|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 4360/2024/DS-ST Ngày: 17-09-2024. V/v: Tranh chấp về hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TP. THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Trung Thực.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Võ Thị Gái.
- Bà Nguyễn Hương Thủy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Hải – Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 02/2024/TLST-DS ngày 02 tháng 01 năm 2024 về “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 5860/2024/QĐXXST-DS ngày 23/07/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 6973/2024/QĐST-DS ngày 21/08/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng N2.
Trụ sở: Số B đường L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Văn N, địa chỉ: Số E, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh – Là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số 793/NHNo-ĐSG ngày 23/4/2024).
Bị đơn: Ông Nguyễn Long R, sinh năm: 1989.
Địa chỉ: Ấp S, xã X, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Tấn L, sinh năm: 1982; địa chỉ: F D Mega Ruby K, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh - Là đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền số công chứng 009023 lập tại Văn phòng C ngày 11/07/2024).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1977.
Địa chỉ: Số C tổ H, khu phố M, thị trấn C, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ông N có đơn xin vắng mặt, ông R, ông L, bà H vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các biên bản trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn Ngân hàng N2 trình bày:
Ngày 24/09/2019, giữa ông Nguyễn Long R và Ngân hàng N2 (Sau đây gọi tắt là Ngân hàng A) có kết Hợp đồng tín dụng số 6280LAV201901672. Số tiền cho vay theo hợp đồng tín dụng là 2.000.000.000 đồng. Khoản vay trên được đảm bảo bằng tài sản là: Quyền sử dụng đất tại Xã L, Huyện C, TP., diện tích 1000 m² theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CM384079, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CH 01051 do UBND huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/08/2018. Từ khi vay vốn cho đến nay đã thanh toán được số tiền là: 1.146.412.795 đồng. Trong đó: trả gốc: 375.650.000 đồng, trả lãi: 770.762.795 đồng. Từ ngày 16/07/2023 đến nay ông R không thanh toán nợ cho Ngân hàng theo cam kết trong hợp đồng tín dụng. Tổng nợ gốc và lãi trong hạn, quá hạn tạm tính đến hết ngày 17/09/2024 mà ông R còn nợ N1 hàn A là: 1.825.144.045 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 1.624.350.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 197.680.029 đồng; nợ lãi quá hạn: 3.114.016 đồng.
Ngân hàng A yêu cầu Tòa án: Buộc ông R phải thanh toán cho Ngân hàng A tổng nợ gốc và lãi trong hạn, quá hạn tạm tính đến hết ngày 17/09/2024 với số tiền: 1.825.144.045 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 1.624.350.000 đồng; nợ lãi trong hạn: 197.680.029 đồng; nợ lãi quá hạn: 3.114.016 đồng. Ông R phải chịu lãi trong hạn và lãi phạt quá hạn phát sinh kể từ ngày 18/09/2024, tính theo lãi suất được thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 6280LAV201901672 ngày 24/09/2019 cho đến khi trả dứt nợ. Ông R phải trả cho Ngân hàng A chi phí xem xét thẩm định tại chỗ là 5.000.000 đồng. Hạn chót để ông R thanh toán số tiền nêu trên cho Ngân hàng A là ngày 18/03/2025.
Trường hợp ông R không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng A có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền tiến hành kê biên, phát mãi tài sản đảm bảo là Quyền sử dụng đất tại xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, diện tích 1000 m², theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CM384079, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CH 01051 do UBND huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/08/2018, cập nhật biến động đứng tên bà Nguyễn Thị H ngày 21/09/2019 theo Hợp đồng thế chấp số 6280-LCP-201901704 ngày 24/09/2019 để thu hồi nợ theo quy định của pháp luật. Trường hợp sau khi phát mãi tài sản đảm bảo vẫn không đủ thanh toán hết nợ thì ông R vẫn phải chịu trách nhiệm đối với khoản nợ còn lại.
Bị đơn ông Nguyễn Long R có ông Nguyễn Tấn L là đại diện theo ủy quyền trình bày:
Ông Nguyễn Long R thống nhất về thời gian ký kết Hợp đồng tín dụng với Ngân hàng A, tính đến ngày 23/7/2024 ông R còn nợ Ngân hàng A số tiền: 1.800.702.171 đồng. Trong đó: Nợ gốc: 1.624.350.000 đồng; Nợ lãi trong hạn: 174.004.571 đồng; Nợ lãi quá hạn: 2.347.599 đồng. Ông R cam kết trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày 23/7/2024, ông R sẽ thanh toán toàn bộ số nợ nêu trên và chịu lãi trong hạn và lãi phạt quá hạn phát sinh kể từ ngày 24/7/2024, tính theo lãi suất được thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 6280LAV201901672 ngày 24/09/2019 cho đến khi trả dứt nợ. Trong trường hợp không trả được nợ, ông R đồng ý xử lý tài sản là Quyền sử dụng đất tại xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích 1000 m², theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CM384079, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CH 01051 do UBND huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/08/2018, được chỉnh lý biến động đứng tên bà Nguyễn Thị H ngày 21/9/2019.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án nên không có ý kiến trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về tuân theo pháp luật tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và những người tham gia tố tụng chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tuy nhiên, có vi phạm về thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Ông R đã vi phạm các nghĩa vụ trong Hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết, đồng ý trả các khoản nợ trong thời gian 06 tháng kể từ ngày 24/7/2024, Hợp đồng thế chấp và các thủ tục thế chấp được thực hiện đúng quy định của pháp luật. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Về án phí đề nghị xem xét theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật có tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán các khoản nợ theo Hợp đồng tín dụng, do đó quan hệ tranh chấp trong vụ án này được xác định là: “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”, quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Các Hợp đồng tín dụng, Hợp đồng thế chấp được ký kết, thực hiện tại Ngân hàng A – Chi nhánh Đ có địa chỉ tại thành phố T, tranh chấp cũng phát sinh từ hoạt động của Chi nhánh này, nguyên đơn lựa chọn Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức là Tòa án giải quyết tranh chấp nên căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm b, g khoản 1 Điều 40 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về thủ tục tố tụng:
Ông Lê Văn N đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt. Ông R, ông L, bà H vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm không có lý do mặc dù đã được Tòa án tiến hành tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng. Xét thấy việc vắng mặt của đương sự, người đại diện hợp pháp của các đương sự không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ Điều 227, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.
Các đương sự, người đại diện hợp pháp của các đương sự không yêu cầu Tòa án xem xét về thời hiệu khởi kiện. Do đó, căn cứ Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án không xem xét về thời hiệu khởi kiện vụ án.
[3] Về nội dung yêu cầu của đương sự:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa và lời trình bày, xác nhận của người đại diện hợp pháp của các đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định:
[3.1] Ngày 24/9/2019, ông R và Ngân hàng A có ký kết Hợp đồng tín dụng số 6280LAV201901672 và Phụ lục với nội dung: Số tiền cho vay theo hợp đồng tín dụng là 2.000.000.000 đồng, thời hạn vay 240 tháng, trả theo định kỳ hàng tháng tiền gốc, các bên còn thỏa thuận về việc trả tiền lãi, lãi suất, biện pháp bảo đảm, quyền nghĩa vụ giữa các bên và một số thỏa thuận khác.
[3.2] Khoản vay trên được đảm bảo bằng tài sản là: Quyền sử dụng đất tại Xã L, Huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh có diện tích 1000 m² theo Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CM384079, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CH 01051 do UBND huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/08/2018, được chỉnh lý biến động đứng tên bà Nguyễn Thị H ngày 21/9/2019 theo Hợp đồng thế chấp tài sản bảo đảm số 6280-LCP-201901704 ngày 24/09/2019 giữa Ngân hàng A và bà H. Các bên có thực hiện đăng ký thế chấp tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh vào ngày 25/09/2019.
[3.3] Từ khi vay vốn đến nay, ông R đã trả cho Ngân hàng A khoản tiền là: 1.146.412.795 đồng. Trong đó trả nợ gốc: 375.650.000 đồng, trả nợ lãi: 770.762.795 đồng. Từ ngày 16/07/2023 đến nay, ông R không thanh toán nợ cho Ngân hàng.
[3.4] Các bên tự nguyện ký kết các Hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-201901672 và Phụ lục cùng ngày 24/09/2019, Hợp đồng thế chấp 6280-LCP-201901704 ngày 24/09/2019 và các văn bản tín dụng khác, các văn bản này có hình thức đúng quy định của pháp luật, nội dung các bên thỏa thuận không vi phạm điều cấm của pháp luật, phù hợp với các quy định tại Điều 4, Điều 91 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 nên có giá trị pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên.
[3.5] Việc các bên thỏa thuận về thời hạn vay, trả nợ gốc, nợ lãi, ngày chuyển nợ quá hạn, lãi suất vay, cách tính lãi trong hạn, lãi quá hạn, việc trả nợ gốc, lãi hàng tháng và các thỏa thuận khác trong Hợp đồng tín dụng nêu trên và tại các văn bản tín dụng khác là phù hợp với các quy định của pháp luật, ông R chưa trả đủ khoản tiền nợ gốc, nợ lãi cho nguyên đơn là vi phạm các nghĩa vụ thanh toán tiền theo thỏa thuận, ông R thừa nhận toàn bộ các khoản nợ gốc, nợ lãi tính đến ngày 23/7/2024. Do đó, nguyên đơn yêu cầu ông R phải trả các khoản tiền tính đến ngày 17/9/2024 tổng cộng là: 1.825.144.045 đồng (Trong đó tiền nợ gốc là: 1.624.350.000 đồng, tiền nợ lãi trong hạn là: 197.680.029 đồng, tiền nợ lãi quá hạn là: 3.114.016 đồng) là có cơ sở để chấp nhận. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn thanh toán toàn bộ khoản nợ chậm nhất vào ngày 18/03/2025 là phù hợp với các quy định của pháp luật nên xem xét chấp nhận.
[3.6] Căn cứ hướng dẫn tại Điều 13 của Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao thì việc nguyên đơn yêu cầu phía bị đơn phải trả khoản lãi phát sinh kể từ ngày 18/09/2024 (ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm) trên số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết cho đến khi thi hành án xong là có cơ sở để chấp nhận.
[3.7] Đối với yêu cầu về xử lý các tài sản thế chấp: Căn cứ thỏa thuận của các bên tại Hợp đồng thế chấp số 6280-LCP-201901704 ngày 24/09/2019, căn cứ Điều 292, Điều 293, Điều 295, Điều 298, Điều 299, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 321, Điều 322, Điều 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì yêu cầu này của nguyên đơn là có cơ sở để chấp nhận khi phía bị đơn không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tại phiên tòa phù hợp với các quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận toàn bộ.
Từ những nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với các quy định của pháp luật.
[4] Về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo:
[4.1] Về án phí sơ thẩm, chi phí tố tụng:
Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên căn cứ Điều 147, Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, bị đơn phải chịu án phí và bị đơn phải hoàn trả cho nguyên đơn toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Nguyên đơn không phải chịu án phí, hoàn lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn.
[4.2] Về quyền kháng cáo:
Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được cấp, tống đạt theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm b, g khoản 1 Điều 40; Điều 147; Điều 158; Điều 184; Điều 227; Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 292, Điều 293, Điều 295, Điều 298, Điều 299, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 321, Điều 322, Điều 323 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Điều 4, Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi bổ sung năm 2017);
- Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.
Xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng N2:
Buộc ông Nguyễn Long R phải thanh toán cho Ngân hàng N2 số tiền tính đến ngày 17/09/2024 là: 1.825.144.045 đồng (Một tỷ, tám trăm hai mươi lăm triệu, một trăm bốn mươi bốn nghìn, không trăm bốn mươi lăm đồng). Trong đó tiền nợ gốc là: 1.624.350.000 đồng (Một tỷ, sáu trăm hai mươi bốn triệu, ba trăm năm mươi nghìn đồng), tiền nợ lãi trong hạn là: 197.680.029 đồng (Một trăm chín mươi bảy triệu, sáu trăm tám mươi nghìn, không trăm hai mươi chín đồng), tiền nợ lãi quá hạn là: 3.114.016 đồng (Ba triệu, một trăm mười bốn nghìn, không trăm mười sáu đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 18/09/2024) cho đến khi thi hành án xong toàn bộ khoản nợ, ông Nguyễn Long R còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 6280-LAV-201901672 ngày 24/09/2019.
Ông Nguyễn Long R có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ khoản nợ nêu trên cho Ngân hàng N2 chậm nhất là ngày 18/03/2025.
Trường hợp quá thời hạn nêu trên, ông Nguyễn Long R không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng N2 có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền tiến hành việc kê biên, phát mại tài sản bảo đảm là: Quyền sử dụng đất tọa lạc tại xã L, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, có diện tích 1000 m2, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số phát hành CM 384079, số vào sổ cấp Giấy chứng nhận CH 01051 do UBND huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 01/08/2018, được chỉnh lý biến động đứng tên bà Nguyễn Thị H ngày 21/9/2019 để thu hồi nợ. Trường hợp sau khi phát mãi tài sản đảm bảo vẫn không đủ thanh toán hết khoản nợ thì ông Nguyễn Long R vẫn phải có nghĩa vụ trả các khoản nợ còn lại cho Ngân hàng N2.
Các bên thi hành dưới sự giám sát của Cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Về án phí, chi phí tố tụng:
Án phí dân sự sơ thẩm là: 66.754.321 đồng (Sáu mươi sáu triệu, bảy trăm năm mươi bốn nghìn, ba trăm hai mươi mốt đồng) ông Nguyễn Long R phải chịu. Ông R chưa nộp án phí.
Hoàn lại cho Ngân hàng N2 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là: 31.447.793 đồng (Ba mươi mốt triệu, bốn trăm bốn mươi bảy nghìn, bảy trăm chín mươi ba đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí ký hiệu BLTU/23P, số 0000003 ngày 20/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức.
Về chi phí tố tụng: Ông Nguyễn Long R phải trả cho Ngân hàng N2 số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ.
- Về quyền yêu cầu thi hành án:
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo:
Ngân hàng N2, ông Nguyễn Long R, bà Nguyễn Thị H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được cấp, tống đạt, niêm yết, thông báo theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Đã ký Nguyễn Trung Thực |
Bản án số 4360/2024/DS-ST ngày 17/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 4360/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng- Nguyễn Long R
