Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 436/2025/HS-PT
Ngày: 13 - 6 - 2025

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Công Mười

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Minh Thịnh

Ông Chung Văn Kết

- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Thị Linh Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Thành - Kiểm sát viên.

Ngày 13 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 1060/2024/TLPT-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Nguyễn Thị Kiều T do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 51/2024/HS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

* Bị cáo kháng cáo:

Họ và tên: Nguyễn Thị Kiều T, sinh năm 1981. Nơi thường trú: Ấp T, xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ. Giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Nguyên thủ quỹ UBND xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ; họ và tên cha: Nguyễn Văn N (sống); họ và tên mẹ: Nguyễn Thị Ngọc M (chết); anh, chị, em ruột: Có 05 người, lớn nhất sinh năm 1983, nhỏ nhất sinh năm 1995; chồng: Nguyễn Văn M1, sinh năm 1976; con: Có 02 người sinh năm 2003 và năm 2005; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo tại ngoại, đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú và có mặt tại phiên tòa.

(Trong vụ án còn có hai bị cáo Sơn Thị Hồng L, Nguyễn Thanh B và bị hại không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thanh B là Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ nhiệm kỳ 2016 – 2021 và nhiệm kỳ 2021 - 2026, là chủ tài khoản của UBND xã T trên hệ thống dịch vụ công của Kho bạc Nhà nước huyện T, có trách nhiệm ký quyệt giấy rút dự toán hoặc lệnh chi tiền (chứng từ chi) theo Luật Kế toán năm 2015; quản lý việc thu, chi và nộp tiền vào ngân sách các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách của xã theo Nghị định số 94/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 của Chính phủ quy định về thành lập và quản lý Quỹ phòng, chống thiên tai nhưng B giao tài khoản UBND xã T, chữ ký số cho kế toán Sơn Thị Hồng L quản lý sử dụng và thiếu kiểm tra, giám sát và phản ánh chưa trung thực nghiệp vụ tài chính phát sinh dẫn đến Sơn Thị Hồng L chiếm đoạt tiền và gây thiệt hại ngân sách Nhà nước.

Nguyễn Thị Kiều T là thủ quỹ thuộc UBND xã T theo Quyết định số 394/QĐ-UBND ngày 03/12/2018 của Chủ tịch UBND xã T đã thực hiện không đúng quy định về nhiệm vụ được giao, không trực tiếp quản lý tiền mặt, không mở sổ quỹ ghi chép theo quy định mà lại giao tiền mặt cho kế toán Sơn Thị Hồng L dẫn đến chi nhưng không có chứng từ thanh toán; T không trực tiếp nộp tiền vào ngân sách đối với khoản phải nộp để hoàn trả ngân sách mà giao tiền mặt cho kế toán Sơn Thị Hồng L nộp dẫn đến L chiếm đoạt và gây thiệt hại ngân sách Nhà nước.

Sơn Thị Hồng L là kế toán thuộc UBND xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ theo Quyết định số 168/QĐ-UBND ngày 15/01/2020 của Chủ tịch UBND huyện T về việc bổ nhiệm Sơn Thị Hồng L phụ trách kế toán UBND xã T, thời gian bổ nhiệm 05 năm kể từ ngày 15/01/2020. Quá trình làm việc với vai trò là kế toán từ năm 2020 đến năm 2022, L đã lợi dụng nhiệm vụ được giao, lợi dụng sự tin tưởng của Chủ tịch, chủ tài khoản UBND xã T, L đã sử dụng tài khoản UBND xã T và chữ ký số của Nguyễn Thanh B ký duyệt giấy rút dự toán từ ngân sách Nhà nước, đồng thời nhận tiền mặt từ thủ quỹ Nguyễn Thị Kiều T để chi nhưng không đúng quy định, không có phiếu chi, không có chứng từ thanh toán và L còn chiếm đoạt các khoản tiền có trách nhiệm phải nộp vào ngân sách hoặc phải hoàn trả ngân sách nhưng không nộp dẫn đến gây thiệt hại cho ngân sách vi, cụ thể như sau:

  1. Về khoản tiền rút dự toán để thanh toán tiền sửa máy photo, máy tính; thanh toán chứng từ mua xăng; thanh toán chứng từ mua cây kiểng tạo cảnh quang môi trường và các giấy rút dự toán:

    Ngày 27/01/2022 L lập giấy rút tiền dự toán nội dung thanh toán tiền sửa chữa máy photo, máy vi tính cho cửa hàng Phương N1 (theo hóa đơn số 0048281 ngày 26/01/2022 với số tiền 12.000.000 đồng), tiền mua xăng cho D (theo hóa đơn số 0000809 ngày 05/01/2022 với số tiền 8.035.000 đồng) nhưng thực tế không phát sinh việc sửa chữa máy photocopy, máy vi tính và tiền xăng, tuy nhiên L đã lập chứng từ khống mua hóa đơn bán hàng rồi sử dụng tài khoản, chữ ký số của bị can B để ký duyệt để hoàn trả tạm ứng cho những khoản tiền đã chi không chứng từ, ngoài dự toán ngân sách nên gây thiệt hại cho ngân sách là 20.035.050 đồng.

    Ngày 28/01/2022, L lập giấy rút dự toán ngân sách, sử dụng tài khoản, chữ ký số của bị can B để ký duyệt rút 45.000.000 đồng, nội dung chuyển khoản tiền mua cây kiểng tạo cảnh quang môi trường nhưng không có chứng từ chứng minh việc mua cây kiểng, tuy nhiên L đã chi 2.000.000 đồng cho việc phát hoang (có chứng từ thanh toán) và sử dụng 23.000.000 đồng để hoàn trả tạm ứng cho những khoản tiền đã chi không chứng từ, còn lại 20.000.000 đồng L giữ và chiếm đoạt nên gây thiệt hại ngân sách là 43.000.000 đồng.

    Ngoài ra, L lập 06 giấy rút tiền dự toán ngân sách, sử dụng tài khoản, sử dụng chữ ký số của bị can B ký duyệt để rút 39.540.000 đồng bao gồm ngày 30/12/2021 số tiền 6.080.000 đồng; ngày 31/12/2021 số tiền 2.400.000 đồng; ngày 21/01/2022 số tiền 4.440.000 đồng; ngày 21/01/2022 số tiền 4.180.000 đồng; ngày 24/01/2022 số tiền 4.440.000 đồng; ngày 28/01/2022, số tiền 18.000.000 đồng, thủ quỹ Nguyễn Thị Kiều T rút tiền mặt số tiền này, không nhập vào sổ quỹ tiền mặt của đơn vị để quản lý, chi theo quy định mà sau đó T giao lại cho Linh C nhưng không có chứng từ thanh toán, còn lại 13.470.000 đồng L giữ tiêu xài cá nhân, gây thiệt hại ngân sách là 39.540.000 đồng.

  2. Về khoản tiền hỗ trợ người bị ảnh hưởng Covid-19 theo Nghị quyết 52/NQ-HĐND:

    Theo Nghị quyết 52/NQ-HĐND của HĐND thành phố thì UBND xã T được cấp tiền để hổ trợ cho người bị ảnh hưởng Covid-19, L lập giấy rút tiền, sử dụng tài khoản, chữ ký số của bị can B để ký duyệt, thủ quỹ Nguyễn Thị Kiều T làm Tổ trưởng và đã thực hiện chi tiền hỗ trợ cho người bị ảnh hưởng Covid-19. Riêng ấp P có 21 trường hợp chưa đến nhận với tổng số tiền 42.000.000 đồng, tổ phát tiền đã lập biên bản về việc kết thúc phát tiền hỗ trợ, còn lại số tiền 42.000.000 đồng do T giữ. T báo cáo cho bị can B biết và được B chỉ đạo giao lại 42.000.000 đồng cho L để L làm thủ tục nộp trả lại ngân sách Nhà nước nhưng L không nộp mà giữ lại tiêu xài cá nhân.

  3. Về khoản thanh toán chứng từ tạm ứng hoạt động của Hội đồng nhân dân xã T, huyện T, thành phố Cần Thơ:

    Ngày 26/01/2022 và ngày 27/01/2022 L lập các giấy rút dự toán, sử dụng tài khoản, chữ ký số của bị can B để ký duyệt rút 173.392.000 đồng, thủ quỹ T nhận số tiền này, T đã chi trợ cấp tết cho 16 cá nhân là 14.400.000 đồng và chi cho lực lượng tuần tra canh gác là 5.220.000 đồng theo danh sách được phê duyệt với tổng là 19.720.000 đồng. Còn lại 155.802.000 đồng T không nhập vào sổ quỹ tiền mặt của đơn vị để quản lý, chi theo quy định mà giao lại cho L để Linh chi 40.550.000 đồng nhưng không có chứng từ thanh toán, còn lại 73.682.000 đồng L giữ lại tiêu xài cá nhân, gây thiệt hại ngân sách là 114.232.000 đồng.

  4. Về khoản tiền hỗ trợ cho người bị ảnh hưởng dịch Covid-19 (F0, F1):

    Ngày 08/3/2022 L lập giấy rút tiền tạm ứng chỉ hỗ trợ tiền ăn, hỗ trợ thêm (F0, F1), sử dụng tài khoản, chữ ký số của bị can B để ký duyệt rút 378.560.000 đồng, nội dung chi cho các đối tượng được hỗ trợ. T nhận tiền mặt nhưng không nhập vào sổ quỹ tiền mặt của đơn vị để quản lý, chi theo quy định mà giao lại cho L, L không chi cho các đối tượng được hỗ trợ. Sau khi bị phát hiện không chi tiền cho các đối tượng được hỗ trợ L chỉ giao trả lại cho T số tiền 236.000.000 đồng, còn lại 142.560.000 đồng L giữ lại tiêu xài cá nhân, gây thiệt hại ngân sách 142.560.000 đồng.

  5. Về khoản tiền phụ cấp cho cán bộ ấp, cán bộ thú y, sinh hoạt phí Hội đồng nhân dân xã T:

    Ngày 05/4/2022 và ngày 06/4/2022 L lập 02 giấy rút dự toán, sử dụng chữ ký số của bị can B để ký duyệt rút 136.814.850 đồng, nội dung chi sinh hoạt phí Hội đồng nhân dân xã T và chi phụ cấp cán bộ ấp, cán bộ thú y. Số tiền 136.814.850 đồng được chuyển vào tài khoản (số 2351128029866) của UBND xã T. Sau đó, L sử dụng ứng dụng Viettel Pay soạn nội dung chi giống như chi lương để chuyển 137.000.000 đồng (làm tròn từ số tiền 136.814.850 đồng) vào tài khoản cá nhân của L (số I) mở tại ngân hàng M2. Do số tài khoản của UBND xã T kết nối số điện thoại của bị can B nên L nhờ B đọc mã OTP, vì nội dung chuyển tiền chỉ để chi lương nên B không hỏi gì chỉ đọc mã OTP cho L. Sau khi chuyển tiền thành công, L đã rút tiền mặt 137.000.000 đồng nhưng không chi và chiếm đoạt.

  6. Về khoản tiền chi cho công tác đưa quân, tuyển quân năm 2022:

    Ngày 14/02/2022, L lập giấy rút dự toán, sử dụng chữ ký số của bị can B để ký duyệt rút 39.120.000 đồng, nội dung chi công tác đưa quân, tuyển quân năm 2022. T rút tiền mặt 39.120.000 đồng rồi giao lại cho L để Linh chi tiền cho công tác đưa quân, tuyển quân năm 2022, tuy nhiên L chỉ chi cho công tác này là 20.000.000 đồng (thực tế ông Lê Tấn E đã nhận 20.000.000 đồng và đã chi 24.200.000 đồng, trong đó ông E tự chi tiền cá nhân là 4.200.000 đồng), còn lại 19.120.000 đồng L giữ và chiếm đoạt.

  7. Về khoản tiền thu nộp Quỹ phòng chống thiên tai năm 2020 và năm 2021 của UBND xã T:

    UBND xã T nhiệm vụ cho Nguyễn Thị Mộng T1- Kế toán thu là người trực tiếp thu tiền và nộp tiền Quỹ phòng chống thiên tai năm 2020 và năm 2021 của UBND xã T vào ngân hàng Nhà nước. Tuy nhiên, vào thời điểm năm 2020, T1 đang nghỉ theo chế độ thai sản nên L là người thu và nộp tiền vào ngân sách theo quy định.

    Sau khi trích thù lao cho cán bộ đi thu tiền theo Nghị định số 83/2019/NĐ-CP ngày 12/11/2019 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 94/2014/NĐ-CP ngày 17/10/2014 của Chính phủ quy định về thành lập và quản lý Quỹ phòng chống thiên tai thì tổng số tiền phải nộp Quỹ phòng chống thiên tai của năm 2020 và năm 2021 là 104.223.397 đồng, L đã nộp là 101.369.485 đồng, còn lại số tiền 2.853.912 đồng L không nộp nên gây thiệt hại cho ngân sách, trong đó L chiếm đoạt 1.841.452 đồng, còn lại 1.012.460 đồng là số tiền UBND xã T đã chi vượt quá thù lao quy định cho cán bộ đi thu (trong đó từ tháng 01/2020 đến ngày 19/8/2020, ông Đoàn Tiến N2 giữ chức vụ Chủ tịch UBND xã T nên gây thiệt hại là 1.012.460 đồng; từ ngày 28/10/2020 do Nguyễn Thanh B giữ chức vụ Chủ tịch UBND xã T nên gây thiệt hại là 1.841.452 đồng).

  8. Về khoản tiền thu phí chợ năm 2020 của UBND xã T:

    Năm 2020 UBND xã T thu phí chợ xã T và thực hiện nộp hàng tháng vào ngân sách nhà nước trước ngày 10 của tháng sau, riêng tháng 12 trước ngày 31/12/2020. UBND xã T nhiệm vụ cho Nguyễn Thị Mộng T1 - Kế toán thu là người trực tiếp nhận tiền, tuy nhiên, vào thời điểm năm 2020, T1 đang nghỉ theo chế độ thai sản nên L là người thu và nộp tiền vào ngân sách theo quy định.

    Trong năm 2020 tổng số tiền thu phí chợ của UBND xã T là 233.209.000 đồng, L đã nộp số tiền là 153.001.000 đồng, còn lại số tiền 80.208.000 đồng L không nộp gây thiệt hại và chiếm đoạt (trong đó, giai đoạn từ tháng 01/2020 đến ngày 19/8/2020 do ông Đoàn Tiến N2 giữ chức vụ Chủ tịch UBND xã T gây thiệt hại là 35.415.000 đồng; giai đoạn Nguyễn Thanh B giữ chức vụ Chủ tịch UBND xã T gây thiệt hại là 44.793.000 đồng).

  9. Về khoản tiền UBND huyện T cấp cho UBND xã T, chống dịch Covid-19 và chốt số 10:

    Từ tháng 6/2021 đến tháng 12/2021, UBND xã T được UBND huyện T cấp bổ sung dự toán từ ngân sách Nhà nước để chi hoạt động cho công tác phòng chống dịch Covid-19 và chốt số 10 theo các quyết định: (1) Quyết định số 1866/QĐ-UBND ngày 24/6/2021; (2) Quyết định số 2134/QĐ-UBND ngày 19/7/2021; (3) Quyết định số 2270/QĐ-UBND ngày 10/8/2021; (4) Quyết định số 2375/QĐ-UBND ngày 06/9/2021; (5) Quyết định số 2453/QĐ-UBND ngày 14/9/2021; (6) Quyết định số 3781/QĐ-UBND ngày 24/12/2021; (7) Quyết định số 3641/QĐ-UBND ngày 21/12/2021 với tổng số tiền là 1.279.500.000 đồng.

    L lập giấy rút dự toán rút tiền, sử dụng tài khoản, chữ ký số của bị can B ký duyệt rút 1.279.500.000 đồng, T nhận tiền mặt rồi giao lại cho L, L đã chi cho lực lượng phòng chống dịch là 1.284.222.360 đồng, còn lại 13.277.640 đồng L giữ và chiếm đoạt.

Như vậy, Sơn Thị Hồng L đã chiếm đoạt 543.159.092 đồng trên tổng số tiền gây thiệt hại cho ngân sách là 653.826.602 đồng, trong đó Nguyễn Thanh B gây thiệt hại là 617.399.142 đồng, Đoàn Tiến N2 gây thiệt hại là 36.427.460 đồng, Nguyễn Thị Kiều T gây thiệt hại là 328.729.640 đồng.

Về trách nhiệm dân sự:

Nguyễn Thanh B tự nguyện khắc phục hậu quả là 498.087.050 đồng, Sơn Thị Hồng L nộp khắc phục 25.000.000 đồng, Nguyễn Thị Kiều T đã nộp khắc phục hậu quả số tiền 13.277.640 đồng.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 51/2024/HS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ, quyết định:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Kiều T phạm tội phạm tội “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát lãng phí”.

Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 219; khoản 1 Điều 54; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Kiều T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Ngoài ra, Bản án sơ thẩm còn quyết định tội danh và hình phạt đối với bị cáo Sơn Thị Hồng L và Nguyễn Thanh B, xử lý vật chứng, trách nhiệm dân sự, án phí, quyền kháng cáo và việc thi hành án theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 23/9/2024, bị cáo Nguyễn Thị Kiều T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao phát biểu quan điểm như sau: Bị cáo kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ nào mới, mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên là có phần chiếu cố cho bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo giữ nguyên mức hình phạt như cấp sơ thẩm đã tuyên đối với các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Căn cứ các chứng cứ đã thu thập và lời khai nhận của bị cáo Nguyễn Thị Kiều T, có đủ cơ sở kết luận:

Bị cáo Nguyễn Thị Kiều T là thủ quỹ UBND xã T nhưng không trực tiếp quản lý tiền mặt, không mở sổ quỹ theo dõi và thực hiện việc thu, chi theo đúng quy định. Trái lại, bị cáo này đã giao tiền mặt cho bị cáo L, tạo điều kiện cho bị cáo L chiếm đoạt, dẫn đến gây thiệt hại cho ngân sách với tổng số tiền là 328.729.640 đồng bao gồm: khoản tiền rút dự toán từ các giấy rút dự toán là 39.540.000 đồng; khoản thanh toán chứng từ tạm ứng hoạt động của HĐND xã T là 114.232.000 đồng; khoản tiền hỗ trợ cho người bị ảnh hưởng dịch Covid-19 (F0, F1) là 142.560.000 đồng; khoản tiền chi cho công tác đưa quân, tuyển quân năm 2022 là 19.120.000 đồng; (5) khoản tiền UBND huyện T cấp cho UBND xã T, chống dịch Covid-19 và chốt số 10 là 13.277.640 đồng. Vì lẽ đó, việc Tòa án cấp sơ thẩm xác định hành vi của bị cáo T phạm tội “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát lãng phí” được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 219 Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.

[2] Xét tính chất, mức độ phạm tội và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo T trong vụ án này, thấy rằng:

Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, với lỗi cố ý, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của Nhà nước được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến hoạt động bình thường của UBND xã T và cá nhân, tổ chức khác có liên quan, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo; đồng thời đảm bảo tác dụng răn đe và phòng ngừa chung trong xã hội.

Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét toàn diện các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo luật định, đồng thời có xem xét đến việc bị cáo T không được hưởng lợi. Mức hình phạt 01 năm tù mà cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo T là phù hợp và cần thiết.

Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo, nhưng không xuất trình được tình tiết giảm nhẹ đặc biệt nào mới, vì vậy không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo.

[3] Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[4] Do kháng cáo không được chấp nhận, vì vậy bị cáo T phải chịu án phí phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thị Kiều T.

Giữ nguyên quyết định của bản án hình sự sơ thẩm số 51/2024/HS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

  1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Kiều T phạm tội phạm tội “Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát lãng phỉ”.

    Áp dụng: Điểm d khoản 2 Điều 219; khoản 1 Điều 54; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Kiều T 01 (một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

  2. Bị cáo T phải chịu án phí phúc thẩm 200.000 đồng (hai trăm ngàn).
  3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSNDCC tại TP. Hồ Chí Minh;
  • - TAND TP Cần Thơ;
  • - VKSND TP Cần Thơ;
  • - Cục THADS TP Cần Thơ;
  • - Công an TP Cần Thơ;
  • - Sở Tư pháp TP Cần Thơ;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu: HS, VP, 17bTTLH.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Công Mười

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 436/2025/HS-PT ngày 13/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước gây thất thoát lãng phí

  • Số bản án: 436/2025/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước gây thất thoát lãng phí
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 13/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: y án
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger