Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số:436/2024/HS-ST

Ngày: 29 - 8 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thu

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Trần Đăng Vạn
  • Ông Võ Văn Lợi

Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc Đạt – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 415/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 493/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:

Lê Phúc T, sinh năm: 1986, tại tỉnh Thanh Hóa; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn G, xã T, huyện N, tỉnh Thanh Hóa; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; dân tộc: Mường; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 0/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; con ông Lê Phúc N (đã chết) và bà Phạm Thị Ê, sinh năm 1953; bị cáo là con thứ 02 trong gia đình có 04 anh em; có vợ là Phạm Thị A, sinh năm 1988 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2009;

Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 19/4/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Chị Trần Thị Bé B, sinh năm 1994;

Địa chỉ thường trú: Khu phố B, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận; Địa chỉ cư trú: Nhà không số, khu dân cư B, Đường H, Khu phố B, phường P, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh — Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng cuối tháng 3/2024, Lê Phúc ThanhThanh H vào Thành phố Hồ Chí Minh ở tại dãy nhà trọ của nhà không số, KDC B, đường H, Khu phố B, phường P, thành phố T em ruột là anh Lê Phúc H1 và tìm việc làm. Tới chiều ngày 31/3/2024, T đi nhậu với bạn bè tại một quán cháo lòng ở gần nhà trọ, đến khoảng 01 giờ 00 phút, ngày 01/4/2024Thanh đi bộ về phòng trọ để ngủ. Khi đi về đến khu nhà trọ thì phát hiện xe mô tô hiệu SYM Elegant màu xanh, trắng, đen biển số 68HA-015.63 của chị Trần Thị Bé B đang dựng trước phòng trọ của chị B không có ai trông coi và không có khoá. T liền nảy sinh ý định lấy trộm xe trên để làm phương tiện đi lại trong lúc đi kiếm việc làm ở các khu công nghiệp T. T đi đến dắt bộ xe ra đường lớn, rồi dùng 01 chìa khóa nhặt được mở thử ổ khóa thì mở được (Do ổ khóa của xe bị hỏng). Sau đó, T nổ máy điều khiển xe lên khu vực cầu vượt S địa phận thuộc thành phố D, tỉnh Bình Dương. Tại đây, T đi lang thang khoảng hai ngày để xin việc nhưng không được vì không có căn cước công dân nên T đón xe khách về tỉnh Thanh Hóa để làm căn cước công dân và đem chiếc xe mô tô trên theo cùng, mang về nhà ở thôn G, xã T, huyện N, tỉnh Thanh HóaKhi về đến nhà thì T được người nhà nói cho biết Công an xã T thông báo T đã trộm cắp chiếc xe mà T đang điều khiển và yêu cầu T mang xe vào trả lại cho chị B. T nghe lời người nhà nên mang xe đến trụ sở Công an xã T giao nộp và chủ động đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T trình diện.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Lê Phúc T1 khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội trên.

Kết quả định giá tài sản số 83-KV2/KLÐG-HĐĐGTS ngày 16/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản, thành phố T kết luận: 01 xe mô tô hiệu SYM Elegant màu xanh, trắng, đen biển số 68HA-015.63 trị giá 5.767.000 đồng.

Vật chứng vụ án:

- 01 mô tô biển số 68HA-015.63. Qua xác minh chủ sở hữu là ông Phan Văn K (là bố chồng của chị Trần Thị Bé B), ông K ủy quyền cho chị B sử dụng và nhận lại tài sản. Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô trên cho chị B.

- 01 USB chứa dữ liệu điện tử ghi lại việc Lê Phúc T lấy xe của chị B.

Về trách nhiệm dân sự:

- Chị Trần Thị Bé B sau khi nhận lại tài sản, không có yêu cầu về dân sự, không có khiếu nại thắc mắc gì.

Tại Cáo trạng số: 402/CT-VKS.TPTĐ ngày 31 tháng 7 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Lê Phúc T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Phúc T từ 09 tháng đến 01 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/4/2024.

Ngoài ra còn đề nghị xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi theo cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên, không tranh luận.

Lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi của mình, rất mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều đúng pháp luật.

[2] Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại, bản ảnh, biên bản thực nghiệm điều tra, vật chứng thu giữ... cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát nên có cơ sở xác định: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 01/4/2024, tại nhà không số, KDC B, đường H, Khu phố B, phường P, thành phố Thủ ĐứcLê P thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu SYM Elegant màu xanh, trắng, đen biển số 68HA-015.63 trị giá 5.767.000 đồng của chị Trần Thị Bé B.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn xã hội. Bị cáo có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng lười lao động lại muốn có phương tiện đi lại nên đã cố ý, lén lút chiếm đoạt tài sản có giá trị 5.767.000 đồng của bị hại. Hành vi của bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết định khung hình phạt:

Tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị 5.767.000 đồng nên bị đưa ra xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nên cần xử phạt các bị cáo với mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội thêm một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 mô tô biển số 68HA-015.63. Xác minh chủ sở hữu là ông Phan Văn K (là bố chồng của chị Trần Thị Bé B), ông K ủy quyền cho chị B sử dụng và nhận lại tài sản. Ngày 11/6/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T đã trả lại cho chị B là có căn cứ.

- Đối với 01 USB chứa hình ảnh ghi lại việc Lê Phúc T lấy xe của chị B. Xét đây là dữ liệu điện tử chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tiếp tục lưu trữ kèm theo hồ sơ vụ án.

[6] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tại phiên tòa là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên có cơ sở chấp nhận.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là chị Trần Thị B1 Ba không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Phúc T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017,

Xử phạt bị cáo Lê Phúc T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 19/4/2024.

3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,

Lưu trữ kèm theo hồ sơ vụ án 01 USB chứa hình ảnh ghi lại việc Lê Phúc T lấy xe của chị B.

4. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,

- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

- Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Công an Tp. Thủ Đức;
  • - Tòa án nhân dân Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp. Thủ Đức;
  • - Phòng PV06, PC10 - Công an Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Thủ Đức;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Thu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 436/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 436/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Phúc T bị truy tố về tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger