TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU TỈNH CÀ MAU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 437/2025/DS-ST Ngày: 30 - 12 - 2025 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: | Bà Lê Thị Hồng Hà |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Ông Văn Công Trọn |
| Ông Duyên Văn Hiền | |
| - Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Mỹ Tiên là Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau. | |
Ngày 30 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 3 - Cà Mau, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 535/2025/TLST-DS ngày 13 tháng 11 năm 2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 543/2025/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 12 năm 2025, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H; Địa chỉ: Số B B, đường N, phường S, thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Hữu Đ; Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Bà Đỗ Gia H, sinh năm 2001; chức vụ: Chuyên viên Quan hệ khách hàng cá nhân (Có mặt).
Bị đơn: Ông Lương Duy K, sinh năm 1995; CMND số [...] cấp ngày 25/3/2013; Địa chỉ cư trú Ấp K, xã T, tỉnh Cà Mau (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 16/10/2025 và tại phiên toà, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Đỗ Gia H trình bày:
Ngày 19/12/2022 ông Lương Duy K có ký kết với Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H Đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng tài khoản thanh toán/sản phẩm – dịch vụ. Theo đó, Ngân hàng đã cấp cho ông K thẻ tín dụng không có tài sản bảo đảm, hạn mức 30.000.000 đồng, số tài khoản thẻ 810241161981, số thẻ 498766****1937, thẻ phát hành ngày 20/12/2022, kích hoạt ngày 26/12/2022. Với thoả thuận, ông K sử dụng tiền trong tài khoản trong thời hạn 30 ngày hoàn lại thì không phát sinh lãi; sau 30 ngày thì mức lãi áp dụng là 36%/năm; mức lãi suất này được áp dụng cố định trong suốt thời gian sử dụng thẻ. Hằng tháng ông K phải thanh toán vốn và lãi cho Ngân hàng. Trường hợp chậm thanh toán từ 15 ngày thì phát sinh phí phạt số tiền 200.000 đồng/tuần.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, ông K đã sử dụng tổng số tiền gốc là 28.472.648 đồng. Ngày 19/12/2025 ông K đã thanh toán được số tiền gốc là 10.000.000 đồng. Còn nợ lại số tiền gốc là 18.472.648 đồng. Tính đến ngày 29/12/2025, ông K đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán gốc, lãi 270 ngày.
Tính đến ngày 29/12/2025, ông K nợ Ngân hàng tổng số tiền 34.039.506 đồng (trong đó, gốc 18.472.648 đồng, lãi 10.717.688 đồng, phí phạt 4.849.170 đồng). Nay Ngân hàng yêu cầu ông K thanh toán cho Ngân hàng số tiền này và khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 30/12/2025 cho đến khi thanh toán xong nợ gốc theo mức lãi thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng.
Đối với bị đơn ông Lương Duy K: Đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; tham dự phiên tòa nhưng không có mặt nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của ông K về các nội dung khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Do bị đơn ông Lương Duy K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai mà không có mặt tại phiên tòa nên căn cứ vào Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông K.
[2] Xét yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Ngày 19/12/2022 ông Lương Duy K và Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H đã ký kết Đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng tài khoản thanh toán/sản phẩm – dịch vụ. Theo đó, Ngân hàng đã cấp cho ông K thẻ tín dụng không có tài sản bảo đảm số [...], thẻ số 49876 6****1937, phát hành ngày 20/12/2022, kích hoạt ngày 26/12/2022, với hạn mức tín dụng 30.000.000 đồng. Đôi bên thoả thuận lãi suất là 36%/năm bắt đầu sau 30 ngày, kể từ ngày sử dụng thẻ. Hằng tháng ông K phải thanh toán vốn và lãi cho Ngân hàng. Trường hợp chậm thanh toán từ 15 ngày thì phát sinh phí phạt số tiền 200.000 đồng/tuần.
Xét thấy, việc giao kết hợp đồng tín dụng giữa đôi bên là thực tế có xảy ra. Các bên đều là người có đầy đủ năng lực hành vi dân sự và tự nguyện khi giao kết hợp đồng tín dụng. Mục đích và nội dung của hợp đồng tín dụng không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Do đó, hợp đồng tín dụng nêu trên có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm giao kết.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng, ông K đã sử dụng tổng số tiền gốc là 28.472.648 đồng. Ngày 19/12/2025 ông K đã thanh toán được số tiền gốc là 10.000.000 đồng. Còn nợ lại số tiền gốc là 18.472.648 đồng. Tính đến ngày 29/12/2025, ông K đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán gốc, lãi 270 ngày.
Nay Ngân hàng yêu cầu ông K thanh toán nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm tổng số tiền 34.039.506 đồng (trong đó, gốc 18.472.648 đồng, lãi 10.717.688 đồng, phí phạt 4.849.170 đồng).
Bị đơn ông K đã nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không có văn bản thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng.
Khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự quy định: “Một bên đương sự thừa nhận hoặc không phản đối những tình tiết, sự kiện, tài liệu, văn bản, kết luận của cơ quan chuyên môn mà bên đương sự kia đưa ra thì bên đương sự đó không phải chứng minh”.
Do ông K không phản đối những tình tiết, tài liệu, chứng cứ mà Ngân hàng đưa ra nên Ngân hàng không phải chứng minh. Như vậy, việc ông K đã vay và còn nợ Ngân hàng số tiền nêu trên là thực tế có xảy ra. Do ông K chưa thanh toán nên cần buộc ông K thanh toán cho Ngân hàng theo yêu cầu của Ngân hàng.
Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng, buộc ông K thanh toán cho Ngân hàng số tiền nêu trên và khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc theo mức lãi suất các bên đã thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong nợ gốc là phù hợp.
[3] Về án phí: Do toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bị đơn phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định pháp luật. Cụ thể, ông K phải chịu án phí số tiền 1.702.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các điều 92, 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; các điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H.
Buộc ông Lương Duy K thanh toán cho Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H số tiền 34.039.506 đồng (Ba mươi bốn triệu không trăm ba mươi chín nghìn năm trăm lẻ sáu đồng) và khoản tiền lãi của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại Đề nghị kiêm hợp đồng mở, sử dụng tài khoản thanh toán/sản phẩm – dịch vụ ngày 19/12/2022; điều khoản và điều kiện phát hành, sử dụng thẻ tín dụng cho đến khi thanh toán xong nợ gốc.
2. Án phí:
- Ông Lương Duy K phải chịu án phí số tiền 1.702.000 đồng (Một triệu bảy trăm lẻ hai nghìn đồng).
- Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H không phải chịu án phí. Ngày 11/11/2025 Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H đã dự nộp tạm ứng án phí số tiền 1.000.000 đồng (Một triệu đồng) theo biên lai thu số 0004418 của Thi hành án dân sự tỉnh Cà Mau, được nhận lại.
3. Về nghĩa vụ thi hành án:
Kể từ ngày tiếp theo của ngày 30/12/2025, khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của tổ chức tín dụng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho tổ chức tín dụng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của tổ chức tín dụng cho vay.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Phát triển thành phố H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án và bị đơn ông Lương Duy K có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (đã ký) Lê Thị Hồng Hà |
Bản án số 437/2025/DS-ST ngày 30/12/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 437/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/12/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - CÀ MAU, TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng TMCP P yêu cầu ông Lương Duy K thanh toán nợ tín dụng
