|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 4370/2024/HNGĐ-ST Ngày: 17/9/2024 V/v: “Ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Hiếu
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Thái Tuấn Anh
2. Ông Vũ Song Hào
- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Phượng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng– Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 618/2024/TLST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2024 về việc: “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5656/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/7/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 6903/QĐ ngày 20/8/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bảo N; sinh năm: 1993 (đề nghị vắng mặt);
Căn cước công dân số [...]; cấp ngày 24/6/2022;
Bị đơn: Ông Đoàn Đình N1, sinh năm: 1982 (vắng mặt);
Căn cước công dân số [...]; cấp ngày 24/6/2022;
Cùng địa chỉ thường trú: 30/19 đường A, khu phố A, phường C, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Cùng địa chỉ liên hệ: 289/5/12 đường N, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn ly hôn đề ngày 13/3/2024, quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – Bà Nguyễn Thị Bảo N trình bày:
Bà và ông N1 sống chung và đăng ký kết hôn vào ngày 15/6/2013 theo giấy chứng nhận kết hôn số 50/2013, Quyển 01/2013 của Ủy ban nhân phường C, Quận B (nay là thành phố T), Thành phố Hồ Chí Minh.
Thời gian đầu bà và ông N1 chung sống với nhau tương đối hạnh phúc. Tuy nhiên sau đó vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, không thể giải quyết được. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không thể hòa hợp trong đời sống vợ chồng. Ông N1 không phụ giúp bà về kinh tế gia đình cũng như không có trách nhiệm với gia đình, vợ con. Hiện nay tình cảm vợ chồng không còn. Vì vậy bà đề nghị ly hôn với ông Đoàn Đình N1.
Về con chung: Bà và ông N1 có 01 con chung tên Đoàn Ngọc Bảo N2, sinh ngày 14/10/2013. Bà yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu ông N1 cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn – Ông Đoàn Đình N1 đã được Tòa án tống đạt các văn bản tố tụng nhưng ông N1 không đến theo giấy triệu tập của Tòa án, không có bản khai trình bày ý kiến, Tòa án cũng không thể tiến hành hòa giải giữa các bên.
Kiểm sát viên Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án:
Nhận thấy Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự: Đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền; xác định đúng quan hệ tranh chấp, đúng tư cách đương sự; tiến hành thủ tục thu thập chứng cứ, kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tống đạt văn bản tố tụng và mở phiên tòa xét xử đúng quy định pháp luật;
Về nội dung, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Bảo N.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết do đó đề nghị không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn – Bà Nguyễn Thị Bảo N khởi kiện yêu cầu được ly hôn với bị đơn – Ông Đoàn Đình N1 có địa chỉ cư trú tại thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Do đó, quan hệ tranh chấp của vụ án là “Ly hôn”. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Thủ Đức là Toà án có thẩm quyền giải quyết vụ án.
Về sự vắng mặt của các đương sự:
+ Đối với nguyên đơn: Bà N có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Đối với bị đơn: Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để bị đơn tham gia tố tụng nhưng vắng mặt không lý do. Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân:
Xét thấy, bà N và ông N1 tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn năm 2013 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 50/2013 Quyển số 01/2013 của Ủy ban nhân dân phường C, Quận B (nay là thành phố T) Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ khoản 1 Điều 9 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014, quan hệ hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn là hôn nhân hợp pháp.
Mặc dù theo kết quả thu thập chứng cứ của Tòa án tại Ủy ban nhân dân phường C thì Ủy ban không rõ việc mâu thuẫn gia đình của bà N, ông N1. Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án, ông N1 không tham gia để giải quyết vụ án, không đưa ra giải pháp để xây dựng gia đình hạnh phúc. Bà N vẫn cương quyết yêu cầu được ly hôn. Đây là cơ cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà N, ông N1 là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, là điều kiện để giải quyết cho ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Do đó, yêu cầu ly hôn của bà N đối với ông N1 là có cơ sở để chấp nhận.
[2.2] Về con chung và cấp dưỡng:
- Về con chung: Căn cứ vào lời trình bày của bà N và tài liệu có trong hồ sơ, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Bà N, ông N1 có 01 con chung tên Đoàn Ngọc Bảo N2, sinh ngày 14/10/2013. Bà N yêu cầu được nuôi con chung tên Đoàn Ngọc Bảo N2 và không yêu cầu ông N1 cấp dưỡng nuôi con.
Hội đồng xét xử xét thấy: Trên thực tế bà Nguyễn Thị Bảo N là người trực tiếp chăm sóc, giáo dục con chung, và có đủ điều kiện để nuôi dưỡng con chung. Ngoài ra nguyện vọng của trẻ Nguyễn Ngọc Bảo N3 mong muốn được sống với bà N. Do đó để tạo điều kiện cho trẻ có đầy đủ điều kiện phát triển về mặt thể chất lẫn tinh thần, Hội đồng xét xử quyết định giao con chung cho bà Nguyễn Thị Bảo N nuôi dưỡng và giáo dục.
Đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của bà N không yêu cầu ông N1 cấp dưỡng nuôi con.
Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đối với quan hệ hôn nhân, con chung là phù hợp nên được chấp nhận.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[3] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 266, Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 9, Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 71, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014, 2018;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Q;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Bà Nguyễn Thị Bảo N:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Bảo N được ly hôn với ông Đoàn Đình N1. Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Bảo N và ông Đoàn Đình N1 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 50/2013, Quyển số 01/2013 do Ủy ban nhân dân phường C, Quận B (nay là Thành phố T) cấp ngày 15/6/2013 chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: Giao con chung tên Đoàn Ngọc Bảo N2, sinh ngày 14/10/2013 cho bà Nguyễn Thị Bảo N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Ghi nhận sự tự nguyện của bà N không yêu cầu ông N1 cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ tôn trọng quyền của con được sống chung với người trực tiếp nuôi; có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu người không trực tiếp nuôi con thực hiện các nghĩa vụ nêu trên; yêu cầu người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình tôn trọng quyền được nuôi con của mình.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức theo qui định của pháp luật, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con.
Quyền, nghĩa vụ của bà N, ông N1 trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại các Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 và Điều 110 của Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Về tài sản chung, nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
2. Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:
Nguyên đơn – Bà Nguyễn Thị Bảo N phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đồng (Ba trăm nghìn) đồng nhưng được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm mà bà N đã nộp là 300.000đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0025740 ngày 20/3/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức. Bà N đã nộp đủ án phí.
3. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hoặc được niêm yết bản án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Ngọc Hiếu |
Bản án số 4370/2024/HNGĐ-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 4370/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bà B yêu cầu ly hôn ông N
