|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 438/2024/HSPT
Ngày: 16/9/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Thanh Phượng
Các Thẩm phán: Ông Trần Phương Đông
Bà Đinh Thị Kiều Lương
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Trang – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Kiên – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai tiến hành xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số 309/2024/TLPT-HS ngày 24 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Lê Văn C, do có kháng cáo của bị cáo C đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 278/2024/HS-ST ngày 05/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 402/2024/QĐ-PT ngày 22/8/2024.
Bị cáo kháng cáo: Lê Văn C, sinh năm 1979, tại Kiên Giang; Nơi đăng ký thường trú: Thôn P, xã X, huyện S (nay là thị xã S), tỉnh Phú Yên; Nơi ở hiện nay: Tổ A, khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Quốc T, sinh năm 1936 (đã chết) và bà Trần Thị T1, sinh năm 1941 (đã chết); Bị cáo là con út trong gia đình có 09 anh em; Họ tên vợ: Trần Nguyễn Như Q, sinh năm 1986; Bị cáo có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2017, con nhỏ nhất sinh năm 2019;
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường L, thành phố B từ ngày 28/11/2023 đến nay (có mặt).
Ngoài ra, trong vụ án còn có bị hại bà Nguyễn Thị G và người làm chứng Bùi Thị Hồng P nhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ tháng 3/2023, Lê Văn C và bà Nguyễn Thị G (sinh năm: 1980, thường trú: Tổ A, ấp D, xã D, huyện T, tỉnh Đồng Nai) có quan hệ tình cảm và sống chung như vợ chồng tại phòng trọ địa chỉ 521/83/300 tổ A, khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Khoảng 09 giờ ngày 30/07/2023, C và bà G xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, C bỏ đi ra ngoài. Đến khoảng 12 giờ 15 phút cùng ngày, C điều khiển xe mô tô hiệu Fashion biển số 77M4 - 2338 từ Bình Dương về phòng trọ của C và Gấm ở tại địa chỉ nêu trên. Lúc này bà G đã khoá cửa phòng đi ra ngoài, C dùng chìa khoá riêng mở cửa vào phòng lấy đồ đạc tư trang cá nhân của C. Cần có ý định bỏ đi ra ngoài ở riêng không sống chung với bà G và nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của bà G. Cần đi lên gác phòng trọ lục tìm và thấy 01 (một) vali kéo để trên gác phòng trọ liền mở ra lấy được 13 (mười ba) chiếc vòng Simen bằng kim loại màu vàng, 02 (hai) sợi dây chuyền bằng kim loại màu vàng kèm mặt dây chuyền, 02 (hai) vòng đeo tay bằng kim loại màu vàng, 03 (ba) nhẫn bằng kim loại màu vàng và số tiền 19.120.000đ (mười chín triệu một trăm hai mươi nghìn đồng). Sau đó, C chiếm đoạt số tài sản nêu trên rồi điều khiển xe mô tô biển số 77M4 - 2338 đi đến xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai.
Vào lúc 14 giờ cùng ngày, bà G phát hiện bị mất số tài sản trên, liên lạc với C nhưng không được nên đã đến Công an phường L, thành phố B trình báo, Công an phường L lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý. Đến ngày 31/7/2023, C đến Công an phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai đầu thú và giao nộp toàn bộ tài sản đã chiếm đoạt. Quá trình điều tra, Lê Văn C đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trên.
* Vật chứng vụ án gồm:
- + 13 (mười ba) vòng simen đường kính 5,5 cm bằng kim loại màu vàng; 01 (một) sợi dây chuyền hình mắt xích dài 50 cm, kèm mặt dây chuyền hình tròn đường kính 2,5 cm bên trong có khắc tượng phật bằng kim loại màu vàng; 01 (một) sợi dây chuyền dài 46 cm, kèm mặt dây chuyền hình tượng phật bằng kim loại màu vàng; 01 (một) lắc tay hình mắt xích dài 15 cm bằng kim loại màu vàng; 01 (một) lắc tay hình cầu dài 15 cm bằng kim loại màu vàng; 01 (một) nhẫn hình bông mai bằng kim loại màu vàng; 01 (một) nhẫn có đính đá bằng kim loại màu vàng; 01 (một) nhẫn mặt nhẫn có chữ “Thơ” bằng kim loại màu vàng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho Nguyễn Thị G.
- + Số tiền 19.120.000 đồng (mười chín triệu một trăm hai mươi ngàn đồng) tạm giữ từ Cần. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho bà G.
- + 01 (một) xe mô tô hiệu Fashion biển số 77M4 - 2338, số khung 023TL-008942, số máy FMH-00008942 là tài sản của bà Lê Thị G1 (chị của C) không liên quan đến vụ án. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho bà G1.
- + 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A03s tạm giữ từ Cần không liên quan đến vụ án. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho C.
- + 10 (mười) phiếu mua hàng (hoá đơn mua vàng) tạm giữ từ bà Nguyễn Thị G. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã trả lại cho bà G.
- + 01 (một) USB chứa video vụ trộm cắp, lưu cùng hồ sơ vụ án.
Tại Bản Kết luận định giá tài sản số: 526/KL-HĐĐGTS ngày 05/10/2023, của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng Hình sự thành phố B, kết luận: 13 (mười ba) vòng vàng simen vàng 610 trị giá 33.413.380 đồng; 02 (hai) sợi dây chuyền vàng, kèm mặt dây chuyền vàng 610 trị giá 27.905.680 đồng; 02 (hai) lắc tay trị giá 8.345.000 đồng, 03 (ba) nhẫn vàng trị giá 29.743.720 đồng và số tiền 19.120.000 đồng của bà Nguyễn Thị G. Tổng số tài sản bị chiếm đoạt là 118.527.780 đồng (một trăm mười tám triệu năm trăm hai mươi bảy ngàn bảy trăm tám mươi đồng).
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 278/2024/HS-ST ngày 05/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa và Thông báo số 127/2024/TB-TA ngày 09/7/2024 quyết định: Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017. Tuyên bố bị cáo Lê Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt bị cáo 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị bắt để thi hành án.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo.
Ngày 10/6/2024, bị cáo Lê Văn C có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, đề nghị giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Bị cáo nộp thêm chứng cứ mới gồm Hợp đồng lao động, các giấy tờ liên quan việc bị cáo có cậu là liệt sĩ.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:
Xét đơn kháng cáo của bị cáo hợp lệ về nội dung, hình thức và trong thời hạn nên xem xét giải quyết. Về nội dung: Cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo Lê Văn C tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 BLHS 2015 là đúng người, đúng tội, tương xứng với tội phạm bị cáo gây ra. Cấp sơ thẩm cũng đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo và xử bị cáo mức án 02 năm 06 tháng tù là có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo giao nộp các giấy tờ về cậu bị cáo là liệt sĩ, bị cáo hiện đang có hợp đồng lao động với công ty. Tuy nhiên các chứng cứ mới chỉ nằm ở các tình tiết giảm nhẹ khoản 2 Điều 51 BLHS. Xét thấy mức án của cấp sơ thẩm dành cho bị cáo là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật nên đề nghị không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- [1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo Lê Văn C được làm trong thời hạn phù hợp quy định tại các Điều 332, 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
- [2] Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn C thừa nhận: Vào khoảng 12 giờ 15 phút ngày 30/07/2023, tại địa chỉ 521/83/300 tổ A, khu phố A, phường L, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Lê Văn C đã có hành vi trộm cắp: 13 (mười ba) vòng vàng simen vàng 610 trị giá 33.413.380 đồng; 02 (hai) sợi dây chuyền vàng, kèm mặt dây chuyền vàng 610 trị giá 27.905.680 đồng; 02 (hai) lắc tay trị giá 8.345.000 đồng, 03 (ba) nhẫn vàng trị giá 29.743.720 đồng và số tiền 19.120.000 đồng của bà Nguyễn Thị G. Tổng số tài sản bị C chiếm đoạt trị giá 118.527.780 đồng (một trăm mười tám triệu năm trăm hai mươi bảy nghìn bảy trăm tám mươi đồng). Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Lê Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
- [3] Cấp sơ thẩm đã xem xét xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ gồm: có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; người phạm tội ra đầu thú; bị hại có đơn xin bãi nại cho bị cáo (quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự) là có căn cứ. Tuy nhiên, trong vụ án này, việc bị cáo giao nộp tài sản bị chiếm đoạt cho cơ quan công an chỉ được ghi nhận là tình tiết giảm nhẹ tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Cấp sơ thẩm áp dụng tình tiết Người phạm tội đã khắc phục hậu quả (điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự) là không chính xác, nhưng để không làm xấu đi tình trạng của bị cáo nên chỉ rút kinh nghiệm đối với cấp sơ thẩm.
- [4] Xét kháng cáo của bị cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo giao nộp các giấy tờ về cậu bị cáo là liệt sĩ, bị cáo hiện đang có hợp đồng lao động với công ty. Tuy nhiên các chứng cứ này không thuộc trường hợp được ghi nhận là tình tiết giảm nhẹ. Xét thấy cấp sơ thẩm đã xem xét cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ, đã cân nhắc đầy đủ nhân thân, tình tiết tăng nặng, vai trò, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên mức án của cấp sơ thẩm dành cho bị cáo là có căn cứ, phù hợp và đúng quy định pháp luật. Do vậy không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- [5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- [6] Đối với ý kiến của Kiểm sát viên phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
- [7] Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo chịu án phí là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Văn C. Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 278/2024/HS-ST ngày 05/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Xử phạt: Bị cáo Lê Văn C 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo tự nguyện hoặc bị bắt để thi hành án.
- Về án phí hình sự: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- - Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí.
- - Án phí phúc thẩm: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí.
- Các quyết định khác của Bản án hình sự sơ thẩm 278/2024/HS-ST ngày 05/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
T.M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Thị Thanh Phượng |
Bản án số 438/2024/HSPT ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 438/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn C - Trộm cắp tài sản
