TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 437/2025/HS-PT
Ngày: 13 - 6 - 2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phạm Công Mười |
| Các Thẩm phán: | Ông Chung Văn Kết |
| Ông Hoàng Minh Thịnh |
- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Linh Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 1166/2024/TLPT-HS ngày 16 tháng 12 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị Cẩm Y do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 75/2024/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
* Bị cáo kháng cáo:
Nguyễn Thị Cẩm Y, sinh ngày 20 tháng 12 năm 1954, tại tỉnh An Giang; nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Số C, khóm P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Nguyên Chủ tịch HĐQT Quỹ tín dụng nhân dân P1; trình độ văn hóa: 12/12; giới tính: Nữ; dân tộc: kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Võ Thị S; chồng Đặng Bạch Đ và có 02 con. Tiền án, tiền sự: không.
Nhân thân: Năm 1994 làm việc tại Quỹ tín dụng nhân dân P, đến năm 2917 nghỉ việc cho đến nay.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 01/7/2022 đến ngày 19/01/2023; được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp bảo lĩnh. Bị cáo đang tại ngoại, có đơn xin xét xử văng mặt.
Luật sư bào chữa cho bị cáo Y: Luật sư Hồ Hoàng P – Đoàn Luật sư tỉnh A, có mặt.
(Trong vụ án còn có 02 bị cáo Nguyễn Ngọc Thanh H, Phạm Phương T1, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Quỹ tín dụng nhân dân P1 (viết tắt là P1) có trụ sở đặt tại địa chỉ: số B, đường T, ấp P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang, được thành lập theo Quyết định số 39/QĐ-NH ngày 29/3/1994 của Ngân hàng N4 - Chi nhánh tỉnh A, do các cá nhân góp vốn kinh doanh ngành nghề: tiền tệ, tín dụng và các dịch vụ ngân hàng phục vụ sản xuất, kinh doanh cải thiện đời sống của các thành viên Quỹ tín dụng. Trong đó Nguyễn Thị Cẩm Y là Chủ tịch Hội đồng quản trị, Nguyễn Ngọc Thanh H là Giám đốc.
Từ năm 2009 đến năm 2016, Nguyễn Thị Cẩm Y và Nguyễn Ngọc Thanh H đã chỉ đạo cho các nhân viên gồm: Phạm Phương T1, Đởm Hùng K, Nguyễn Trường G (cán bộ tín dụng), Lê Văn V (kế toán), Nguyễn Thị Kim L (thủ quỹ) làm trái các quy định cho vay trong hoạt động tín dụng như: lập hồ sơ vay vốn không đúng quy trình nghiệp vụ tín dụng, hồ sơ không có thông tin pháp lý về điều kiện vay vốn của khách hàng, nâng khống giá trị tài sản bảo đảm, không thực hiện việc đăng ký giao dịch bảo đảm, lập 08 hồ sơ vay vốn để Nguyễn Ngọc Thanh H duyệt hồ sơ vay, Nguyễn Thị Cẩm Y duyệt tờ trình (đối với hợp đồng vay vốn trên 40.000.000 đồng phải được Y duyệt thống nhất phát vay) cho người không có tên trong hợp đồng vay là Nguyễn Thị Cẩm Y và Nguyễn Ngọc Thanh H1 (thành viên Hội đồng quản trị) nhận số tiền vốn vay tổng cộng 2.258.000.000 đồng. Tính đến ngày 14/3/2022, trước khi khởi tố vụ án thì Y và H1 đã trả nợ gốc được 833.600.000 đồng (trong đó có 02 hợp đồng vay đã trả hết nợ vốn), còn thiệt hại cho Quỹ tín dụng Phú H2 số tiền vốn gốc 1.424.400.000 đồng, trong đó:
* Nguyễn Thị Cẩm Y đã chỉ đạo Nguyễn Ngọc Thanh H và cấp dưới lập 05 hợp đồng tín dụng để Y sử dụng 05 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên người khác thế chấp vay vốn tại Quỹ tín dụng P và Y ký giả chữ ký của 05 khách hàng (là người đứng tên các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Nguyễn Thị H3, Danh Thị G1, Đặng Huỳnh N, Nguyễn Lệ D, Nguyễn Thị H4, để nhận số tiền vốn vay là 1.470.000.000 đồng. Trước khi khởi tố vụ án (trước ngày 14/3/2022) Y đã trả xong vốn gốc 500.000.000 đồng của hợp đồng tín dụng ngày 15/01/2016, còn gây thiệt hại cho Quỹ tín dụng P số tiền vốn vay 970.000.000 đồng của 04 hợp đồng. Sau khi bị khởi tố điều tra, Y trả 140.000.000 đồng nhưng do Quỹ tín dụng Phú H2 không đồng ý nhận nên đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền trên để khắc phục hậu quả, cụ thể:
- - Ngày 02/12/2010, Nguyễn Thị Cẩm Y được Nguyễn Thị H3 cho mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01098QSDĐ/FA ngày 03/7/1995, diện tích 7.218 m² mang tên H3 có giá trị 288.720.000 đồng để thế chấp vay tiền tại Quỹ tín dụng P, Y kêu H chỉ đạo cho cán bộ tín dụng là Đởm Hùng K làm Hợp đồng tín dụng số 454/10K/HDTD ngày 02/12/2010 mang tên khách hàng Nguyễn Thị H3, nâng khống giá trị tài sản thế chấp là 400.000.000 đồng và không thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định, để Y ký giả chữ ký của H3 trên hồ sơ vay và H ký duyệt hợp đồng vay và Y ký duyệt tờ trình phát vay cho Y nhận số tiền 200.000.000 đồng. Tính đến ngày 14/3/2022, Y còn trả nợ gốc 200.000.000 đồng.
- - Ngày 20/05/2010, Nguyễn Thị Cẩm Y sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00870/bH ngày 20/12/2005, diện tích 172,4m² của Danh Thị G1 và Huỳnh Thanh L1 (do G1 vay mượn tiền của Y và giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Y giữ) có giá trị 41.376.000 đồng để thế chấp vay tiền tại Quỹ tín dụng P. Y kêu H chỉ đạo cho cán bộ tín dụng Đởm Hùng K làm Hợp đồng tín dụng số 459/10DV/HDT ngày 20/05/2010 tên khách hàng Danh Thị G1 và nâng khống giá trị tài sản thế chấp lên 600.000.000 đồng và không thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định, Y ký giả chữ ký, chữ viết họ tên của Giữ trên hồ sơ vay cho H ký duyệt và Y ký duyệt tờ trình phát vay cho Y nhận số tiền 300.000.000 đồng. Tính đến ngày 14/3/2022, Y còn nợ gốc 300.000.000 đồng.
- - Ngày 12/01/2016, Nguyễn Thị Cẩm Y sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01647QSDĐ/1H ngày 20/10/1992, diện tích 2.764m² của Nguyễn Lệ D (do D vay mượn tiền của Y và giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho Y giữ) có giá trị 96.740.000 đồng để thế chấp vay tiền tại Quỹ tín dụng P. Y kêu H chỉ đạo cho cán bộ tín dụng Phạm Phương T1 làm Hợp đồng tín dụng số 04/16DPH/HD ngày 12/01/2016 tên khách hàng Nguyễn Lệ D và nâng khống giá trị tài sản thế chấp lên 360.000.000 đồng và không thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định, Y ký giả chữ ký tên khách hàng Nguyễn Lệ D trên hồ sơ vay để H ký duyệt, Y ký duyệt tờ trình phát vay cho Y nhận số tiền 250.000.000 đồng sử dụng vào mục đích cá nhân. Tính đến ngày khởi tố vụ án (ngày 14/3/2022), Y vẫn còn nợ tiền vốn vay 250.000.000 đồng.
- - Ngày 13/01/2016, Nguyễn Thị Cẩm Y sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01509QSDĐ/1H ngày 20/10/1992, diện tích 2.772m² của Nguyễn Thị H4 (H4 đồng ý cho Y mượn để vay vốn) có giá trị 97.020.000 đồng để thế chấp vay tiền tại Quỹ tín dụng P. Y kêu H chỉ đạo cho cán bộ tín dụng Phạm Phương T1 làm Hợp đồng tín dụng số 07/16/DVK/HDT ngày 13/01/2016, tên khách hàng Nguyễn Thị H4, nâng khống giá trị tài sản thế chấp lên 320.000.000 đồng và không thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định, rồi đưa cho Đởm Hùng K ký với tư cách cán bộ thẩm định tài sản thế chấp để H, Y ký duyệt hồ sơ phát vay và Y ký chữ ký tên H4 trên các chứng từ nhận số tiền 220.000.000 đồng sử dụng vào mục đích cá nhân. Tính đến ngày khởi tố vụ án (ngày 14/3/2022), Y vẫn còn nợ tiền vốn vay 220.000.000 đồng.
- - Ngày 15/01/2016, Nguyễn Thị Cẩm Y sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00831QSDĐ/bH ngày 11/9/1991, diện tích 12.150m² của Đặng Huỳnh N (N đồng ý cho Y mượn để vay vốn) có giá trị 437.400.000 đồng để thế chấp vay tiền tại Quỹ tín dụng P. Y kêu H chỉ đạo cho cán bộ tín dụng Nguyễn Trường G làm Hợp đồng tín dụng số 12/16DPT/HDT ngày 15/01/2016, tên khách hàng Đặng Huỳnh N, G thẩm định nâng khống giá trị tài sản thế chấp lên 720.000.000 đồng và không thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định, Y ký chữ ký, chữ viết họ tên của N trên trên hồ sơ vay để H, Y ký duyệt hồ sơ phát vay cho Y nhận số tiền 500.000.000 đồng sử dụng vào mục đích cá nhân. Trước ngày khởi tố vụ án (ngày 14/3/2022), Y đã trả hết vốn vay, còn nợ tiền lãi theo yêu cầu của Quỹ Tín dụng P1 đến ngày 14/7/2021 là 239.481.753 đồng.
* Vào các năm 2009 và năm 2010, Nguyễn Ngọc Thanh H được sự đồng ý của Nguyễn Thị Cẩm Y, đã chỉ đạo cấp dưới lập 03 hợp đồng tín dụng cho Nguyễn Ngọc Thanh H1 ký chữ ký tên của 03 khách hàng (Nguyễn Văn N1, Lương Văn S1, Trần Lê T2 là người đứng tên các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) để phát vay cho H1 nhận tổng số tiền vốn là 788.000.000 đồng. Trước khi khởi tố vụ án (ngày 14/3/2022) H1 đã trả vốn gốc được 333.600.000 đồng (trong đó hợp đồng tín dụng ngày 14/01/2010 đã trả hết số tiền vốn gốc 280.000.000 đồng), còn thiệt hại cho Quỹ tín dụng Phú H2 số tiền vốn của 02 hợp đồng là 454.400.000 đồng. Sau khi khởi tố vụ án, H1 đã trả hết vốn vay là 454.400.000 đồng, nhưng do Quỹ tín dụng Phú H2 không đồng ý nhận nên đã tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra số tiền trên để khắc phục hậu quả, cụ thể:
- - Ngày 26/11/2009, Nguyễn Ngọc Thanh H1 sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 03469QSDĐ/bH ngày 18/4/2001, diện tích 326m² mang tên Nguyễn Văn N1 (N1 nợ tiền của H1 và giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho H1 làm tin) có giá trị 32.600.000 đồng và ký chữ ký tên của N1 làm thủ tục thế chấp vay vốn tại Quỹ tín dụng P với số tiền 270.000.000 đồng. Biết H1 sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải của H1 và ký chữ ký tên của Nguyễn Văn N1 trong hợp đồng vay nhưng Y và H vẫn đồng ý và chỉ đạo cho cán bộ tín dụng Đởm Hùng K làm Hợp đồng tín dụng số 91/09K/HDTD ngày 26/11/2009 tên khách hàng Nguyễn Văn N1, nâng khống giá trị tài sản thế chấp lên 386.000.000 đồng và không thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định, để H ký duyệt hồ sơ vay, Y duyệt tờ trình cho H1 nhận vốn vay số tiền 270.000.000 đồng. Tính đến ngày khởi tố vụ án (ngày 14/3/2022), H1 còn nợ vốn vay là 270.000.000 đồng.
- - Ngày 24/9/2010, Nguyễn Ngọc Thanh H1 sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00041/bH ngày 11/5/2005, diện tích 492m² mang tên Lương Văn S1 và Trịnh Thị D1 (Sửa chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho H1 và đưa cho H1 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất làm thủ tục tách thửa) có giá trị 94.932.000 đồng và ký chữ ký tên của D1 làm thủ tục thế chấp vay vốn tại Quỹ tín dụng P với số tiền 238.000.000 đồng. Biết H1 giả chữ ký khách hàng nhưng Y, H vẫn đồng ý và chỉ đạo cho Đởm Hùng K làm Hợp đồng tín dụng số 673/10/DV/HDT ngày 24/9/2010 tên khách hàng Lương Văn S1, nâng khống giá trị tài sản thế chấp lên 480.000.000 đồng và không thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định, để H ký duyệt hồ sơ, Y ký duyệt tờ trình phát vay cho H1 nhận số tiền 238.000.000 đồng. Tính đến ngày khởi tố vụ án (ngày 14/3/2022), H1 đã trả vốn vay được 53.600.000 đồng, còn nợ vốn vay là 184.400.000 đồng.
- - Ngày 14/01/2010, Nguyễn Ngọc Thanh H1 sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0082QSDĐ/bH ngày 08/10/1993, diện tích 9.346m² của Trần Lợi T3 (do T3 vay mượn tiền của H1 và giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho H1 giữ) có giá trị 196.266.000 đồng, ký chữ ký, chữ viết họ tên của T3 làm thủ tục thế chấp vay vốn tại Quỹ tín dụng P với số tiền 280.000.000 đồng. Biết H1 giả chữ ký khách hàng nhưng Y, H vẫn đồng ý và chỉ đạo cho cán bộ tín dụng Đởm Hùng K làm Hợp đồng tín dụng số 01/10K/HDTD ngày 14/01/2010, tên khách hàng Trần Lê T2 (hồ sơ chỉ có hợp đồng vay thể hiện tài sản thế chấp có giá trị 410.000.000 đồng, không có hợp đồng thế chấp tài sản) và không thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định để H1 nhận số tiền vốn 280.000.000 đồng sử dụng vào mục đích cá nhân. Tính đến ngày khởi tố vụ án (ngày 14/3/2022), H1 trả hết nợ vốn vay, còn nợ lãi theo yêu cầu của Quỹ tín dụng là 417.391.333 đồng.
Ngoài ra, Nguyễn Ngọc Thanh H còn chỉ đạo cho Thủ kho Võ Thị Thanh T4 xuất trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là tài sản thế chấp bảo đảm nợ vay của Hợp đồng tín dụng số 93/09K/HDTD ngày 25/12/2009 mang tên khách hàng Nguyễn Thị E là chưa đúng quy định pháp luật.
Ngày 10/6/2020, Ngân hàng N4 Chi nhánh tỉnh A có văn bản Kiến nghị khởi tố vụ án. Ngày 28/6/2022 Nguyễn Thị Cẩm Y và Nguyễn Ngọc Thanh H bị khởi tố điều tra. Ngày 14/3/2023 Phạm Phương T1 bị khởi tố điều tra.
Sau khi khởi tố điều tra, Nguyễn Ngọc Thanh H đã tự nguyện nộp khắc phục hậu quả số tiền 150.000.000 đồng. Phạm Phương T1 đã tự nguyện nộp khắc phục hậu quả số tiền 50.000.000 đồng.
* Căn cứ Kết luận giám định số 76/KLGT-PC09(TL) ngày 11/6/2021 của Phòng K1 - Công an tỉnh A, xác định:
- - Chữ ký “Hằng” và chữ viết “Nguyễn Thị H3”; chữ ký “giữ”; chữ ký “nga”; chữ ký mang tên Nguyễn Lệ D; chữ ký “huệ” trên tài liệu cần giám định so với chữ ký và chữ viết của Nguyễn Thị Cẩm Y trên tài liệu mẫu so sánh là cùng một người ký và viết ra.
- - Chữ viết “Đặng Huỳnh N”, “Nguyễn Lệ D” và “Nguyễn Thị H4” trên tài liệu cần giám định so với chữ viết của Nguyễn Thị Cẩm Y trên tài liệu mẫu so sánh không phải là cùng một người viết ra.
- - Chữ ký “Hằng” và chữ viết “Nguyễn Thị H3”; chữ ký “giữ”; chữ ký “nga” và chữ viết “Đặng Huỳnh N”; chữ ký mang tên Nguyễn Lệ D và chữ viết “Nguyễn Lệ D”; chữ ký “huệ” và chữ viết “Nguyễn Thị H4” trên tài liệu cần giám định so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Thị H3, Danh Thị G1, Đặng Huỳnh N, Nguyễn Lệ D, Nguyễn Thị H4 trên tài liệu mẫu so sánh không phải là cùng người ký và viết ra.
- - Chữ ký và chữ viết “Lương Văn S1” trên tài liệu cần giám định so với chữ ký, chữ viết của Lương Văn S1 trên tài liệu mẫu so sánh không phải là cùng một người ký và viết ra.
- - Chữ ký mang tên Nguyễn Văn N1 trên tài liệu cần giám định so với chữ ký của Nguyễn Văn N1 trên tài liệu mẫu so sánh không phải là cùng một người ký ra.
- - Không giám định chữ ký và chữ viết “Trần Lê T2” trên tài liệu cần giám định.
* Căn cứ Kết luận định giá tài sản số 92/KL-HĐĐG.TTHS ngày 17/6/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự tỉnh An Giang, xác định:
- - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01098QSDĐ/FA ngày 03/7/1995, diện tích 7.218 m² của Nguyễn Thị H3, giá trị tài sản tại thời điểm (cho vay) ngày 02/12/2010 là 288.720.000 đồng và giá trị tài sản tại thời điểm (hiện nay) ngày 27/5/2021 là 433.080.000 đồng.
- - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01509QSDĐ/1H ngày 20/10/1992, diện tích 2.772 m² của Nguyễn Thị H4, giá trị tài sản tại thời điểm (cho vay) ngày 13/01/2016 là 97.020.000 đồng và giá trị tài sản tại thời điểm (hiện nay) ngày 27/5/2021 là 116.424.000 đồng.
- - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01647QSDĐ/lH ngày 20/10/1992, diện tích 2.764 m² của Nguyễn Lệ D, giá trị tài sản tại thời điểm ngày (cho vay) 12/01/2016 là 96.740.000 đồng và giá trị tài sản tại thời điểm (hiện nay) ngày 27/5/2021 là 116.088.000 đồng.
- - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00870/bH ngày 20/12/2005, diện tích 172,4 m² của Danh Thị G1 và Huỳnh Thanh L1, giá trị tài sản tại thời điểm (cho vay) ngày 20/5/2010 là 41.376.000 đồng và giá trị tài sản tại thời điểm (hiện nay) ngày 28/5/2021 là 34.480.000 đồng.
- - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00041/bH ngày 11/5/2005, diện tích 492 m² của Lương Văn S1 và Trịnh Thị D2, giá trị tài sản tại thời điểm (cho vay) ngày 20/5/2010 là 94.932.000 đồng và giá trị tài sản tại thời điểm (hiện nay) ngày 28/5/2021 là 99.630.000 đồng.
- - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 03469QSDĐ/bH ngày 18/4/2001, diện tích 326 m² của Nguyễn Văn N1, giá trị tài sản tại thời điểm (cho vay) ngày 26/11/2009 là 32.600.000 đồng và giá trị tài sản tại thời điểm (hiện nay) ngày 28/5/2021 là 32.600.000 đồng.
- - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00831QSDĐ/bH ngày 11/9/1991, diện tích 12.150 m² của Đặng Huỳnh N, giá trị tài sản tại thời điểm (cho vay) ngày 15/01/2016 là 437.400.000 đồng và giá trị tài sản tại thời điểm (hiện nay) ngày 28/5/2021 là 437.400.000 đồng.
- - Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00802QSDĐ/bH ngày 08/10/1993, diện tích 9.346 m² của Trần Lê T2 (Trần Lợi C), giá trị tài sản tại thời điểm (cho vay) ngày 14/01/2010 là 196.266.000 đồng và giá trị tài sản tại thời điểm (hiện nay) ngày 28/5/2021 là 327.110.000 đồng.
* Căn cứ Kết luận giám định số 1333/ANG-TTGSNH ngày 27/12/2021 của Ngân hàng N4 – Chi nhánh tỉnh A, xác định:
- - Hợp đồng tín dụng số 454/10K/HDTD ngày 02/12/2010 khách hàng Nguyễn Thị H3 vay số tiền 200.000.000 đồng; Hợp đồng tín dụng số 459/10DV/HDT ngày 20/5/2010, khách hàng Danh Thị G1 vay số tiền 300.000.000 đồng; Hợp đồng tín dụng số 12/16DPT/HDT ngày 15/01/2016, khách hàng Đặng Huỳnh N vay số tiền vay 500.000.000 đồng; Hợp đồng tín dụng số 04/16DPH/HD ngày 12/01/2016, khách hàng Nguyễn Lệ D vay số tiền 250.000.000 đồng; Hợp đồng tín dụng số 07/16/DVK/HDT ngày 13/01/2016, khách hàng Nguyễn Thị H4 vay số tiền 220.000.000 đồng; Hợp đồng tín dụng số 673/10DV/HDT ngày 24/9/2010, khách hàng Lương Văn S1 vay số tiền 238.000.000 đồng; Hợp đồng tín dụng số 91/09K/HDTD ngày 26/11/2009, khách hàng Nguyễn Văn N1 vay số tiền 270.000.000 đồng; Hợp đồng tín dụng số 01/10K/HDTD ngày 14/01/2010, khách hàng Trần Lê T2 vay số tiền 280.000.000 đồng, có vi phạm sau:
- + Hồ sơ vay vốn không lưu trữ thông tin về nhân thân của khách hàng; không có các thông tin, chứng từ chứng minh khách hàng đủ điều kiện vay vốn; không xem xét, đánh giá tính khả thi, hiệu quả của phương án và khả năng hoàn trả nợ vay của khách hàng để đề xuất cho vay là thực hiện chưa đầy đủ quy định tại Điều 7, khoản 1 Điều 14, khoản 2 Điều 15 Quy chế cho vay ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN.
- + Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất không có chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của UBND xã, phường, thị trấn nơi có đất và không thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật, thực hiện chưa đúng quy định tại khoản 1 Điều 12 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm, khoản 1 Điều 130 Luật đất đai ngày 26/11/2003 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 34/2009/QH12 ngày 18/6//2009 và khoản 1 Điều 179 Bộ luật dân sự năm 2005.
- + Không thực hiện đầy đủ theo các nội dung hướng dẫn về thẩm định về quyết định cho vay; về kiểm tra, giám sát vốn vay; chuyển nợ quá hạn chưa thực hiện đúng khoản 1 Điều 21 Quy chế cho vay ban hành kèm theo Quyết định số 1627/2001/QĐ-NHNN; khoản 5 Điều 2, Điều 5, Điều 6 Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng N4 quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng; Điểm 14 và Điểm 19 văn bản số 44/CV-TDTH ngày 18/02/2003 của ngân hàng N4.
- + Không có các tài liệu, chứng từ chứng minh cá nhân đứng tên trên hồ sơ vay vốn đáp ứng điều kiện là thành viên của Quỹ tín dụng nhân dân để được cho vay theo quy định tại tiết a điểm 2.1 khoản 2 Mục II và tiết a điểm 11.2 khoản 11 Mục II Thông tư số 08/2005/TT-NHNN; khoản 1 Điều 31, khoản 1, 4, 5 Điều 37 Thông tư số 04/2015/TT-NHNN.
- Trách nhiệm các cá nhân có liên quan đến việc lập hồ sơ, thẩm định, quyết định cho vay, kiểm tra, giám sát sử dụng vốn vay: Cán bộ tín dụng Đởm Hùng K, Phạm Phương T1, Nguyễn Trường G; Giám đốc Nguyễn Ngọc Thanh H; Chủ tịch Hội đồng quản trị Nguyễn Thị Cẩm Y. Trong đó:
- + Cán bộ tín dụng Đởm Hùng K chịu trách nhiệm đối với Hợp đồng tín dụng số 454/10K/HDTD ngày 02/12/2010 khách hàng Nguyễn Thị H3; Hợp đồng tín dụng số 459/10DV/HDT ngày 20/5/2010, khách hàng Danh Thị G1; Hợp đồng tín dụng số 07/16/DVK/HDT ngày 13/01/2016, khách hàng Nguyễn Thị H4; Hợp đồng tín dụng số 673/10DV/HDT ngày 24/9/2010, khách hàng Lương Văn S1; Hợp đồng tín dụng số 91/09K/HDTD ngày 26/11/2009, khách hàng Nguyễn Văn N1.
- + Cán bộ tín dụng Nguyễn Trường G chịu trách nhiệm đối với Hợp đồng tín dụng số 12/16DPT/HDT ngày 15/01/2016, khách hàng Đặng Huỳnh N.
- + Cán bộ tín dụng Phạm Phương T1 chịu trách nhiệm đối với Hợp đồng tín dụng số 04/16DPH/HD ngày 12/01/2016, khách hàng Nguyễn Lệ D; Hợp đồng tín dụng số 07/16/DVK/HDT ngày 13/01/2016, khách hàng Nguyễn Thị H4.
- + Giám đốc Nguyễn Ngọc Thanh H chịu trách nhiệm đối với các hợp đồng tín dụng gồm: Hợp đồng tín dụng số 459/10DV/HDT ngày 20/5/2010, khách hàng Danh Thị G1; Hợp đồng tín dụng số 12/16DPT/HDT ngày 15/01/2016, khách hàng Đặng Huỳnh N; Hợp đồng tín dụng số 04/16DPH/HD ngày 12/01/2016, khách hàng Nguyễn Lệ D; Hợp đồng tín dụng số 07/16/DVK/HDT ngày 13/01/2016, khách hàng Nguyễn Thị H4; Hợp đồng tín dụng số 673/10DV/HDT ngày 24/9/2010, khách hàng Lương Văn S1; Hợp đồng tín dụng số 91/09K/HDTD ngày 26/11/2009, khách hàng Nguyễn Văn N1; Hợp đồng tín dụng số 01/10K/HDTD ngày 14/01/2010, khách hàng Trần Lê T2 .
- + Chủ tịch Hội đồng quản trị Nguyễn Thị Cẩm Y chịu trách nhiệm đối với Hợp đồng tín dụng số 454/10K/HDTD ngày 02/12/2010 khách hàng Nguyễn Thị H3; Hợp đồng tín dụng số 12/16DPT/HDT ngày 15/01/2016, khách hàng Đặng Huỳnh N; Hợp đồng tín dụng số 04/16DPH/HD ngày 12/01/2016, khách hàng Nguyễn Lệ D; Hợp đồng tín dụng số 07/16/DVK/HDT ngày 13/01/2016, khách hàng Nguyễn Thị H4; Hợp đồng tín dụng số 91/09K/HDTD ngày 26/11/2009, khách hàng Nguyễn Văn N1.
- - Việc xuất trả lại tài sản thế chấp bảo đảm nợ vay khi chưa tất nợ lãi tiền vay liên quan đến Hợp đồng tín dụng số 93/09K/HDTD ngày 25/12/2009, khách hàng Nguyễn Thị E là chưa đúng các quy định: khoản 2 Điều 179 Bộ luật Dân sự năm 2005; khoản 1, 2 Điều 38 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010. Trách nhiệm các cá nhân liên quan: Giám đốc Nguyễn Ngọc Thanh H; Kiểm ngân, Thủ kho Võ Thị Thanh T4.
* Lời khai của Võ Thanh N2 (Giám đốc – Đại diện Quỹ tín dụng P2):
Trong thời gian công tác tại Quỹ tín dụng P, Nguyễn Thị Cẩm Y và Nguyễn Ngọc Thanh H chỉ đạo cấp dưới lập 08 hợp đồng tín dụng và chứng từ vay vốn không đúng quy định để Y nhận số tiền vốn vay 1.470.000.000 đồng, Nguyễn Ngọc Thanh H1 nhận số tiền vốn vay 788.000.000 đồng. Đến trước ngày 14/3/2022, Y và H1 nộp trả cho Q tín dụng P số tiền vốn vay 833.600.000 đồng (Y trả 500.000.000 đồng, H1 trả 333.600.000 đồng). Sau khi Y bị khởi tố điều tra, Y đã nộp thêm số tiền 140.000.000 đồng, H1 nộp 454.400.000 đồng cho Cơ quan điều tra để trả số tiền vốn còn nợ, nhưng Q tín dụng không đồng ý nhận số tiền này.
Nay Quỹ tín dụng còn thiệt hại vốn vay là 1.424.400.000 đồng (trong đó Y 970.000.000 đồng, H1 454.400.000 đồng) và tiền lãi tính đến ngày 27/9/2024 của 08 hợp đồng là 5.210.000.000đồng (trong đó của Y là 3.243.000.000đồng; của H1 là 1.967.000.000đồng). Yêu cầu Y, H, H1 phải chịu trách nhiệm cùng liên đới trả vốn, lãi là: 6.635.000.000đ.
Ngoài ra, Quỹ tín dụng P còn đang giữ 06 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tên Danh Thị G1, Nguyễn Lệ D, Đặng Huỳnh N, Nguyễn Thị H3, Lương Văn S1, Nguyễn Văn N1 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 01509QSDD/1H ngày 20/10/1992, diện tích 2.772m² do Nguyễn Thị H4 (em ruột Y) đứng tên, do H4 tự nguyện giao để khắc phục số tiền còn lại.
* Lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng
- - Đởm Hùng K (nguyên cán bộ Quỹ tín dụng P), khai: K thực hiện theo chỉ đạo của Y và H lập 05 Hợp đồng tín dụng, nâng khống giá trị thực tế của tài sản đối với các khách hàng Nguyễn Thị H3, Danh Thị G1, Lương Văn S1, Nguyễn Văn N1, Trần Lợi C để Y và H1 ký chữ ký khách hàng trên hồ sơ, để giải ngân cho Y và H1 nhận tổng số tiền vay của 05 hợp đồng là 1.288.000.000 đồng. Ngoài ra, Phạm Phương T1 còn đưa cho K ký với tư cách cán bộ thẩm định đối với Hợp đồng tín dụng của khách hàng Nguyễn Thị H4 để giải ngân với số tiền 220.000.000 đồng, K không biết T1 làm hồ sơ vay vốn không đúng quy định.
- - Nguyễn Trường G (nguyên cán bộ Quỹ tín dụng P), khai: G thực hiện theo sự chỉ đạo của Nguyễn Thị Cẩm Y, Nguyễn Ngọc Thanh H lập 01 hồ sơ vay vốn không đúng quy định, nâng khống giá trị tài sản thế chấp để cho Nguyễn Thị Cẩm Y vay với tổng số tiền 500.000.000 đồng. Tính đến ngày 14/3/2022, Y đã trả hết vốn gốc như nội dung vụ án đã nêu.
- - Nguyễn Ngọc Thanh H1 khai: Năm 2009 – 2010, do cần tiền trả các khoản nợ làm ăn thua lỗ, H1 đã sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên sở hữu của Nguyễn Văn N1, Trần Lợi C (N1 và C nợ tiền của H1 nên đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho H1 giữ làm tin) và Lương Văn S1 (Sửa đưa Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho H1 làm thủ tục tách thửa) để nhờ em ruột là Nguyễn Ngọc Thanh H (Giám đốc Quỹ tín dụng P) và Nguyễn Thị Cẩm Y duyệt cho vay vốn. Sau đó H1 ký giả chữ ký của khách hàng để nhận số vốn vay của 03 hợp đồng tổng cộng số tiền 788.000.000 đồng như nội dung vụ án đã nêu. Đến nay H1 đã trả hết vốn gốc cho Quỹ tín dụng P.
- - Nguyễn Thị Kim L (thủ quỹ Quỹ tín dụng P2), khai: Thực hiện theo chỉ đạo của Nguyễn Ngọc Thanh H giải ngân cho Nguyễn Thị Cẩm Y và Nguyễn Ngọc Thanh H1 nhận tiền vay, L không kiểm tra, đối chiếu tính hợp lệ, hợp pháp của chứng từ trước khi giải ngân. L không hưởng lợi.
- - Nguyễn Thị H4, Nguyễn Lệ D, Đặng Huỳnh N (em ruột và chị dâu của Nguyễn Thị Cẩm Y), trình bày: Có cho Y mượn giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để Y làm thủ tục thế chấp vay vốn tại Quỹ tín dụng P như nội dung vụ án đã nêu. H4, D, N tự nguyện giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để Y khắc phục hậu quả.
- - Danh Thị G1, Nguyễn Thị H3, trình bày: Có vay tiền của Y và giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do G1, H3 đứng tên cho Y để làm tin. Việc Y sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của G1, H3 để vay vốn tại Quỹ tín dụng P thì G1, H3 không biết và yêu cầu trả lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- - Lương Văn S1, trình bày: Sửa có đưa giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do S1 đứng tên cho H1 giữ nhưng H1 không trả lại nên S1 làm thủ tục báo mất giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và được cấp lại ngày 31/5/2013. Sửa không có thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay vốn tại Quỹ tín dụng P.
- - Nguyễn Văn N1, trình bày: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 03469QSDĐ/bH ngày 18/4/2001 N1 bị mất khoảng năm 2009, đã làm thủ tục cấp lại giấy mới theo quy định. N1 không có thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để vay vốn tại Quỹ tín dụng P.
- - Trần Lợi C (Trần Lê T2), trình bày: Vợ chồng C có vay của H1 10.000.000 đồng và giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho H1 giữ. Việc H1 sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của C để vay vốn tại Quỹ tín dụng P thì C không biết. Hiện C đã nhận lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- - Nguyễn Thị Ú, Lương Thị Bích T5, Vương Thị H5, Nguyễn Ngọc T6, Nguyễn Thị E, Võ Thị Thanh T4, Võ Phước D3, Đặng Thị Cẩm U, Nguyễn Văn N3, trình bày phù hợp với nội dung vụ án.
* Quá trình điều tra, các bị can Nguyễn Thị Cẩm Y, Nguyễn Ngọc Thanh H, Phạm Phương T1 thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với lời khai của đại diện đơn vị bị thiệt hại, lời khai của những người liên quan, kết quả giám định, định giá tài sản và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại Cáo trạng số 47/CT-VKSAG-P1 ngày 02 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang đã truy tố:
Nguyễn Thị Cẩm Y, Nguyễn Ngọc Thanh H về tội “Vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng” theo khoản 3 Điều 206 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Phạm Phương T1 về tội “Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng” quy định tại khoản 1 Điều 179 Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được sửa đổi bổ sung năm 2009.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 75/2024/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang, quyết định:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Cẩm Y phạm tội “Vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng”.
[1] Căn cứ khoản 3 Điều 206; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Điều 38, Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Cẩm Y: 04 (bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án (có trừ thời gian bị cáo tạm giam trước từ ngày 01/7/2022 đến ngày 19/01/2023 là 6 tháng 18 ngày).
Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định tội danh và hình phạt đối với 02 bị cáo Nguyễn Ngọc Thanh H, Phạm Phương T1, trách nhiệm dân sự, về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo và việc thi hành án theo luật định.
Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 01/10/2024, bị cáo Nguyễn Thị Cẩm Y kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao phát biểu quan điểm như sau:
- - Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị Cẩm Y có đơn xin xét xử vắng mặt và cử Luật sư tham gia bào chữa, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị cáo theo quy định.
- - Về nội dung: Với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Y. Việc Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo mức án 04 năm tù là phù hợp và cần thiết. Đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo, giữ nguyên Bản án sơ thẩm.
- - Luật sư bào chữa cho bị cáo phát biểu quan điểm tranh luận như sau: Bị cáo là người có nhân thân tốt, là người cao tuổi hiện nay bị liệt do đột quỵ não; gia đình có công với cách mạng. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Thị Cẩm Y có đơn xin xét xử vắng mặt vì lý do bị đột quỵ não không thể di chuyển (có xác nhận của địa phương), nên Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận và tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị cáo theo điểm c khoản 2 Điều 290 của Bộ luật tố tụng hình sự.
[2] Về nội dung:
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Thị Cẩm Y kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo.
Căn cứ các chứng cứ đã thu thập, kết quả tranh tụng tại cấp sơ thẩm và phúc thẩm, đã có đủ cơ sở xác định:
Bị cáo Nguyễn Thị Cẩm Y trong thời gian từ năm 2009 đến năm 2016, với vai trò Chủ tịch Hội đồng quản trị Quỹ tín dụng P đã bàn bạc, cấu kết với Nguyễn Ngọc Thanh H là Giám đốc, Nguyễn Ngọc Thanh H1 là thành viên Hội đồng quản trị chỉ đạo các cán bộ tín dụng như Đởm Hùng K, Phạm Phương T1, Nguyễn Trường G; Lê Văn V (kế toán), Nguyễn Thị Kim L (Thủ quỹ), lập 08 hồ sơ vay vốn tại Quỹ tín dụng P, tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất đứng tên cá nhân: Nguyễn Thị H3, Danh Thị G1, Đặng Huỳnh N, Nguyễn Lệ D, Nguyễn Thị H4, Lương Văn S1, Nguyễn Văn N1, Trần Lê T2, các hợp đồng vay tín dụng này đều thực hiện không đúng quy trình nghiệp vụ tín dụng, nâng khống giá trị tài sản đảm bảo; tài sản thế chấp không đăng ký giao dịch đảm bảo; ký giả hợp đồng vay, hợp đồng thế chấp tài sản đã gây thiệt hại cho Quỹ tín dụng P số tiền 2.258.000.000đ tiền nợ gốc.
Cụ thể, bị cáo này đã chỉ đạo cán bộ tín dụng lập hồ sơ vay không đúng quy trình nghiệp vụ tín dụng, hồ sơ không có thông tin của khách hàng, chỉ đạo lập báo cáo thẩm định hồ sơ không đúng giá trị thực tế của tài sản thế chấp, chỉ đạo tự nâng khống giá trị tài sản thế chấp, không đăng ký giao dịch đảm bảo và ký duyệt cho Nguyễn Thị Cẩm Y vay, giả chữ ký tên, chữ viết tên người vay trong hợp đồng tín dụng và lĩnh tiền đối với 05 Hợp đồng gồm: Hợp đồng số 454 ngày 01/12/2010 tên khách hàng Nguyễn Thị H3 vay số tiền 200 triệu đồng. Hợp đồng số 459 ngày 20/52010 tên khách hàng Danh Thị G1 vay số tiền 300 triệu đồng. Hợp đồng số 12 ngày 15/01/2016 tên khách hàng Đặng Huỳnh N vay số tiền 500 triệu đồng. Hợp đồng số 04 ngày 12/01/2016 tên khách hàng Nguyễn Lệ D vay số tiền 250 triệu đồng và số 07 ngày 13/01/2016 tên khách hàng Nguyễn Thị H4 vay số tiền 220 triệu đồng đã gây thiệt hại với số tiền: 1.470.000.000đ, Nguyễn Thị Cẩm Y đã thừa nhận số nợ và sử dụng vào mục đích cá nhân.
[3] Hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Cẩm Y đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng”, quy định tại khoản 3 Điều 179 Bộ luật Hình sự năm 1999 đã được sửa đổi bổ sung năm 2009. Căn cứ Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội, về hiệu lực thi hành Bộ luật Hình sự 2015, thì tội “Vi phạm quy định về hoạt động Ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng” theo khoản 3 Điều 206 của Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định có lợi hơn (nhẹ hơn) so với khung hình tại khoản 3 Điều 179 Bộ luật Hình sự năm 1999; sửa đổi bổ sung năm 2009; (nặng hơn). Nên hành vi của Nguyễn Thị Cẩm Y, Nguyễn Ngọc Thanh H được truy tố, xét xử theo khoản 3 Điều 206 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị Cẩm Y thấy rằng: Bị cáo là người giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị điều hành, quản lý tất cả các bộ phận của Quỹ tín dụng, hiểu biết rõ theo quy định bắt buộc của các Tổ chức tín dụng về trình tự, thủ tục, thẩm quyền thực hiện giao dịch vay vốn; bản thân bị cáo chỉ đạo cấp dưới làm sai quy định, trực tiếp giả chữ ký của khách hàng trong hồ sơ vay vốn; giả chữ ký để nhận tiền; trực tiếp nhận tiền từ 05 hợp đồng vay với số tiền 1.470.000.000đ. Hành vi phạm tội của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quy định của Nhà nước về sự hoạt động Ngân hàng, tín dụng. Do vậy, việc cần phải xét xử bị cáo với một mức án nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội, mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung là hoàn toàn cần thiết.
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã có cân nhắc nhiều đối với bị cáo, theo đó mức hình phạt đã tuyên là có phần nhẹ do bị cáo là người chủ mưu, cầm đầu. Vì lẽ đó, bị cáo kháng cáo đề nghị tiếp tục giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo là không có cơ sở để chấp nhận.
[5] Đối với một số đối tượng liên quan có dấu hiệu đồng phạm, Tòa án cấp sơ thẩm đã trả hồ sơ điều tra bổ sung, tuy nhiên Viện kiểm sát cùng cấp vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, vì vậy Hội đồng xét xử sơ thẩm đã kiến nghị tiếp tục điều tra, làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật là phù hợp.
[6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[7] Do bị cáo là người cao tuổi, nên không phải chịu án phí phúc thẩm.
[8] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự.
Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Cẩm Y.
Giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm số 75/2024/HS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh An Giang.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Cẩm Y phạm tội “Vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng”.
Áp dụng khoản 3 Điều 206; điểm b, s, v khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Điều 38, Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Cẩm Y: 04 (bốn) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án (được trừ thời gian bị cáo tạm giam trước từ ngày 01/7/2022 đến ngày 19/01/2023 là 6 tháng 18 ngày).
- Về án phí: Bị cáo được miễn án phí phúc thẩm.
- Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Công Mười |
Bản án số 437/2025/HS-PT ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng
- Số bản án: 437/2025/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về hoạt động ngân hàng, hoạt động khác liên quan đến hoạt động ngân hàng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Y án
