Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

Bản án số: 438/2024/DS-PT

Ngày 21 – 8 – 2024

V/v tranh chấp quyền về lối đi qua

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Lương

Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Ngọc Dũng

Bà Nguyễn Thị Rẻn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thảo Phương Vy - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Xa Riêng - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 192/2024/DS-PT ngày 26 tháng 6 năm 2024 về “Tranh chấp quyền về lối đi qua".

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 63/2024/DS-ST ngày 21 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 2456/2024/QĐ-PT ngày 10/7/2024; Thông báo về việc dời ngày xét xử số: 2751/2024/QĐ-PT ngày 29 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn:

  1. Bà Lê Thị T, sinh năm 1972. (Có mặt)
  2. Bà Lê Thị T1, sinh năm 1951. (Có mặt)

Cùng địa chỉ: ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre.

Người đại diện theo ủy quyền của Nguyên đơn bà T: Ông Lê Văn T2, sinh năm 1975. Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre. (Vắng mặt)

- Bị đơn:

  1. Bà Trần Thị Phi L, sinh năm 1970. (Có mặt)
  2. Bà Trần Thị Phi Kim P, sinh năm 1974. (Có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 09 tháng 8 năm 2024)

Cùng địa chỉ: ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà L, bà P: Bà Bùi Thị Bích N – Luật sư Trung tâm T6, thành phố Hồ Chí Minh. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Trần Phi H, sinh năm 1966. (Có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 16 tháng 8 năm 2024)

Địa chỉ: ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre.

  1. Ông Trần Phi S, sinh năm 1968. (Có đơn xin xét xử vắng mặt đề ngày 16 tháng 8 năm 2024)

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.

- Người kháng cáo: Bị đơn bà Trần Thị Phi L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Ngày 27 tháng 7 năm 2022 và ngày 19 tháng 10 năm 2022, nguyên đơn bà Lê Thị T có đơn khởi kiện và đơn khởi kiện bổ sung gửi đến Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm về việc “Tranh chấp quyền về lối đi qua”.

Tại đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung và trong quá trình giải quyết vụ án tại phiên tòa sơ nguyên đơn bà Lê Thị T trình bày:

Do mối quan hệ bà con họ tộc nhiều đời với nhau nên bà T, bà T1 được ông bà tổ tiên chia đất gần nhau để sống. Bà T được đứng tên quyền sử dụng thửa đất 212, tờ bản đồ 12, diện tích 6.424,9 m²; bà T1 được đứng tên quyền sử dụng thửa đất 219, tờ bản đồ 12, diện tích 2.579,6 m². Hai thửa đất này liền kề với nhau cùng toạ lạc ấp H, xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre. Từ xưa, cha mẹ của bà đã cất nhà ở trên thửa đất này. Để ra lộ công cộng thì gia đình bà phải đi qua thửa đất của ông Trần Văn T3 và bà Nguyễn Thị L1. Năm 1991 – 1992, ông T3 tự ý rào đường không cho ra lộ bằng lối đi này và kiện cha mẹ bà T ra UBND xã H. Sau khi hoà giải, hai bên thống nhất nên ông T3 mở lối đi rộng 02m để gia đình nguyên đơn ra lộ công cộng. Ban đầu đi cầu dừa, năm 2017, nguyên đơn làm cầu bê tông ngang rạch và bồi đắp đường đi ra lộ như thoả thuận. Sau khi bà L1, ông T3 đã chết, các con ông T3, bà L1 là bà Trần Thị Phi L, Trần Thị Phi Kim P, Trần Phi S và Trần Phi H tự ý đào đường và rào lưới B40 không cho nguyên đơn ra vào nhà. Nguyên đơn cũng có nhờ chính quyền địa phương hoà giải để hai bên thương lượng nhưng không thành nên đã khởi kiện tại Toà án. Tuy trên Giấy chứng nhận của bà T có thể hiện “đường” nhưng thực tế không có đường đi, từ đất bà T ra đường Sông Nhỏ phải đi qua nhiều thửa đất và rất xa, xa gấp nhiều lần so với đi qua đất bị đơn để ra đường Sông Lớn, một số chủ đất phía ngoài trên đường ra đường Sông Nhỏ cũng rào lại không cho nguyên đơn đi. Từ đất nguyên đơn ra đường Sông Lớn gần, thuận tiện nhất (chỉ hơn 60m). Do đó, nguyên đơn yêu cầu bà L, bà P, ông S, ông H mở lối đi mà trước đây cha mẹ của bị đơn đã cho nguyên đơn đến nay hơn 40 năm, hiện trạng đã hình thành lối đi, có cầu bê tông bắc qua rạch, qua đo đạc thực tế phần này có diện tích 76.3m² (ký hiệu 242a) thuộc thửa 242, tờ bản đồ 12 tọa lạc xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre. Bà T thống nhất với kết quả Hội đồng định giá, không yêu cầu đo đạc, định giá lại. Bà T đồng ý đền bù giá trị đất cho gia đình bị đơn, đối với hàng rào B40 thì bị đơn tự tháo dỡ, bà không bồi thường. Trước đây, bà T uỷ quyền cho ông T2 tham gia tố tụng; tại phiên toà, bà rút uỷ quyền đối với ông T2 và tự tham gia giải quyết vụ án.

Tại đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là bà Lê Thị T1 trình bày:

Bà thống nhất với lời trình bày của bà T. Cách đây hơn 40 năm, cha mẹ bà L (ông T3, bà L1) có cho 02 gia đình (bà và gia bà T) đi qua đất ông T3, bà L1 để ra đường Sông Lớn (lúc đó đường Sông Lớn là đường đất, nay Nhà nước đã đổ bê tông rộng 3.5m), đi hết đường trên đất của ông T3, bà L1 thì bà phải đi qua đất của bà T khoảng 100m (trong đó đi chung với bà T khoảng 70m, rồi đi riêng 01 đoạn 30m) mới đến đất bà. Hiện nay, bà T vẫn cho bà đi qua đất bà T bình thường mà không hề có tranh chấp hay đòi hỏi đền bù gì nên bà không yêu cầu Tòa án đo vẽ hay giải quyết đoạn đường này. Do anh em bà L không cho bà và bà T đi và xảy ra tranh chấp nên bà chỉ khởi kiện và yêu cầu anh em bà L mở lối đi diện tích 76.3m² (ký hiệu 242a) thuộc thửa 242, tờ bản đồ 12 tọa lạc xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre, bà đồng ý đền bù giá trị đất theo quy định, đối với hàng rào thì anh em bà L tự tháo dỡ, bà không bồi thường.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là bà Trần Thị Phi L trình bày:

Cha mẹ bà là ông Trần Văn T3, bà Nguyễn Thị L1 là chủ sử dụng phần đất có diện tích 6.236,4m² thửa 242, tờ bản đồ 12 tọa lạc xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 12/12/2007 cho hộ Nguyễn Thị L1 và chồng Trần Văn T4. Các giấy tờ khác của cha bà đều thể hiện tên đúng của cha là Trần Văn T3, chỉ mỗi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là sai tên cha, bà đã đi làm thủ tục đính chính lại thông tin này nhưng không được. Phần đất trên có nguồn gốc của ông ngoại bà cho mẹ bà và cha mẹ mua thêm. Thời điểm cấp Giấy chứng nhận đất thì hộ do mẹ bà làm chủ hộ, trong hộ cũng chỉ có cha mẹ và 4 anh chị em bà (Trần Phi H, Trần Phi S, Trần Thị Phi L, Trần Thị Phi Kim P), không có ai khác. Ông bà ngoại, ông bà nội bà đều chết trước cha mẹ bà. Cha mẹ bà không có con nuôi, không có con riêng. Cha mẹ bà chết không có di chúc, các anh em bà cũng đã có thỏa thuận phân chia đất xong nhưng chưa làm thủ tục để tách sổ, sau khi trừ nhà thờ và đất thổ mộ ra, mỗi người được gần 1.000 m² (khoảng hai bờ dừa). Phần đất thừa 242 này tiếp giáp đường (dân địa phương gọi là đường Sông Lớn, đường này mới được Nhà nước đổ bê tông năm 2020 chứ trước đây là đường đất). Từ rất lâu, không riêng gì gia đình nguyên đơn mà gia đình bà cũng đi ra đường Sông Nhỏ (là trục đường chính của Cồn Hưng P1) để đi chợ, Ủy ban nhân dân xã, trường học... Lúc đó, người dân đi trên bờ mẫu do dân tự đắp. Khoảng 1990, cha mẹ bà có cho gia đình bà T đi tạm qua đất (đi tắt giữa đất) để thăm đất vườn bên đường Sông Lớn (lúc này đường Sông Lớn còn đường đất). Bà T1 thấy gia đình bà T đi được nên cũng đi theo. Năm 2017, bà T có hỏi xin bà P bắc cầu bê tông qua rạch để bà T thuận tiện chở mẹ bà T đi chích do lớn tuổi hay bệnh nên bà P đã đồng ý. Vừa rồi, bà P dự định về quê cất nhà, để thuận tiện trong việc quản lý, sử dụng đất, tránh manh mún nên bà có thông báo với nguyên đơn dời lối đi ra ngoài bìa của thửa đất (hiện trạng là cái mương), vị trí phần đất này song song với lối đi mà các nguyên đơn đang đi, các anh em bà yêu cầu nguyên đơn trả tiền đất để họ được đi vĩnh viễn nhưng các nguyên đơn không đồng ý mà đòi đi trên lối đi đang đi nên phát sinh tranh chấp. Nay trước yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn, bà không đồng ý bởi vì: Trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà T (thừa 212) có thể hiện đường đi ra đến lộ công cộng (là đường Sông Nhỏ), không phải bị vây bọc mà không có lối đi, các anh em bà thống nhất không cho nguyên đơn đi qua đất cha mẹ bà bất cứ vị trí nào. Do không cho đi, không bán đất nên anh em bà không quan tâm đến kết quả đo đạc, định giá cũng không yêu cầu đo đạc, định giá lại. Các anh em bà yêu cầu nguyên đơn quay lại đường cũ ra đường Sông Nhỏ để đi chứ không được đi qua đất của anh em bà nữa.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là bà Trần Thị Phi Kim P trình bày:

Bà được quyền thừa kế chung với các anh chị em bà đối với thửa 242, tờ bản đồ 12 tọa lạc xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre do cha mẹ bà là ông Trần Văn T3, bà Nguyễn Thị L1 để lại. Lúc cha mẹ bà còn sống, cha mẹ bà có cho bà T1, bà T đi tạm (đi tắt) qua đất để ra đường Sông Lớn; sau này bà có cho bà T bắt cầu bê tông qua rạch (mương ranh giữa đất cha mẹ bà và bà T) nhưng chỉ là đi tạm do thấy mẹ bà T lớn tuổi, hay bệnh phải chở đi chích. Phần lối đi mà nguyên đơn tranh chấp trong vụ án này nằm trên phần đất mà anh em bà thống nhất chia cho bà (được 2 bờ dừa, có 01 mặt giáp đường Sông Lớn có chiều ngang tính từ ranh đất gia đình anh R đến hết bờ dừa thứ hai là mười mấy mét), bà dự định sẽ cất nhà ở (ngang khoảng 8m) và còn trồng cây, chăn nuôi xung quanh. Việc mở lối đi trên phần đất này sẽ gây khó khăn cho việc quản lý, canh tác, bảo quản tài sản và không thuận tiện trong việc phân chia quyền sử dụng đất theo pháp luật. Do đó, bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không đồng ý cho nguyên đơn đi bất cứ vị trí nào trên đất kể cả việc ra mương ranh giáp đất anh R; nguyên đơn đã có sẵn lối đi về phía đường Sông Nhỏ thì phải đi lối đi này. Do không cho nguyên đơn đi, không bán đất nên bà không quan tâm đến kết quả đo đạc, định giá mà Toà án đã thu thập trong vụ án, bà cũng không yêu cầu đo đạc, định giá lại.

Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Trần Phi H và ông Trần Phi S cùng trình bày:

Ông thống nhất với lời trình bày của các em ông là bà L, bà P, không bổ sung gì thêm.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà L, bà P trình bày:

Đề nghị bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bởi vì bà T1, bà T có lối đi sẵn ra đường công cộng chính của xã về phía đường Sông Nhỏ (trên Giấy chứng nhận của bà T thể hiện rõ đường này); không có quyền yêu cầu mở lối đi thứ hai trên thửa đất bị đơn, việc mở lối đi như yêu cầu của nguyên đơn sẽ gây khó khăn cho việc quản lý, canh tác, bảo quản tài sản và không thuận tiện trong việc phân chia quyền sử dụng đất theo pháp luật.

Do hòa giải không thành, Tòa án nhân dân huyện Giông Trôm đưa vụ án ra xét xử.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 63/2024/DS-ST ngày 21 tháng 5 năm 2024, Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm quyết định:

Căn cứ vào Điều 254 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 171 Luật đất đai;

Căn cứ các Điều 147, 165, khoản 1 Điều 228, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T, bà Lê Thị T1.
  2. Buộc bà Trần Thị Phi L, bà Trần Thị Phi Kim P, ông Trần Phi S, ông Trần Phi H tháo dỡ hàng rào trụ cây chôn kéo lưới B40 để mở cho bà Lê Thị T, bà Lê Thị Thu l đi theo đo đạc thực tế có diện tích là 76.3m² thuộc thửa 242, (ký hiệu 242a), tờ bản đồ 12 tọa lạc xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre. (Phần đất nêu trên có tứ cận và các thông tin khác theo hồ sơ đo đạc kèm theo bản án).

  3. Về việc đền bù:
  4. - Buộc bà Lê Thị T đền bù cho bà Trần Thị Phi L, bà Trần Thị Phi Kim P, ông Trần Phi S, ông Trần Phi H giá trị phần đất có lối đi là 19.075.000 (Mười chín triệu không trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng.

    - Buộc bà Lê Thị T1 đền bù cho bà Trần Thị Phi L, bà Trần Thị Phi Kim P, ông Trần Phi S, ông Trần Phi H giá trị phần đất có lối đi là 19.075.000 (Mười chín triệu không trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng.

  5. Tuyên bố hạn chế quyền sử dụng đất đối với diện tích 76.3m² thuộc thửa 242, (ký hiệu 242a) tờ bản đồ 12 tọa lạc xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre mà bà T, bà T1 được quyền sử dụng làm lối đi.

Các bên được quyền đăng ký quyền sử dụng hạn chế quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 171 Luật Đất đai năm 2013 tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 03/6/2024, bị đơn bà Trần Thị Phi L kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 63/2024/DS-ST ngày 21 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm theo hướng bác bỏ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Lê Thị T.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị đơn bà Trần Thị Phi L giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; Các nguyên đơn bà Lê Thị T và bà Lê Thị T1 không đồng ý với kháng cáo của bị đơn và đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 63/2024/DS-ST ngày 21 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm. Các bên đương sự không thỏa thuận được về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre phát biểu:

Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; những người tham gia tố tụng đã thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình theo quy định của pháp luật.

Về nội dung: Bản án sơ thẩm đã tuyên là có căn cứ. Kháng cáo của phía bị đơn là không có cơ sở để chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Trần Thị Phi L; Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số: 63/2024/DS-ST ngày 21 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa; kết quả tranh tụng tại phiên tòa; ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên; xét kháng cáo của bà Trần Thị Phi L, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Bị đơn bà Trần Thị Phi L kháng cáo và gửi thủ tục kháng cáo hợp lệ trong thời hạn luật định nên được xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2] Về nội dung:

[2.1] Phần đất bà Lê Thị T đang quản lý, sử dụng và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có diện tích 6.424,9m² thửa 212, tờ bản đồ 12 tại xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre. Phần đất này bị vây bọc bởi các thửa đất 242 (của ông T3, bà L1 – là cha mẹ của bà L, bà P), thừa 200 (của ông Nguyễn Văn N1), thửa 314 (của ông Châu Văn K), thửa 211 (của ông Trần Văn K1), thửa 233 (của ông Nguyễn Văn V - cha anh Nguyễn Thành R1), thửa 219 (của bà Lê Thị T1), thửa 234 (của ông Hà Văn H1), thửa 194 (của bà Ngô Thị T5). Phần đất thửa 212 của bà T là đất vườn, có nhà bà T đang sinh sống.

[2.2] Bà Lê Thị T1 đang quản lý, sử dụng và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần đất có diện tích 2.579,3 m2 thửa 219, tờ bản đồ 12 tại xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre. Phần đất này bị vây bọc bởi các thửa đất 234 (của ông Hà Văn H1), thửa 212 (của bà Lê Thị T), thửa 194 (của bà Ngô Thị T5), thừa 206 (của Ngô Văn K2), thửa 220 (của ông Trần Văn N2), thửa 243 (của ông Nguyễn Trường C). Phần đất thửa 219 của bà T1 là đất vườn, có nhà bà T1 đang sinh sống.

[2.3] Dọc hai bên Cồn Ốc (cồn nổi lớn nhất trên sông H thuộc xã H) có 02 con đường chính đi từ đầu C1 đến cuối C1 là đường Sông Lớn và đường Sông Nhỏ. Đường Sông N3 là trục đường chính của xã H, đường S là đường bê tông rộng 3.5m. Cả hai thửa đất của hai nguyên đơn đều không tiếp giáp 2 đường này. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thừa 212 của bà T và xác nhận của Ủy ban nhân dân xã H thì trên thửa đất 212 có thể hiện đường đi chung trên bản đồ địa chính quản lý tại xã (đường nhỏ hơn 02 m) hướng về phía Sông N, đây là đất giao thông có hạn chế quyền sử dụng đất. Trước đây, người dân sống bên phía Sông Lớn đi tắt qua phía Sông Nhỏ trên bờ mẫu cho gần. Do đó, trên bản đồ địa chính và Giấy chứng nhận của bà T, các hộ dân trên đường về phía Sông N đều thể hiện “đường”. Tuy nhiên, qua xác minh thực tế, khoảng hơn 30 năm nay, bà T và bà T1 không sử dụng đường này để đi ra đường Sông Nhỏ nữa, mọi hoạt động đi lại, mua bán, giao lưu ... với xã hội bà T1, bà T đều đi ra đường Sông Lớn. Lúc cha mẹ bà L còn sống, các nguyên đơn có xin đi trên bờ dừa, đã bắc cầu bê tông (rộng1.4m, dài 19m) qua con mương giữa đất bà T với đất cha mẹ bà L) và đi ổn định đến nay. Cha mẹ bà L chết, các anh em bà L chia di sản của cha mẹ để lại trong đó có phần đất có đường đi này nên anh em bà L rào đường không cho nguyên đơn tiếp tục đi qua nên phát sinh tranh chấp.

[2.4] Phần đất thửa 212 của bà T có giáp ranh với phần đất thửa 219 của bà T1. Từ trước đến nay, gia đình bà T1 muốn đi ra đường công cộng (đường Sông Lớn) thì đi qua đất của bà T tổng chiều dài khoảng 100m (trong đó đi đoạn đầu khoảng 30m rồi cùng với bà T đi khoảng 70m) xong đi qua cầu bê tông bắc qua rạch đến đất gia đình bà L (thửa 242) đoạn hơn 60m dưới hàng dừa là ra đến đường Sông Lớn. Do gia đình bà T1 đi ổn định từ rất lâu nên hiện nay bà T vẫn đồng ý và cam kết cho bà T1 đi qua đất mình để ra đường Sông Lớn mà không cần đền bù. Đây là quyền tự định đoạt của đương sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[2.5] Từ đất của bà T ra đường Sông Nhỏ phải đi qua nhiều thửa đất với khoảng cách là hơn 1km, một số chủ đất (bà T5, bà L2) phía ngoài trên lối đi ra đường Sông Nhỏ cũng rào lại không cho bà T đi qua. Mặc khác từ đất của bà T ra đường Sông Lớn khoảng cách là 60m và đã có sẵn lối đi, bà T đã bắc cầu bê tông rộng 1.4m, dài 19m. Thửa đất 212, 219, tờ bản đồ 12 của bà T, bà T1 bị vây bọc bởi các thửa đất xung quanh như đã nêu trên. Tòa án cấp sơ thẩm đã tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá và xác minh thì lối đi mà bà T, bà T1 yêu cầu mở là phần đất có diện tích là 76.3m² thuộc một phần thửa đất 242, tờ bản đồ số 12 có: một cạnh (8-1) tiếp giáp đường Sông Lớn - chiều dài cạnh là 0,92m, hai cạnh chạy dài hết đất chiều dài trung bình là 63m; phần đất này đã hình thành lối đi mòn, hiện trạng là đất liền nằm trên một bờ dừa, đã có sẵn cầu móng trụ đà, mặt cầu bê tông cốt thép qua mương ranh giữa đất bà L, bà T; trên đất không có hoa màu; chỉ có 01 hàng rào trụ cây kéo lưới B40 diện tích 1.5m² (do bị đơn rào không cho nguyên đơn đi) đường ra lộ sông N là con đường bờ mẫu hiện tại không, bà T5 đã móc đất bờ mẫu quăng lên bờ để trồng dừa, bà T5 cất nhà, trồng cây kín đất, chỗ bờ mẫu đó giờ là cái mương. Gia đình bà L đề nghị bán cho bà T, bà T1 phần giáp ranh giữa thửa 242 của gia đình bà L với thửa 233 của anh R1 đứng tên sở hữu (phần ranh là mương nước) và yêu cầu nguyên đơn dời lối đi ra phần ranh đó. Tuy nhiên, phần mương ranh đó nếu cải tạo để hoàn thành 01 lối đi thì cần phải đấp đê, bơm cát... Tổng giá trị là hơn 100.000.000 đồng (chưa tính giá trị mương).

[3] Từ những phân tích, đánh giá như trên, Hội đồng xét xử nhận thấy việc gia đình bà L đề nghị nguyên đơn dời lối đi ra ranh là không hợp lý vì chi phí cải tạo, bồi đấp đường đi là quá lớn, việc nguyên đơn yêu cầu giữ nguyên lối đi qua thửa đất 242 của gia đình bà L để đi ra đường Sông Lớn là hợp lý, không gây ra nhiều thiệt hại cho phía bị đơn và phù hợp với Điều 254 Bộ luật dân sự năm 2015.

Kháng cáo của bà Trần Thị Phi L là không có căn cứ nên không được chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bà L; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số: 63/2024/DS-ST ngày 21 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm là phù hợp.

[4] Về việc đền bù:

Bà T1, bà T hưởng quyền về lối đi qua phải đền bù cho bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (mỗi chủ sử dụng đất phải đền bù 1/2 giá trị đất). Trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự không có ý kiến gì về giá đất tài sản trên đất. Nghĩa vụ đền bù được tính như sau:

Theo kết quả đo đạc và định giá ngày 01/12/2022, phần đất có lối đi được mở có diện tích 76.3m² (Vị trí 2), giá đất thị trường là 500.000 đồng/m² (giá này bao gồm hoa màu trên đất). Như vậy, để đảm bảo quyền lợi của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; cần buộc bà T và bà T1 mỗi người có nghĩa vụ đền bù 19.075.000 đồng (38.150.000 đồng : 2 = 19.075.000 đồng) cho phía bị đơn.

Trên đất có hàng rào trụ cây chôn kéo lưới B40 di dời được, do bị đơn tự rào nên phải tự tháo dỡ, nguyên đơn không phải đền bù.

[5] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[6] Về án phí phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bị đơn Trần Thị Phi L phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của bà Trần Thị Phi L;

Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số: 63/2024/DS-ST ngày 21/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre.

Căn cứ vào Điều 254 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 171 Luật đất đai;

Căn cứ các Điều 147, 165, khoản 1 Điều 228, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Lê Thị T, bà Lê Thị T1.
  2. Buộc bà Trần Thị Phi L, bà Trần Thị Phi Kim P, ông Trần Phi S, ông Trần Phi H tháo dỡ hàng rào trụ cây chôn kéo lưới B40 để mở cho bà Lê Thị T, bà Lê Thị Thu 1 đi theo đo đạc thực tế có diện tích là 76.3m² thuộc thửa 242, (ký hiệu 242a), tờ bản đồ 12 tọa lạc xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre. (Phần đất nêu trên có tứ cận và các thông tin khác theo hồ sơ đo đạc kèm theo bản án).

  3. Về việc đền bù:
  4. Buộc bà Lê Thị T đền bù cho bà Trần Thị Phi L, bà Trần Thị Phi Kim P, ông Trần Phi S, ông Trần Phi H giá trị phần đất có lối đi là 19.075.000 (Mười chín triệu không trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng.

    Buộc bà Lê Thị T1 đền bù cho bà Trần Thị Phi L, bà Trần Thị Phi Kim P, ông Trần Phi S, ông Trần Phi H giá trị phần đất có lối đi là 19.075.000 (Mười chín triệu không trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng.

  5. Tuyên bố hạn chế quyền sử dụng đất đối với diện tích 76.3m² thuộc thửa 242, (ký hiệu 242a) tờ bản đồ 12 tọa lạc xã H, huyện G, tỉnh Bến Tre mà bà T, bà T1 được quyền sử dụng làm lối đi.
  6. Các bên được quyền đăng ký quyền sử dụng hạn chế quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 171 Luật Đất đai năm 2013 tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

  7. Về chi phí tố tụng khác: Ghi nhận nguyên đơn tự nguyện chịu chi phí tố tụng số tiền là 2.823.000 (Hai triệu tám trăm hai mươi ba nghìn) đồng và đã nộp xong.
  8. Về án phí dân sự sơ thẩm:
  9. Bà Trần Thị Phi L, bà Trần Thị Phi Kim P, ông Trần Phi S, ông Trần Phi H phải liên đới chịu án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

    Bà Lê Thị T phải chịu 5% án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 954.000 đồng (Chín trăm năm mươi ba nghìn đồng) (19.075.000 đồng x 5% = 954.000 đồng (đã làm tròn)).

    Bà Lê Thị T1 là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí.

  10. Án phí phúc thẩm:
  11. Bà Trần Thị Phi L phải chịu án phí phúc thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005163 ngày 03 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre. Bà L đã nộp xong.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Phạm Văn Ngọt Nguyễn Hữu Lương
Nguyễn Thị Rẻn

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bến Tre;
  • - TAND huyện Giồng Trôm;
  • - Chi cục THADS huyện Giồng Trôm;
  • - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh Bến Tre;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Lương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 438/2024/DS-PT ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp quyền về lối đi qua

  • Số bản án: 438/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền về lối đi qua
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền về lối đi qua
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger