TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 437/2024/HNGĐ-ST Ngày 16 tháng 7 năm 2024 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thành Thuận
- - Các Hội thẩm nhân dân: Ông Võ Thái Quân và ông Nguyễn Văn Ngân
- - Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Tuyết - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân chính thức: Ông Lưu Tiến Dũng – Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số: 44/2024/TLST-HNGĐ, ngày 23/01/2024 tranh chấp Hôn nhân và gia đình về “ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 310/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 03 tháng 6 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 177/2024/QÐST-HNGĐ, ngày 25/6/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Võ Thị Ngọc D, sinh năm 1988. Nơi cư trú: số A, tổ C, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.(đề nghị vắng mặt)
2. Bị đơn: Anh Trần Thanh T, sinh năm 1989. Nơi cư trú: số B, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang.(vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và biên bản hòa giải không được chị Võ Thị Ngọc D có lời trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: anh chị có tìm hiểu nhau khoảng thời gian 02 năm, được cha, mẹ đồng ý tiến tới hôn nhân vào năm 2020 và có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn tại xã P, huyện P, tỉnh An Giang. Quá trình chung sống với nhau hạnh phúc đến tháng 12 năm 2021 thì phát sinh nhiều mâu thuẫn với nhau. Lý do: vợ chồng bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống, chị D cho rằng anh T không quan tâm đến cuộc sống gia đình, cự cãi nhiều lần, anh T nhiều lần đánh đập chị với nguyên nhân khi anh T có rượu trong người, kiếm chuyện khi thấy đứa con chung thóc thì tự ý đánh, có lần khi đứa con chung bị cánh quạt chém trúng nên chị D có gửi bà ngoại của cháu trông nôm để chị đi làm kiếm tiền lo cho cuộc sống gia đình nhưng anh T cũng kiếm chuyện đánh chị vô cớ từ đó chị D đã bỏ về cha, mẹ ruột sống ly thân từ tháng 5 năm 2023 cho đến nay; gia đình hai bên không có hàn gắn, cả anh T cũng không có đến thăm hay muốn hàn gắn gì. Nay không thể hàn gắn chúng sống với nhau nên chị D cương quyết yêu cầu ly hôn với anh Trần Thanh T.
Về quan hệ con chung: quá trình chung sống anh chị có 01 người con chung tên Trần Thanh T1, sinh ngày 23/10/2022 hiện nay sống với chị D. Chị Võ Thị Ngọc D yêu cầu tiếp tục nuôi dưỡng con chung đến thành niên, không yêu cầu anh Trần Thanh T phải cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định.
Về quan hệ tài sản chung; nợ phải thu và phải trả: chị D khai không có, không yêu cầu xem xét giải quyết.
- Bị đơn anh Trần Thanh T vắng mặt từ khi Tòa án thụ lý đến khi xét xử nên không có lời trình bày.
- Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân về việc Thẩm phán, HĐXX, Thư ký và các đương sự chấp hành thủ tục tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến khi xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn anh Trần Thanh T được tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng họp lệ nhưng anh T vẫn vắng mặt; chị D có đề nghị vắng mặt căn cứ Điều 227, 228 Bộ Luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh T, chị D. Về nội dung vụ án: Hôn nhân giữa anh T, chị D được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ; quá trình chung sống vợ chồng có nhiều mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, cự cãi nhiều lần và ly thân thời gian dài không hàn gắn được phù hợp với xác nhận của ông Nguyễn Văn T2 – phó ban ấp P nên yêu cầu của chị D về xin ly hôn là có căn cứ pháp luật. Về con chung 01 người con chung tên Trần Thanh T1, sinh ngày 23/10/2022 hiện nay sống với chị D cần ổn định cuộc sống cho cháu T1 phù hợp với nguyện vọng của cháu nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu giao con chung cho chị D tiếp tục nuôi dưỡng. Chị D chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:
[1]. Về hình thức, thủ tục tố tụng:
1.1 Về quan hệ tranh chấp: Chị Võ Thị Ngọc D có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về “ly hôn và tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự.
1.2 Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Trần Thanh T, sinh năm 1989. Nơi cư trú: số B, ấp P, xã P, huyện P, tỉnh An Giang. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
1.3 Về thủ tục tố tụng: bị đơn anh Trần Thanh T được tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng họp lệ nhưng anh T vẫn vắng mặt tại phiên tòa; chị D có đề nghị vắng mặt nên HĐXX căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh T, chị D.
[2] Về nội dung tranh chấp:
2.1 Về quan hệ hôn nhân: Chị Võ Thị Ngọc D và anh Trần Thanh T có đăng ký kết hôn (giấy chứng nhận kết hôn số 48/2020, ngày 22/7/2020 do UBND xã P, huyện P, tỉnh An Giang cấp cho anh chị) đây là hôn nhân được pháp luật bảo vệ và giải quyết khi có mâu thuẫn xảy ra. Căn cứ chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện, hôn nhân của anh chị được xác lập từ năm 2020 trên cơ sở tìm hiểu với nhau một thời gian, tiến tới hôn nhân, thời gian đầu có hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn dẫn đến ly thân, lý do thường xuyên cự cãi nhau về đời sống hằng ngày, chị D cho rằng anh T không quan tâm đến cuộc sống gia đình, cự cãi nhiều lần, anh T nhiều lần đánh đập chị với nguyên nhân khi anh T có rượu trong người, kiếm chuyện khi thấy đứa con chung thóc thì tự ý đánh, thời gian ly thân anh chị không tạo điều kiện để hàn gắn, từ đó tình cảm vợ chồng anh chị không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, cũng phù hợp với xác nhận của ông Nguyễn Văn T2 – phó ban ấp P nên HĐXX chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 và khoản 3 Điều 4 của Nghị quyết số: 01 /2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình.
2.2 Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống chị D xác nhận có 01 người con chung tên Trần Thanh T1, sinh ngày 23/10/2022 hiện nay sống với chị D. Từ khi ly thân cho đến nay cháu T1 chung sống với chị D được trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc ổn định và ăn học đầy đủ như bao đứa trẻ khác; chị D cũng không có ý kiến hay yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con chung. Từ đó, xét thấy hoàn cảnh và điều kiện trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục con chưa thành niên của chị D là đảm bảo, cần giữ ổn định cuộc sống cho cháu T1 và phù hợp với nguyện vọng của các cháu là nguyện vọng sống với chị D nên HĐXX chấp nhận yêu cầu chị D được tiếp tục nuôi dưỡng 01 người con chung đến thành niên hoặc tự lập được theo quy định tại Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
2.3 Về quan hệ tài sản chung và nợ phải thu, phải trả: Chị Võ Thị Ngọc D khai không có và không yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết nên HĐXX không đặt ra xem xét, nhưng sau khi bản án có hiệu lực pháp luật nếu có nguyên đơn xuất trình chứng cứ, chứng minh nợ chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân thì anh chị phải liên đới chịu trách nhiệm với tư cách đồng bị đơn trong vụ án dân sự khác.
[3]. Về án phí DSST: Chị Võ Thị Ngọc D phải chịu án phí theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[4] Quyền kháng cáo: Chị Võ Thị Ngọc D và anh Trần Thanh T có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271 và khoản 1 Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 5 Điều 3; khoản 1 Điều 51; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 3 Điều 4 của Nghị quyết số: 01/2024/NQ-HĐTP, ngày 16/5/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật trong giải quyết vụ việc về hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 4 Điều 147; Điều 227; Điều 228; Điều 271; khoản 1 Điều 273; Điều 278 và khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Ngọc D đối với anh Trần Thanh T.
1. Về quan hệ hôn nhân: chị Võ Thị Ngọc D được ly hôn với anh Trần Thanh T.
2. Về quan hệ con chung:
2.1 Giao 01 (một) người con chung tên Trần Thanh T1, sinh ngày 23/10/2022 cho chị Võ Thị Ngọc D được tiếp tục trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc đến thành niên và tự lập được. Anh Trần Thanh T chưa phải cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định.
2.2 Chị Võ Thị Ngọc D trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở mà phải tạo mọi điều kiện thuận lợi khi anh Trần Thanh T đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung sau khi ly hôn.
2.3 Trên cơ sở lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
3.1 Chị Võ Thị Ngọc D phải chịu án phí về hôn nhân là 300.000 đồng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng do chị Võ Thị Ngọc D đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006573, ngày 23 tháng 01 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phú Tân, tỉnh An Giang.
3.2 Anh Trần Thanh T không phải chịu án phí.
Chị Võ Thị Ngọc D và anh Trần Thanh T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thành Thuận |
Bản án số 437/2024/HNGĐ-ST ngày 16/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG về ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 437/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Võ Thị Ngọc D đối với anh Trần Thanh T
