dụng đối với khoản nợ gốc.
Thời gian tính lãi quá hạn là từ ngày 01/5/2019 đến ngày xét xử sơ thẩm (19/12/2024), tương ứng với 2059 ngày. Do đó, lãi suất quá hạn được tính trên khoản nợ gốc là 10.124.127 đồng, cụ thể như sau: Nợ gốc 10.124.127 đồng x (2.15%×150%/30) x 2059 ngày = 22.418.980 đồng.
Số tiền lãi quá hạn mà bà Trần Thu P phải trả Ngân hàng tính đến ngày 19/12/2024 là 22.418.980 đồng (Hai mươi hai triệu bốn trăm mười tám nghìn chín trăm tám mươi đồng). Bản án sơ thẩm tuyên buộc bà P phải thanh toán khoản nợ lãi quá hạn là 22.145.000 đồng là chưa hoàn toàn chính xác. Do đó, cần sửa bản án sơ thẩm về số tiền lãi quá hạn này.
Từ những phân tích nhận định trên Hội đồng xét xử nhận thấy cần buộc bà Trần Thu P phải trả cho Ngân hàng TMCP S tổng số tiền (bao gồm tiền nợ gốc, lãi trong hạn, các loại phí và lãi quá hạn) là: Nợ gốc : 10.124.127 đồng + lãi trong hạn và phí: 1.621.023 đồng + lãi quá hạn: 22.418.980 đồng = 34.164.067 đồng (Ba mươi bốn triệu một trăm sáu mươi bốn nghìn không trăm sáu mươi bảy đồng).
Ngoài ra, bà P phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc cho Ngân hàng TMCP S là phù hợp với quy định trên.
* Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của nguyên đơn, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 81/2024/DS-ST ngày 19/12/2024 của Tòa án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội.
[3]. Về án phí: Do sửa án sơ thẩm Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Nhận định của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội là phù hợp với nhận định của hội đồng xét xử nên được chấp nhận
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
-
- Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 khoản 1 Điều 38, Điều 147, Điều 148, Điều 296, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
-
- Điều 90, 91, 95, 98 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;
-
- Thông tư 12 ngày 14.4.2010 của Ngân hàng N hướng dẫn các tổ chức tín dụng cho vay đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận; Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 và Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng N;
-
- Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về lãi, lãi suất, phạt vi phạm trong Hợp đồng tín dụng;
-
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận một phần kháng cáo của Ngân hàng TMCP S. Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 81/2024/DSST ngày 19/12/2024 của Toà án nhân dân quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội. Cụ thể:
-
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với bà Trần Thu P trả số tiền nợ phát sinh từ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 12/6/2017.
-
Buộc bà Trần Thu P phải trả cho Ngân hàng TMCP S các khoản tiền tính đến ngày 19/12/2024) là:
- - Nợ gốc: 10.124.127 đồng.
- - Phí chậm trả: 500.642 đồng.
- - Lãi trong hạn: 920.318 đồng.
- - Phí vượt hạn mức: 200.000 đồng.
- - Lãi quá hạn: 22.418.980 đồng.
Tổng cộng: 34.164.067 đồng (Ba mươi bốn triệu, một trăm sáu mươi bốn nghìn, không trăm sáu mươi bảy đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bà Trần Thu P còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật.
-
Về án phí: Bà Trần Thu P phải chịu 1.708.203 (Một triệu bảy trăm linh tám nghìn hai trăm lẻ ba đồng). Ngân hàng TMCP S phải chịu án phí đối dân sự sơ thẩm 300.000 đồng. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí
dân sự đã nộp là 483.000 đồng theo biên lai thu số 0011283 ngày 15/03/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận Hoàng Mai, Thành phố Hà Nội.
Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm và được hoàn trả 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0034496 ngày 08/01/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
|
Các thẩm phán |
Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa |
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Tuấn Anh |
Nơi nhận:
- - VKSNDTP Hà Nội;
- - TAND quận Hoàng Mai;
- - Chi cục THADS quận Hoàng Mai;
- - Các đương sự;
- - Lưu văn phòng;
- - Lưu hồ sơ vụ án.
|
CÁC THẨM PHÁN |
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 438/2025/DS-PT ngày 23/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 438/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án phúc thẩm số 438 - Tranh chấp HĐ vay tài sản
