Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 437/2024/DS-PT

Ngày: 16/5/2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Mỹ Tiên

Các Thẩm phán:

  1. Bà Lê Thị Anh Minh
  2. Bà Huỳnh Thị Như Hà

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Trần Võ Quỳnh Ngọc - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Nghĩa - Kiểm sát viên.

Trong các ngày 13/5/2024 và 16/5/2024, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 261/2024/TLPT-DS ngày 14 tháng 3 năm 2024, về việc: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”,

Do bản án dân sự sơ thẩm số 650/2023/DS-ST ngày 29/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 345/2024/TLPT-DS ngày 26/3/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 1239/2024/QĐ-PT ngày 23/4/2024 và Quyết định tạm ngừng phiên tòa số 245/2024/QĐPT- DS ngày 13/5/2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Ông Đặng Văn B, sinh năm 1962 (có mặt)

Địa chỉ: A đường M, ấp A, xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Như Q, sinh năm 1981

Địa chỉ: C đường K, ấp D, xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị Như Q:

Bà Phạm Bùi Diễm S, sinh năm 1995 (có mặt)

Hoặc Bà Nguyễn Thị Huyền T, sinh năm 1989

Cùng địa chỉ: I đường T, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh;

Là người đại diện theo uỷ quyền (Giấy ủy quyền số: 002896, quyển số: 05/2023/HĐGD-CCAL ngày 26/5/2023)

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Nguyễn Hoàng Huy N, sinh năm 1968 (vắng mặt)
  2. Địa chỉ: C đường K, ấp D, xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Bà Nguyễn Thị Hoàng A, sinh năm 1977 (có mặt)
  4. Địa chỉ: A đường M, ấp A, xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

  5. Bà Trần Thị T1 (vắng mặt)
  6. Địa chỉ: C đường K, ấp D, xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

  7. Bà Trần Thị N1, sinh năm 1995 (vắng mặt)
  8. Địa chỉ: Căn hộ D Chung cư K - F V, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện và các bản tự khai, biên bản ghi nhận sự việc trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Đặng Văn B trình bày:

Ông Đặng Văn B có cho bà Nguyễn Thị Như Q vay số tiền 5.800.000.000 (Năm tỷ tám trăm triệu) đồng, thời hạn vay 19 ngày, kể từ ngày bà Như Q viết giấy cam kết trả nợ lập ngày 13/8/2022, với lãi suất 20%/năm.

Tuy nhiên, quá thời hạn trả nợ tới nay đã lâu nhưng bà Nguyễn Thị Như Q chỉ mới trả nợ được 02 lần (vào các ngày 13/10/2022 và 19/01/2023) với tổng số tiền 1.920.000.000 (Một tỷ chín trăm hai mươi triệu) đồng. Việc trả nợ do chồng bà- ông Nguyễn Hoàng Huy N thực hiện. Hiện bà Nguyễn Thị Như Q còn nợ số tiền là 3.880.000.000 (Ba tỷ tám trăm tám mươi triệu) đồng.

Nay ông yêu cầu bà Nguyễn Thị Như Q, ông Nguyễn Hoàng Huy N có trách nhiệm trả tiền gốc 3.880.000.000 (Ba tỷ tám trăm tám mươi triệu) đồng và tiền lãi phát sinh từ ngày 13/8/2022 tới ngày 13/10/2023 tạm tính 12 tháng (3.880.000.000 đồng x 12 tháng x 20%/năm = 776.000.000 đồng). Tuy nhiên đến tại phiên tòa sơ thẩm, ông B tự nguyện rút yêu cầu về tiền lãi.

Ông B xác nhận đang giữ bản chính 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên bà Trần Thị N1.

Tại bản tự khai ngày 10/7/2023 của bà Phạm Bùi Diễm S- đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị Như Q trình bày:

Vào khoảng đầu năm 2019, bà Nguyễn Thị Như Q có vay của ông Đặng Văn B số tiền 500.000.000 đồng.

Tháng 10/2019, bà Q vay số tiền 500.000.000 đồng.

Đầu năm 2020, bà Q vay số tiền 500.000.000 đồng.

Tháng 7/2020, bà Q vay số tiền 500.000.000 đồng.

Đến năm 2021, ông B cho bà Q vay thêm số tiền 300.000.000 đồng. Tổng cộng từ trước đến nay ông B cho bà Q Vay số tiền là 2.300.000.000 (hai tỷ ba trăm triệu) đồng.

Để làm tin bà Q có thế chấp cho ông B 02 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau:

  • Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CY 733211 số vào sổ cấp GCN: CS 08878 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp ngày 29/10/2020, đứng tên bà Trần Thị N1;
  • Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CN 586817 số vào số cấp GCN: CS 04207 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp ngày 18/3/2019, đứng tên bà Trần Thị N1.

Do bà Q chưa có đủ tiền trả nợ nên bà Q có xin ông B cho thêm thời xoay tiền. Ông B không đồng ý và nhiều lần gây áp lực buộc bà Q phải trả tiền cho ông B.

Đến tháng 03/2022, ông B bắt bà Q phải ký giấy nợ ông B số tiền 4.800.000.000 (bốn tỷ tám trăm triệu) đồng.

Đến ngày 13/8/2022, ông B tiếp tục gây áp lực bắt bà Q ký giấy cam kết trả số tiền 5.800.000.000 (năm tỷ tám trăm triệu) đồng. Bà Q không biết số tiền 5.800.000.000 đồng này được tính như thế nào.

Trong đơn khởi kiện ông B trình bày vào ngày 13/8/2022, ông B có cho bà Q vay số tiền 5.800.000.000 đồng là không đúng, vào ngày 13/8/2022 bà Q không vay tiền của ông B, ông B cũng không đưa bất kỳ số tiền nào cho bà Q vào ngày này Thực tế bà Q xác nhận chỉ vay của ông B số tiền 2.300.000.000 đồng và ông B cũng chỉ giao cho bà Q số tiền 2.300.000.000 đồng. Ngoài số tiền trên ông B không đưa cho bà Q thêm bất kỳ số tiền nào khác.

Kể từ khi bà Q ký giấy cam kết ông B nhiều lần tới nhà gây áp lực buộc bà Q phải trả tiền. Chồng bà Q là ông Nguyễn Hoàng Huy N lo sợ hàng xóm điều tiếng không hay về gia đình nên có đứng ra trả nợ thay cho bà Q, cụ thể:

Ngày 13/10/2022, ông N đứng ra trả tiền ông B thay cho bà Q với số tiền 1.000.000.000 (một tỷ) đồng.

Ngày 19/01/2023, ông N tiếp tục đứng ra trả tiền ông B thay cho bà Q với số tiền 920.000.000 (chín trăm hai mươi triệu)đồng.

Tổng số tiền ông N đứng ra trả nợ ông B thay cho bà Q là 1.920.000.000 (một tỷ chín trăm hai mươi triệu) đồng.

Số tiền bà Q nợ ông B là nợ riêng của bà Q. Khi bà Q vay ông B thì ông N không biết.

Bà Q không đồng ý với toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc trả tiền gốc và lãi với số tiền 4.397.331.264 đồng. Bà Q chỉ còn nợ ông B số tiền 380.000.000 đồng nên chỉ đồng ý trả lại ông B số tiền 380.000.000 đồng với điều kiện ông B cũng phải trả lại cho bà Q 02 bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mà ông B đang giữ.

Theo Bản tự khai ngày 25/10/2023, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Hoàng Huy N trình bày:

Ông là chồng của bà Nguyễn Thị Như Q. Khi ông Đặng Văn B đến nhà đòi nợ thì tôi mới được biết vào ngày 13/8/2022, bà Q có ký cho ông B giấy nợ 5.800.000.000 đồng.

Ông không biết bà Q vay tiền của ông B thời gian nào, với mục đích gì, lúc bà Q vay tiền của ông B không có mặt ông và ông cũng không có ký tên vào giấy cam kết viết tay ngày 13/8/2022. Đồng thời ông không nhận được bất kỳ số tiền nào từ ông B hay từ bà Q đưa.

Lúc vợ chồng ông B đem giấy vay tiền có chữ ký của bà Q đến đòi nợ thì ông mới biết sự việc này. Vì tình nghĩa vợ chồng và sợ ảnh hưởng đến con cái nên ông có đứng ra trả nợ thay cho bà Q 02 lần với tổng số tiền 1.920.000.000

Ông không đồng ý về trách nhiệm liên đới trả số nợ còn lại, vì đây là nợ riêng của bà Q, bà Q cũng không dùng số tiền vay mượn này phục vụ cho nhu cần thiết yếu nào của gia đình. Do đó ông không có nghĩa vụ phải trả nợ chung với bà Q.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Hoàng A trình bày:

Bà là vợ của ông B, bà thống nhất với yêu cầu khởi kiện của ông B.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 650/2023/DS-ST ngày 29/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn- ông Đặng Văn B đối với bị đơn bà Nguyễn Thị Như Q và ông Nguyễn Hoàng Huy N về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
  2. Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Như Q và ông Nguyễn Hoàng Huy N có trách nhiệm thanh toán cho ông Đặng Văn B- bà Nguyễn Thị Hoàng A tiền nợ gốc là 3.880.000.000 (Ba tỷ tám trăm tám mươi triệu) đồng.

    Các bên đương sự thực hiện việc giao nhận tiền tại cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  3. Đình chỉ yêu cầu tính lãi đối với khoản nợ gốc 3.880.000.000 (Ba tỷ tám trăm tám mươi triệu) đồng.
  4. Ông Đặng Văn B có trách nhiệm hoàn trả cho bà Nguyễn Thị Như Q 02 (hai) bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY733211, số vào sổ CS08878 cấp ngày 29/10/2020 cho bà Trần Thị N1 và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN586817, số vào sổ CS04207 cấp ngày 18/3/2019 cho bà Trần Thị N1.
  5. Nếu có phát sinh tranh chấp liên quan đến hai bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên thì nộp đơn khởi kiện ở vụ án khác.

    Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo của các đương sự cũng như các quy định về thi hành án dân sự.

Ngày 18 tháng 12 năm 2023, bị đơn- bà Nguyễn Thị Như Q kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm đề nghị cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm, bác toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đề nghị giữ y bản án sơ thẩm.

Đại diện bị đơn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị sửa bản án sơ thẩm.

Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và các thành viên Hội đồng xét xử cũng như các đương sự đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự, giữ y bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa của các đương sự, ý kiến phát biểu của vị Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:

  1. Về hình thức và thời hạn kháng cáo: Ngày 29/11/2023, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh đưa vụ án ra xét xử và ban hành Bản án số 650/2023/ DS-ST, bị đơn có mặt tại phiên tòa. Ngày 11/12/2023 (theo dấu bưu điện) bị đơn nộp đơn kháng cáo bản án sơ thẩm. Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 273 Bộ Luật tố tụng dân sự 2015, thì kháng cáo của bị đơn còn trong hạn luật định và hợp lệ nên được chấp nhận xem xét.
  2. Về thẩm quyền: Nguyên đơn khởi kiện “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, bị đơn cư trú tại huyện B, nên Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền và xác định đúng quan hệ tranh chấp theo quy định tại Khoản 3 Điều 26, điểm a Khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
  3. Về nội dung: Xét kháng cáo của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy:
    1. Căn cứ “Giấy cam kết” ngày 13/8/2022 xác định bị đơn “cam kết sẽ trả cho nguyên đơn số tiền 5.800.000.000 đồng”, điều này chứng minh việc bị đơn có nợ nguyên đơn số tiền trên, đồng thời hẹn ngày thanh toán.
    2. Căn cứ “Giấy nhận tiền” ngày 13/10/2022 và “Giấy trả nợ” ngày 19/01/2023, cho thấy ông Nguyễn Hoàng Huy N (chồng của bị đơn) đã tự nguyện trả cho nguyên đơn 02 đợt với tổng số tiền 1.920.000.000 đồng và xác định còn nợ lại 3.880.000.000 đồng. Như vậy ý chí của ông N đã xác nhận nợ chung của vợ chồng.

      Bị đơn trình bày “Giấy cam kết” ngày 13/8/2022 mặc dù do bà viết và ký tên, nhưng vì bị ông B uy hiếp. Đồng thời bị đơn khai rằng bà có trả tiền lãi cho nguyên đơn, nhưng tất cả đều không có chứng cứ chứng minh, nên căn cứ Khoản 1 và Khoản 4 Điều 91 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Hội đồng xét xử sơ thẩm căn cứ yêu cầu khởi kiện, lời trình bày và chứng cứ do nguyên đơn cung cấp để làm cơ sở xem xét giải quyết vụ án là hoàn toàn đúng.

      Căn cứ Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc vợ chồng bị đơn hoàn trả tiền vay cho nguyên đơn là có căn cứ.

    3. Về 02 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: Khi vay tiền thì bị đơn có giao cho nguyên đơn 02 (hai) bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CY733211, số vào sổ CS08878 do Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh L cấp cho bà Trần Thị N1 ngày 29/10/2020 và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CN586817, số vào sổ CS04207 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp cho bà Trần Thị N1 ngày 18/3/2019. Các Giấy chứng nhận nêu trên là do bị đơn trực tiếp giao cho nguyên đơn, quá trình tố tụng lại không xác định được bà N1, nên Tòa án tuyên buộc nguyên đơn hoàn trả lại 02 Giấy chứng nhận này cho bị đơn là hoàn toàn đúng quy định của pháp luật. Sau này nếu có tranh chấp về 02 Giấy chứng nhận, thì các bên liên quan có quyền khởi kiện bằng vụ kiện khác.
    4. Từ những căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử thống nhất với đề nghị của Viện kiểm sát, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, giữ y bản án sơ thẩm.
  4. Án phí dân sự sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí có giá ngạch đối với yêu cầu của nguyên đơn được Tòa chấp nhận theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Điều 26 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
  5. Án phí dân sự phúc thẩm: 300.000 đồng, người kháng cáo phải chịu.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

  • Căn cứ Khoản 1 Điều 148; Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
  • Căn cứ các Điều 357, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
  • Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  • Căn cứ Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2014;

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn- bà Nguyễn Thị Như Q.

Giữ y bản án dân sự sơ thẩm số 650/2023/DS-ST ngày 29/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh;

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn- ông Đặng Văn B:
  2. Buộc bà Nguyễn Thị Như Q và ông Nguyễn Hoàng Huy N có trách nhiệm thanh toán cho ông Đặng Văn B, bà Nguyễn Thị Hoàng A số tiền 3.880.000.000 (Ba tỷ tám trăm tám mươi triệu) đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

    Thi hành tại cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  3. Đình chỉ yêu cầu của nguyên đơn về việc tính lãi đối với số tiền trên.
  4. Buộc ông Đặng Văn B giao trả cho bà Nguyễn Thị Như Q bản chính các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
    • - Số CN586817, số vào sổ CS04207 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H cấp cho bà Trần Thị N1 ngày 18/3/2019;
    • - Số CY733211, số vào sổ CS08878 do Sở Tài nguyên và Môi trường Thành tỉnh L cấp bà Trần Thị N1 ngày 29/10/2020.

    Nếu có phát sinh tranh chấp về 02 (hai) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên thì các bên liên quan có quyền nộp đơn khởi kiện bằng vụ án khác.

  5. Án phí dân sự sơ thẩm:
  6. Bà Nguyễn Thị Như Q và ông Nguyễn Hoàng Huy N phải chịu 109.600.000 (Một trăm lẻ chín triệu sáu trăm nghìn) đồng.

  7. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Như Q phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng, nhưng được cấn trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp theo biên lai thu số AA/2023/0020999 ngày 25/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh, bà Q đã nộp xong.

Các đương sự thi hành án theo các Điều 2, 6, 7, 7a, 7b, 9 và 30 Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA

PHIÊN TÒA

Lê Thị Anh Minh

Huỳnh Thị Như H

Mai Thị Mỹ T2

Nơi nhận:

  • - TAND Tối cao;
  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - TAND huyện Bình Chánh;
  • - Chi cục THADS huyện Bình Chánh;
  • - Cục THADS TP. Hồ Chí Minh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Mai Thị Mỹ Tiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 437/2024/DS-PT ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 437/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 16/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án phúc thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger