|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 437/2024/DS-ST
Ngày: 12-7-2024
V/v “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Ngọc Cảnh
- Ông Nguyễn Văn Vân
- Thư ký phiên tòa: Bà Quang Thị Thùy Ly – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Diệu – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 224/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 3 năm 2024 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 253/2024/QĐXX-ST ngày 28 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 331/2024/QĐST-DS ngày 14 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần S.
Địa chỉ trụ sở: Số B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Công ty TNHH MTV Q và khai thác tài sản Ngân hàng S;
Người được ủy quyền lại: Ông Trần Đức T, sinh năm 1984. (có mặt)
Địa chỉ liên hệ: Số B Lầu E N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
(Văn bản ủy quyền số 3860/2023/UQ-TGĐ ngày 07/11/2023)
Bị đơn: Bà Phạm Ngọc A, sinh năm 1996
Địa chỉ: Số A Đường A, Tổ E, Ấp E, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo nội dung Đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn – ông Trần Đức T trình bày:
Ngày 08/3/2020, bà Phạm Ngọc A và Ngân hàng Thương mại cổ phần S (gọi tắt là Ngân hàng) đã ký Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Căn cứ thu nhập của bà Ngọc A, Ngân hàng đã đồng ý cấp Thẻ tín dụng số 526830-9180 với hạn mức sử dụng là 25.000.000 đồng, lãi suất 2,6%/tháng để sử dụng cho mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, bà Ngọc A đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 46.617.520 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay bà Ngọc A đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 25.705.904 đồng.
Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng bà Ngọc A vẫn không có thiện chí trả nợ. Do bà Ngọc A vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 23/5/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang quá hạn.
Nay, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả số tiền gốc là 29.517.459 đồng, tiền lãi tạm tính đến ngày 25/10/2023 là 33.998.478 đồng, tổng cộng 63.515.937 đồng; và buộc tiếp tục trả lãi phát sinh sau ngày 25/10/2023 cho đến khi trả dứt nợ thẻ tín dụng theo lãi suất quy định tại hợp đồng, trả ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
* Bị đơn – bà Phạm Ngọc A trong suốt quá trình giải quyết vụ án không đến Tòa án cũng không nộp bản khai trình bày ý kiến của mình.
Tại phiên tòa:
* Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bà Phạm Ngọc A có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 12/7/2024 là 73.531.290 đồng, trong đó tiền gốc là 29.517.459 đồng và tiền lãi quá hạn là 44.013.831 đồng. Và buộc bà Ngọc A có trách nhiệm thanh toán lãi phát sinh từ ngày 13/7/2024 cho đến khi trả dứt nợ thẻ tín dụng theo lãi suất quy định tại hợp đồng.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi phát biểu ý kiến:
Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án. Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý đến thời điểm này thấy rằng Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xét xử sơ thẩm vụ án.
Về nội dung vụ án: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, căn cứ lời trình bày của đương sự tại phiên tòa; căn cứ quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Điều 463; Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết của Tòa án:
Căn cứ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, căn cứ khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật có tranh chấp trong vụ án là tranh chấp hợp đồng tín dụng.
Bị đơn đang cư trú tại số A Đường A, Tổ E, Ấp E, xã B, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh
[2] Về thủ tục tố tụng:
Bị đơn đã được Toà án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; thông báo kết quả công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng bị đơn vẫn không cung cấp bản khai trình bày ý kiến và vắng mặt không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn.
[3] Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán nợ gốc 29.517.459 đồng và nợ lãi tạm tính đến ngày 12/7/2024 là 44.013.831 đồng.
Căn cứ Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 08/3/2020 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng có đủ căn cứ xác định bà Phạm Ngọc A có vay tiền của Ngân hàng Thương mại cổ phần S với hạn mức sử dụng là 25.000.000 đồng, lãi suất 2,6%/tháng để sử dụng cho mục đích tiêu dùng cá nhân. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng Thương mại Cổ phần S khởi kiện là có cơ sở.
Sau khi được cấp thẻ tín dụng, bà Ngọc A đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 46.617.520 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, bà Ngọc A đã thanh toán được cho Ngân hàng số tiền 25.705.904 đồng. Việc bà Ngọc A không thanh toán nợ làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của Ngân hàng Thương mại cổ phần S, vi phạm điều khoản về nghĩa vụ trả nợ của khách hàng quy định tại Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại cổ phần S đã ký và vi phạm quy định tại Điều 466 của Bộ luật Dân sự về nghĩa vụ trả nợ của bên vay.
Theo quy định tại Khoản 2 Điều 3 của Luật Các tổ chức tín dụng thì: “Trường hợp có quy định khác nhau giữa Luật này và các luật khác có liên quan về thành lập, tổ chức, hoạt động, kiểm soát đặc biệt, tổ chức lại, giải thể tổ chức tín dụng... thì áp dụng theo quy định của Luật này”, theo quy định tại Khoản 2 Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng thì: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”, do đó, đối với hợp đồng vay tài sản mà một bên là tổ chức tín dụng thì lãi suất của hợp đồng vay được thực hiện theo thỏa thuận giữa các bên quy định tại hợp đồng.
Như vậy Ngân hàng Thương mại cổ phần S yêu cầu bà Phạm Ngọc A phải thanh toán tiền nợ gốc, lãi quá hạn theo hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng là có cơ sở để chấp nhận.
[4] Phát biểu của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đúng quy định pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[5] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm đối với phần yêu cầu của nguyên đơn được Tòa án chấp nhận. Hoàn tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 khoản 3 Điều 228, Điều 273 và Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 90, Điều 91 và Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng;
Căn cứ vào Điều 466 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần S:
Buộc bà Phạm Ngọc A có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền gốc và lãi tạm tính đến ngày 12/7/2024 là 73.531.290 (Bảy mươi ba triệu, năm trăm ba mươi mốt ngàn hai trăm chín mươi) đồng, thi hành ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày 13/7/2024 cho đến khi thi hành án xong, bà Phạm Ngọc A còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận theo Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ tín dụng bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng cá nhân của Ngân hàng Thương mại cổ phần S cho đến khi thanh toán hết khoản nợ.
- Về án phí:
Bà Phạm Ngọc A phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 3.676.565₫ (Ba triệu, sáu trăm bảy mươi sáu nghìn, năm trăm sáu mươi lăm đồng).
Trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 1.587.898đ (Một triệu, năm trăm tám mươi bảy nghìn, tám trăm chín mươi tám đồng) theo Biên lai thu số AA/2023/0013365 ngày 11/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp.
- Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thanh Thảo |
5
Bản án số 437/2024/DS-ST ngày 12/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 437/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sacombank đòi nợ Phạm Ngọc Anh
