|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 4371/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 17/9/2024
V/v: “Ly hôn”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thái Tuấn Anh
2. Ông Vũ Song Hào
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Phượng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng– Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 9 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 408/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2024 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5585/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 6902/2024/QĐ ngày 20/8/2024, giữa các đương sự:
- Ông Khổng Minh T, sinh năm: 1987;
Căn cước công dân số [...]; cấp ngày 03/8/2022;
- Bà Nguyễn Trần Phương T1, sinh năm: 1988;
Căn cước công dân số [...]; cấp ngày 24/4/2018;
Cùng địa chỉ: 2 đường D, khu phố A, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn ly hôn đề ngày 20/12/2023, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn – Ông Khổng Minh T trình bày:
Ông Khổng Minh T và bà Nguyễn Trần Phương T1 xác lập quan hệ hôn nhân vào năm 2014 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 104/2014 do Ủy ban nhân dân phường T, Quận B (nay là Thành phố T) Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/11/2014.
Thời gian đầu ông và bà T1 chung sống với nhau tương đối hạnh phúc. Tuy nhiên sau đó vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, không thể giải quyết được. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông T không có việc làm và thu nhập không ổn định nên không phụ giúp được nhiều cho kinh tế gia đình. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc nên ông T đề nghị Toà án giải quyết các vấn đề sau:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông T yêu cầu ly hôn bà Nguyễn Trần Phương T1.
- Về con chung: Ông T và bà T1 có 01 con chung tên Khổng Thiên Bảo N, sinh ngày 24/8/2015. Nay ly hôn ông T đồng ý giao con chung cho bà Nguyễn Trần Phương T1 chăm sóc và giáo dục. Ông T đề nghị cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đồng/1tháng.
- Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn – Bà Nguyễn Trần Phương T1 trình bày tại bản tự khai ngày 19/3/2024:
Bà T1 thống nhất với trình bày của ông T về quá trình kết hôn cũng như mẫu thuẫn vợ chồng. Nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do ông T có người phụ nữ khác. Tuy nhiên bà T1 không đồng ý ly hôn do tình cảm vợ chồng vẫn còn, đã nhiều lần bà T1 tìm cách hàn gắn tình cảm gia đình nhưng không thành, nay ông T đề nghị ly hôn bà không đồng ý.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, bà T1 và ông T có 01 con chung Khổng Thiên Bảo N, sinh ngày 24/8/2015. Nếu giải quyết ly hôn, bà đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con 5.000.000đồng/1 tháng.
Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Kiểm sát viên - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Nhận thấy Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự: Đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền; xác định đúng quan hệ tranh chấp, đúng tư cách đương sự; tiến hành thủ tục thu thập chứng cứ, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tống đạt văn bản tố tụng và mở phiên tòa xét xử đúng quy định pháp luật;
Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Khổng Minh T về việc ly hôn với bà Nguyễn Trần Phương T1.
- Con chung: Giao con chung tên Khổng Thiên Bảo N, sinh ngày 24/8/2015 cho bà Nguyễn Trần Phương T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của ôn T cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đồng/01 tháng. Hai bên giao nhận vào ngày 01 hàng tháng, bắt đầu từ tháng 10/2024.
- Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận, nên đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn – ông Khổng Minh T khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bị đơn – bà Nguyễn Trần Phương T1 có địa chỉ cư trú tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, quan hệ tranh chấp của vụ án là “Ly hôn”. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức là Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ án.
Về sự vắng mặt của các đương sự:
+ Đối với nguyên đơn: Ông T có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Đối với bị đơn: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để bị đơn tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không lý do. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà T1 theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Xét thấy, nguyên đơn và bị đơn tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn vào năm 2014 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 104/2014 do Ủy ban nhân dân phường T, Quận B (nay là Thành phố T) cấp ngày 15/11/2014. Căn cứ khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014, quan hệ hôn giữa nguyên đơn và bị đơn là hôn nhân hợp pháp.
Theo kết quả xác minh ngày 29/5/2024 của Ủy ban nhân dân phường T thì nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do ông T chung sống với người phụ nữ khác. Tại bản khai ngày 19/3/2024 của bà Nguyễn Trần Phương T1 cũng nêu nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng là do ông Khổng Minh T có người phụ nữ khác. Quá trình giải quyết vụ án, bà T1 không đến theo giấy triệu tập của Tòa án để hòa giải, và đề xuất các biện pháp hàn gắn quan hệ vợ chồng. Do đó, có cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa ông T và bà T1 là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, là điều kiện để giải quyết cho ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Do đó, yêu cầu ly hôn của ông T đối với bà Nguyễn Trần Phương T1 là có cơ sở để chấp nhận.
[2.2] Về con chung và cấp dưỡng:
Căn cứ vào lời trình bày của ông T, bà T1 và tài liệu có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Ông T, bà T1 có 01 con chung tên Khổng Thiên Bảo N, sinh ngày 24/8/2015. Ông T yêu cầu giao con chung cho bà Nguyễn Trần Phương T1 chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ông T đề nghị cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đồng/1 tháng. Bà T1 yêu cầu nuôi con chung, yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con 5.000.000đồng/1 tháng.
Đối với các yêu cầu về con chung: Hội đồng xét xử xét thấy: Tại biên bản làm việc ngày 10/5/2024 Tòa án có yêu cầu ông T đưa trẻ Khổng Thiên Bảo N đến Tòa để lấy ý kiến của trẻ về nguyện vọng được sống chung với cha hay mẹ. Tuy nhiên, do bà T1 không đồng ý cho trẻ Bảo N đến Tòa án nên ông T không thể thực hiện được. Do đó Tòa án cũng không thể lấy lời khai ghi nhận nguyện vọng của trẻ. Tại bản tự khai ngày 19/3/2024 bà T1 đề nghị được nuôi con chung. Trên thực tế bà Nguyễn Trần Phương T1 là người trực tiếp chăm sóc trẻ, có đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung. Ông T cũng đồng ý để bà T1 chăm sóc và giáo dục con. Để tạo điều kiện cho trẻ có đầy đủ điều kiện phát triển về mặt thể chất lẫn tinh thần, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung cho bà T1 trực tiếp nuôi dưỡng và giáo dục.
Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung. Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ vào hợp đồng lao động số 024/2024/HĐLĐ-CNTP.HCM giữa CN TP .- Công ty CP T2 và ông Khổng Minh T thì mức lương hàng tháng của ông T là 5.873.000 đồng/1 tháng, phụ cấp tiền ăn là 50.000đồng/1 ngày công thực tế. Ngoài ra ông T không có thêm khoản thu nhập nào khác. Theo quy định tại Điều 71 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chưa thành niên, Hội đồng xét xử xét thấy mức cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đồng/1 tháng của ông T là phù hợp với điều kiện và thu nhập thực tế của ông T.
Trong quá trình giải quyết vụ án bà T1 chỉ có mặt tại Tòa vào ngày 19/3/2024 để làm bản tự khai. Sau đó bà T1 vắng mặt không lý do trong suốt quá trình giải quyết, không có thiện chí hòa giải cũng như không đưa ra giải pháp để xây dựng gia đình hạnh phúc, không cung cấp các chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình. Xét thấy việc bà T1 không cung cấp tài liệu chứng cứ chứng minh ông T có mức thu nhập bao nhiêu nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu cấp dưỡng của bà T1.
Căn cứ khoản 2 Điều 82 và Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử: Buộc ông T cấp dưỡng nuôi con chung số tiền là 2.000.000đồng/tháng. Thời gian thực hiện việc cấp dưỡng nuôi con chung bắt đầu từ tháng 10 năm 2024. Các bên thi hành trực tiếp hoặc tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đối với quan hệ hôn nhân, nuôi con chung và cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp nên được chấp nhận.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Ông T và bà T1 tự thỏa thuận nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 266, Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 9 và các Điều 51, 56, 57, 58, 71, 72, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2018;
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – ông Khổng Minh T:
- Về quan hệ hôn nhân: Ông Khổng Minh T được ly hôn với bà Nguyễn Trần Phương T1. Quan hệ hôn nhân giữa ông Khổng Minh T và bà Nguyễn Trần Phương T1 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 104/2014 do Ủy ban nhân dân phường T, Quận B (nay là Thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/11/2014 chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Giao con chung tên Khổng Thiên Bảo N, sinh ngày 24/8/2015 cho bà Nguyễn Trần Phương T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ông Khổng Minh T cấp dưỡng nuôi con 2.000.000đồng/1 tháng cho đến khi phát sinh các căn cứ chấm dứt nghĩa vụ cấp dưỡng theo quy định. Hai bên thi hành trực tiếp hoặc tại cơ quan có thẩm quyền về Thi hành án dân sự.
Kể từ ngày bà Nguyễn Trần Phương T1 có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Khổng Minh T thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định thì hàng tháng ông T còn phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Mức lãi suất chậm trả do các bên thỏa thuận nhưng không vượt quá 20%/năm của khoản tiền tính trên nghĩa vụ cấp dưỡng. Nếu các bên không có thỏa thuận thì lãi suất bằng 50% mức lãi suất giới hạn qui định tại khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ nêu trên; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
Quyền, nghĩa vụ của ông Khổng Minh T và bà Nguyễn Trần Phương T1 trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 110 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014.
Về tài sản chung, nợ chung: Ông Khổng Minh T và bà Nguyễn Trần Phương T1 tự thỏa thuận, không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
2. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:
Nguyên đơn – ông Khổng Minh T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000 (Ba trăm nghìn)đồng và án phí cấp dưỡng nuôi con 300.000đồng, tổng cộng 600.000đồng nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm mà ông T đã nộp là 300.000đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0025311 ngày 01/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức. Ông T phải nộp bổ sung số tiền án phí là 300.000đồng.
3. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc được niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Hiếu |
Bản án số 4371/2024/HNGĐ-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 4371/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Tr yêu cầu ly hôn bà T
