Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 436/2024/DSPT

Ngày: 26/9/2024

V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín

dụng, hợp đồng chuyển nhượng

quyền sử dụng đất, hợp đồng thế

chấp quyền sử dụng đất”.

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Minh Trang

Các Thẩm phán: Ông Phạm Hoàng Dũng.

Ông Nguyễn Quyến .

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Văn Ban– Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Ông Lâm Thành Them - Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 307/TLPT-DS ngày 11 tháng 10 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 115/2022/DS-ST ngày 26 tháng 6 năm 2023 của Toà án nhân dân quận Ninh Kiều bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa ra xét xử số 39/2023/QĐ-PT ngày 25 tháng 10 năm 2023, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn: Ngân hàng N6. Địa chỉ: Số B đường L, phường T, quận B, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Phan Văn T – chức vụ: Giám đốc phòng Giao dịch số 02; ông Phan Huy P, Phó trưởng phòng kiểm tra giám sát nội bộ và bà Nguyễn Thanh N, nhân viên Phòng Tổng hợp (có mặt).(Văn bản ủy quyền ngày 05/9/2024).

* Bị đơn: Ông Ngô Trung D, sinh năm 1969 (vắng mặt) và Bà Lý Thị Ánh N1, sinh năm 1975 (vắng mặt). Cùng địa chỉ: Số C đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Lê Văn P1 (đã mất).

    Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông P1:

    1. Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1970 (có mặt)
    2. Ông Lê Văn T1, sinh năm 1986 (có mặt)
    3. Ông Lê Văn A, sinh năm 1988
    4. Bà Lê Thị Thanh N2, sinh năm 1990.

    Cùng địa chỉ: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.

    1. Bà Phạm Thị L, sinh năm 1986. Địa chỉ: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.

    Người đại diện theo ủy quyền của ông A, bà N2, bà L: Bà Nguyễn Thị H (Văn bản ủy quyền ngày 22-6-2021).

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị H: Luật sư Nguyễn Thị Diễm T2 – Luật sư Công ty Luật TNHH MTV Hoàng Nguyễn thuộc Đoàn Luật sư thành phố C. (có mặt)

  2. Ông Lê Văn L1 (đã mất).

    Người kế thừa quyền và nghĩa vụ tố tụng của ông L1:

    1. Bà Nguyễn Thị N3, sinh năm 1932
    2. Bà Lê Thị Cẩm H1, sinh năm 1966 (có mặt)
    3. Bà Lê Thị Hồng M, sinh năm 1970
    4. Bà Lê Thị Đ, sinh năm 1957

    Cùng địa chỉ: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.

    1. Bà Lê Thị Hồng Ả, sinh năm 1963
    2. Bà Lê Thị Lệ T3, sinh năm 1973

    Cùng địa chỉ: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.

    Người đại diện theo ủy quyền của bà N3, bà M, bà Đ, bà Ả, bà T3: Bà Lê Thị Cẩm H1 (Văn bản ủy quyền ngày 10-5-2021).

    1. Ông Lê Văn T4, sinh năm 1967 (có mặt). Địa chỉ: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
  3. Ông Lê Hoàng N4, sinh năm 1979. Địa chỉ: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ.

    Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Quốc D1, sinh năm 1984. Địa chỉ: B T, phường A, quận B, thành phố Cần Thơ. (Văn bản ủy quyền ngày 05/9/2024). (có mặt).

  4. Văn phòng C (có yêu cầu giải quyết vắng mặt). Địa chỉ: Số C đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
  5. Văn phòng C1 thành phố Cần Thơ (nay là Văn phòng C2) (vắng mặt). Địa chỉ: C N, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ.

Người kháng cáo: Người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan có yêu cầu độc lập gồm Nguyễn Thị H, ông Lê Văn T1, ông Lê Hoàng N4 và bà Nguyễn Thị N3.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Trong đơn khởi kiện ngày 15-9-2020 và trong quá trình xét xử đại diện ủy quyền của nguyên đơn trình bày:

Ngày 22-7-2010, Ngân hàng N6 – Chi nhánh thành phố C - Phòng giao dịch số 2 (viết tắt Ngân hàng) đã ký hợp đồng vay với ông Ngô Trung D và bà Lý Thị Ánh N1 vay số tiền: 850.000.000 đồng (T5 trăm năm mươi triệu đồng) theo Hợp đồng tín dụng số: 51/2010/HĐTD; Lãi suất vay: 15%/năm; Thời hạn vay: 60 tháng; Kỳ hạn trả lãi 01 tháng/lần; Mục đích sử dụng vốn vay: Mua xe tải, vận chuyển hàng hóa. Để đảm bảo số tiền vay trên, ông D và bà N1 đã dùng tài sản riêng của mình thế chấp cho Ngân hàng cụ thể là:

+ Tài sản thứ nhất: Theo hợp đồng thế chấp số: 52/2010/HĐTC ngày 22-7-2010, tên tài sản bảo đảm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt GCN QSDĐ) của ông D và bà N1, S phát hành: AN 226367; Số vào sổ cấp GCN: H02249 QSDĐ; Thửa đất số: 496, Tờ bản đồ số 34; Loại đất: Trồng cây lâu năm; Thời hạn sử dụng đến năm 2051. Địa chỉ thửa đất: Hẻm C N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ, Diện tích đất: 42,9m².

+ Tài sản thứ hai: Theo hợp đồng thế chấp số 51/2010/HĐTC ngày 22-7-2010, tên tài sản bảo đảm: GCN QSDĐ của ông D và bà N1; S phát hành: AC 324927; Số vào sổ cấp GCN: H00221: Thửa đất số: 1857; Tờ bản đồ số: 05; Loại đất ODT + CLN; Thời hạn sử dụng: lâu dài + 2042. Địa chỉ thửa đất: Khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ; Diện tích đất: 3.220,00m².

- Ngày 22-7-2015, Ngân hàng đã bán khoản nợ nói trên cho Công ty TNHH MTV Q của các tổ chức tín dụng Việt Nam (theo hợp đồng mua, bán nợ số: 8959/2015/MBN.VAMC1-AGRIBANK ngày 22-7-2015).

- Ngày 22-7-2015, Công ty TNHH MTV Q của các tổ chức tín dụng Việt Nam đã uỷ quyền lại cho Ngân hàng liên quan đến việc mua, bán nợ xấu của khách hàng Ngô Trung D (theo hợp đồng uỷ quyền số 8960/2015/UQ.VAMCI-AGRIBANK).

- Ngày 12-12-2018, Ngân hàng đã tiến hành mua lại khoản nợ của ông Ngô Trung D (theo Công văn số 12715/NHNo –TCKT ngày 12-12-2018 V/v thanh toán trái phiếu đặc biệt trước hạn). Do tình hình kinh doanh gặp khó khăn, làm ăn buôn bán thua lỗ dẫn đến nợ vay kéo dài và không còn khả năng thanh toán được nợ cho Ngân hàng.Tính đến ngày 15-9-2020, ông D và bà N1 phải thanh toán đầy

đủ số tiền vay là: 1.732.593.750 đồng (Một tỷ bảy trăm ba mươi hai triệu năm trăm chín mươi ba ngàn bảy trăm năm mươi đồng). Trong đó: số tiền gốc 800.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn 724.680.000 đồng, tiền lãi quá hạn 207.913.750 đồng (lãi tạm tính đến ngày 14-9-2020).

Ngân hàng khởi kiện buộc ông D và bà N1 phải có trách nhiệm trả toàn bộ số nợ gốc, lãi trên và lãi phát sinh đến khi thanh toán hết nợ vay. Nếu ông D và bà N1 không hoàn trả đầy đủ nợ gốc và lãi phát sinh, Ngân hàng đề nghị Tòa án phát mãi các tài sản thế chấp để thu hồi nợ.

* Tại đơn yêu cầu độc lập ngày 28-6-2021 và trong quá trình xét xử, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Nguyễn Thị H trình bày: Vào khoảng năm 2001, ông Lê Văn P1 (chồng của bà) có nhận chuyển nhượng phần diện tích đất khoảng 1700m² (gồm đất ở 400m² và đất vườn 1300m²) của ông Lê Văn N5 tại thửa số: 1857 với số vàng là 3,6 lượng vàng 24K. Khi nhận chuyển nhượng 02 bên có làm giấy mua bán tay, bà đã trả đủ vàng cho ông N5 và ông N5 đã giao đất cho bà sử dụng. Sau khi nhận chuyển nhượng, bà đã cất căn nhà trên đất có diện tích và cấu trúc như sau: Chiều ngang khoảng 5m, chiều dài khoảng 15m, nền lót gạch tàu, vách tol, mái lợp tol, cột gỗ. Căn nhà này gia đình bà sử dụng từ năm 2001 cho đến nay. Ông Lê Văn P1 mất vào ngày 13-3-2006, bà và ông P1 có tất cả 03 người con gồm: Lê Văn T1, Lê Văn A và Lê Thị Thanh N2.Trước khi ông N5 chết đã làm thủ tục sang tên cho con là ông Lê Hoàng N4, trong thời gian ông bà thỏa thuận với ông N4 để sang tên phần diện tích đã chuyển nhượng nhưng không hiểu vì lý do gì mà ông Ngô Trung D lại sang tên giấy đất từ ông N4 sang ông D, gia đình bà cũng như ông N4 không hay biết. Bà xác định việc ông D ký hợp đồng chuyển nhượng ngày 27-10-2009 tại Văn phòng công chúng 24h là giả mạo chữ ký của ông N4. Sau đó, ông D thế chấp GCN QSDĐ để vay Ngân hàng. Tại thời điểm Ngân hàng nhận thế chấp không tiến hành xác minh tài sản trên đất, trong đó có căn nhà của gia đình bà cũng như mồ mả họ tộc của gia đình ông N4 là trái với quy định của pháp luật. Bà đề nghị Tòa án xem xét giải quyết yêu cầu độc lập: Hủy hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng với ông Ngô Trung D; đề nghị công nhận phần diện tích bà nhận chuyển nhượng để bà có toàn quyền sử dụng và cấp GCN QSDĐ cho bà theo đúng quy định của pháp luật; hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Lê Hoàng N4 và ông Ngô Trung D.

* Tại đơn yêu cầu độc lập ngày 15-02-2022 và trong quá trình xét xử, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Nguyễn Thị N3 trình bày:

Vào khoảng năm 1998, bà và ông Lê Văn L1 (chồng của bà) có nhận chuyển nhượng phần diện tích đất khoảng 600m² (loại đất vườn, 01 cái bờ) của ông Lê Văn N5 tại thửa số: 1857 với số vàng là 02 chỉ rưỡi vàng 24K. Khi nhận

chuyển nhượng 02 bên có làm giấy mua bán viết tay, vợ chồng bà đã trả đủ cho ông N5 và ông N5 đã giao đất cho vợ chồng bà sử dụng cho đến ngày hôm nay.

Ông Lê Văn L1 mất vào ngày 28-10-2007, bà và ông L1 có tất cả 06 người con gồm: Lê Thị Đ, Lê Thị Hồng Ả, Lê Thị Hồng M, Lê Thị Cẩm H1, Lê Thị Lệ T3 và Lê Văn T4.

Trước khi ông N5 mất đã làm thủ tục sang tên cho con là ông Lê Hoàng N4, trong thời gian ông bà thỏa thuận với ông N4 để sang tên phần diện tích đã chuyển nhượng nhưng không hiểu vì lý do gì mà ông Ngô Trung D lại sang tên giấy đất từ ông N4 sang ông D, ông bà cũng như ông N4 không hay biết.

Bà xác nhận việc ông D ký hợp đồng chuyển nhượng ngày 27-10-2009 tại Văn phòng công chúng 24h là giả mạo chữ ký của ông N4. Sau đó, ông D thế chấp GCN QSDĐ để vay Ngân hàng. Tại thời điểm Ngân hàng nhận thế chấp không tiến hành xác minh tài sản trên đất là trái với quy định của pháp luật.

Bà đề nghị Tòa án xem xét giải quyết yêu cầu độc lập: Hủy hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng với ông Ngô Trung D; đề nghị công nhận phần diện tích vợ chồng bà nhận chuyển nhượng để gia đình bà có toàn quyền sử dụng và cấp GCN QSDĐ cho bà đúng theo quy định của pháp luật; hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Lê Hoàng N4 và ông Ngô Trung D.

* Tại đơn yêu cầu độc lập ngày 21-01-2022 và trong quá trình xét xử, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – bà Lê Thị Cẩm H1 trình bày:

Vào khoảng năm 1998, ông Lê Văn L1 (cha của bà) có nhận chuyển nhượng phần diện tích đất khoảng 600m² (loại đất vườn, 01 cái bờ) của ông Lê Văn N5 tại thửa số: 1857 với số vàng là 2,5 chỉ vàng 24K. Khi nhận chuyển nhượng 02 bên có làm giấy mua bán tay, cha bà đã trả đủ cho ông N5 và ông N5 đã giao đất cho cha bà sử dụng cho đến hôm nay. Cha bà mất vào ngày 28-10-2007, cha và mẹ của bà (bà Nguyễn Thị N3) có tất cả 06 người con gồm: Lê Thị Đ, Lê Thị Hồng Ả, Lê Thị Hồng M, Lê Thị Cẩm H1, Lê Thị Lệ T3 và Lê Văn T4.

Trước khi ông N5 mất đã làm thủ tục sang tên cho con là ông Lê Hoàng N4, trong thời gian thỏa thuận với ông N4 để sang tên phần diện tích đã chuyển nhượng nhưng không hiểu vì lý do gì mà ông Ngô Trung D lại sang tên giấy đất từ ông N4 sang ông D, cha mẹ bà cũng như ông N4 không hay biết. Bà xác nhận việc D ký hợp đồng chuyển nhượng ngày 27-10-2009 tại Văn phòng C là giả mạo chữ ký của ông N4. Sau đó, ông D thế chấp GCN QSDĐ để vay Ngân hàng. Tại thời điểm Ngân hàng nhận thế chấp không tiến hành xác minh tài sản trên đất là trái với quy định của pháp luật.

Bà đề nghị Tòa án xem xét giải quyết yêu cầu độc lập: Hủy hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng với ông Ngô Trung D; đề nghị công nhận phần diện tích cha

mẹ bà nhận chuyển nhượng để gia đình bà có toàn quyền sử dụng và cấp GCN QSDĐ cho bà đúng theo quy định của pháp luật; hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa ông Lê Hoàng N4 và ông Ngô Trung D.

* Tại đơn yêu cầu độc lập ngày 18-6-2021 và trong quá trình xét xử, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Lê Hoàng N4 trình bày:

Nguyên vào năm 2009, do cần vốn xoay sở trong việc chuyện gia đình, nên ông có vay của ông H1 số tiền là: 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng), trong lúc vay, ông H1 buộc ông phải thế chấp 02 GCN QSDĐ số H00220 do ông đứng tên, chỉnh lý trang 4 ngày 17-8-2005 và GCN QSDĐ số H00221 do ông đứng tên chỉnh lý trang 4 ngày 17-8-2005 cùng với chứng minh nhân dân (bản chính) và sổ hộ khẩu (bản chính) để làm tin.

Thế nhưng, vào ngày 27-10-2009, không hiểu bằng cách nào, ông Ngô Trung D lại lập thủ tục chuyển nhượng giả tên ông để chuyển nhượng GCN QSDĐ số H00221 do ông đứng tên chỉnh lý trang 4 ngày 17-8-2005 qua tên ông Ngô Trung D. Sau đó, ông D sang tên và vay Ngân hàng mà ông không hay biết. Ông xác định ông D ký hợp đồng chuyển nhượng là giả mạo chữ ký của ông, ông không biết ông D là ai và ông cũng không làm thủ tục vay Ngân hàng N6 - Chi nhánh N7. Hiện nay, ông H1 đang còn giữ GCN QSDĐ số H00220 do UBND quận Ô cấp chỉnh lý trang 4 ngày 17-8-2005 do ông đứng tên. Nhiều lần ông có yêu cầu ông H1 giao trả, thế nhưng ông H1 cố tình không trả cho ông, đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của ông.

Nay, ông được biết Ngân hàng đang khởi kiện ông Ngô Trung D tại Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều và Tòa án xác định bà Nguyễn Thị H và bà Phạm Thị L là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ kiện, hai người này là người đang trực tiếp ở trên phần đất của ông.

Ông xác định không ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông Ngô Trung D, đồng thời khi lập thủ tục thế chấp thì Ngân hàng cũng không xuống để xác minh tài sản thế chấp. Do vậy, ông làm đơn yêu cầu độc lập đề nghị Tòa án xem xét hủy hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng với ông Ngô Trung D; hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa ông và ông Ngô Trung D; đề nghị Tòa án kiến nghị UBND quận N thu hồi GCN QSDĐ đứng tên ông Ngô Trung D ngày 03-11-2009, số phát hành AC 324927, số vào sổ cấp GCN QSDĐ H00221, để chỉnh lý trả lại cho ông theo đúng quy định của pháp luật.

* Tại bản tự khai ngày 28-4-2021 và trong quá trình xét xử, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T1 trình bày: Vào khoảng năm 2001, cha ông là ông Lê Văn P1 có mua phần đất do ông Lê Văn N5 bán một cái nền nhà khoảng 520m², khoảng 02 năm sau ông Lê Văn N5 sang thêm 03 cái bờ. Cha ông đã chết

vào ngày 13-3-2006, cha mẹ ông có 03 người con gồm: Lê Văn T1, Lê Văn A, Lê Thị Thanh N2. Phần đất cha ông đã mua yêu cầu Tòa án công nhận quyền sở hữu hợp pháp cho gia đình ông.

* Tại bản tự khai ngày 21-01-2022 và trong quá trình xét xử, bà Lê Thị Cẩm H1 là người đại diện theo ủy quyền của bà Lê Thị Đ, bà Lê Thị Hồng M trình bày: Bà Lê Thị Đ, bà Lê Thị Hồng M là con của ông Lê Văn L1 và bà Nguyễn Thị N3. Lúc cha còn sống có mua bán phần đất do ông Lê Văn N5 và bà Lê Thị D2 bán phần đất là một cái bờ bề ngang 3 tầm, bề dài 22 tầm 3 thước (một tầm là 3 mét) bằng số vàng 2 chỉ vàng 5 phân 24K. Do cha đã mất vào ngày 28-10-2007, phần đất cha đã mua trên, bà Đ và bà M yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng hợp pháp cho mình.

* Tại bản tự khai ngày 28-4-2021 và trong quá trình xét xử, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Hồng Ả trình bày: Bà là con của ông Lê Văn L1 và bà Nguyễn Thị N3. Lúc cha bà còn sống có mua bán phần đất do ông Lê Văn N5 và bà Lê Thị D2 bán phần đất là một cái bờ bề ngang 3 tầm, bề dài 22 tầm 3 thước (một tầm là 3 mét) bằng số vàng 2 chỉ vàng 5 phân 24K. Do cha bà đã mất vào ngày 28-10-2007, phần đất cha bà đã mua trên, bà yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng hợp pháp cho bà.

* Tại bản tự khai ngày 28-4-2021 và trong quá trình xét xử, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị Lệ T3 trình bày: Bà là con của ông Lê Văn L1 và bà Nguyễn Thị N3. Lúc cha bà còn sống có mua bán phần đất do ông Lê Văn N5 và bà Lê Thị D2 bán phần đất là một cái bờ bề ngang 3 tầm, bề dài 22 tầm 3 thước (một tầm là 3 mét) bằng số vàng 2 chỉ vàng 5 phân 24K. Do cha bà đã mất vào ngày 28-10-2007, phần đất cha bà đã mua trên, bà yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng hợp pháp cho bà.

* Tại bản tự khai ngày 28-4-2021 và trong quá trình xét xử, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T4 trình bày: Vào khoảng năm 1998, cha ông là ông Lê Văn L1 có mua phần đất do ông Lê Văn N5 và bà Lê Thị D2 bán phần đất là một cái bờ bề ngang 3 tầm, bề dài 22 tầm 3 thước (một tầm là 3 mét) bằng số vàng 2 chỉ 5 phần vàng 24K. Ông Lê Văn L1 đã mất ngày 28-10-2007, phần đất này ông đang canh tác, ông yêu cầu Tòa án công nhận quyền sử dụng hợp pháp cho ông đối với phần đất trên.

* Tại Văn bản số 27/VPCC ngày 13-3-2023 của Văn phòng công chứng 24h trình bày: Văn phòng công chứng 24h bận giải quyết công việc của văn phòng, xin không tham gia tố tụng từ giai đoạn kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho đến xét xử. Đề nghị Tòa án tiến hành theo quy định của pháp luật.

Vụ việc được hòa giải nhưng không thành nên đưa ra xét xử, tại Bản án sơ thẩm số: 115/2023/DSST ngày 26 tháng 6 năm 2023 của Toà án nhân dân quận Ninh Kiều đã tuyên như sau:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N6 đối với bị đơn ông Ngô Trung D, bà Lý Thị Ánh N1.

    Buộc ông Ngô Trung D, bà Lý Thị Ánh N1 phải trả cho Ngân hàng N6 số nợ gốc, lãi tính đến ngày 26-6-2023 là 1.265.372.000 đồng (Trong đó nợ gốc: 800.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 465.372.000 đồng).

    Trường hợp ông Ngô Trung D, bà Lý Thị Ánh N1 không trả được số nợ trên hoặc trả nợ không đủ cho Ngân hàng N6 thì Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là:

    + Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 496, tờ bản đồ số 34, diện tích 42,9m² (CLN) tọa lạc tại hẻm C, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ theo GCN QSDĐ số AN226367, số vào sổ cấp GCN QSDĐ H02249.QSDĐ do UBND quận N cấp ngày 09-9-2008 cho ông Ngô Trung D theo hợp đồng thế chấp tài sản số 52/2010/HĐTC ngày 22-7-2010.

    + Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 1857, tờ bản đồ số 05, diện tích 3220,0m² (ODT + CLN) tọa lạc tại khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ theo GCN QSDĐ số AC324927, số vào sổ cấp GCN QSDĐ H00221 do UBND quận Ô cấp ngày 13-7-2005 cho hộ ông Lê Văn N5 được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất quận Ô chỉnh lý biến động sang ông Ngô Trung D vào ngày 03-11-2009 theo hợp đồng thế chấp tài sản số 51/2010/HĐTC ngày 22-7-2010 (trừ đi phần đất khu mộ với diện tích 278,5m² tại vị trí E theo Bản trích đo địa chính số 48).

    Kể từ ngày 27-6-2023 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của BLDS năm 2015.

  2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả tiền lãi quá hạn.
  3. Ghi nhận Ngân hàng giao phần đất khu mộ với diện tích 278,5m² tại vị trí E theo Bản trích đo địa chính số 48 cho ông Lê Hoàng N4 quản lý.
  4. Không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị N3, bà Lê Thị Cẩm H1 và ông Lê Hoàng N4.

Ngoài ra, bản án còn tuyên về án phí, chi phí định giá và quyền kháng cáo của đương sự theo quy định của pháp luật.

Không đồng ý với bản án sơ thẩm,

Ngày 12 tháng 7 năm 2023: Ông Lê Hoàng N4 kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu độc lập của ông N4: Huỷ hợp đồng thế chấp giữa ông Ngô Trung D với Ngân hàng; hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa ông và ông Ngô Trung D; đề nghị Tòa án kiến nghị UBND quận N thu hồi GCN QSDĐ đứng tên ông Ngô Trung D ngày 03-11-2009, số phát hành AC 324927, số vào sổ cấp GCN QSDĐ H00221, để chỉnh lý trả lại cho ông theo đúng quy định của pháp luật. bác một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc phát mãi là quyền sử dụng đất tại thửa 1857, tờ bản đồ số 05, diện tích 322,0m² theo Hợp đồng thế chấp số 51; Trường hợp không khắc phục được những vi phạm về thủ tục tố tụng thì đề nghị huỷ án sơ thẩm.

Cùng ngày 17 tháng 7 năm 2023: Những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là bà Nguyễn Thị H, ông Lê Văn T1; với bà Nguyễn Thị N3 cùng có kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của bà H.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay:

* Quan điểm của luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bà Nguyễn Thị H: Vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị sửa án sơ thẩm, theo hướng chấp nhận yêu cầu độc lập của bà H, yêu cầu vô hiệu hợp đồng thế chấp vì cho Ngân hàng khi thực hiện việc cho vay thủ tục thế chấp tài sản là quyền sử dụng đất. Quá trình vay Ngân hàng đã bỏ qua các bước thẩm định tài sản thế chấp nên trên đất còn có nhà của các hộ dân sinh sống không liên quan đến người thế chấp. Đề nghị hủy một phần Hợp đồng thế chấp số 51/2010/HĐTC ngày 22-7-2010 giữa Ngân hàng với ông Ngô Trung D bởi vì Ngân hàng nhận thế chấp tài sản sau việc chuyển nhượng, hợp đồng chuyển nhượng của bà H có trước nên đề nghị hủy một phần hợp đồng thế chấp liên quan đến phần đất bà H đã nhận chuyển nhượng. Đồng thời không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

* Bà Nguyễn Thị H thống nhất với ý kiến của luật sư. Để phần nào giảm bớt thiệt hại cho Ngân hàng bà đồng ý trả 20.000.000 đồng để Ngân hàng thu nợ gốc của các bị đơn

* Ông Lê Văn T1: Không trình bày gì thêm

* Bà Lê Thị Cẩm H1 trình bày: Bà và bà Nguyễn Thị N3 giữ nguyên yêu cầu độc lập, yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký giữa ông Lê Hoàng N4 với ông Ngô Trung D, hủy hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất giữa Ngân hàng với ông Ngô Trung D, yêu cầu công nhận phần diện tích đất ông Lê Văn L1 (chồng của bà N3) đã mua của ông Lê Văn N5 theo “Tờ sang đất”, phần đất yêu cầu công nhận diện tích 604,0m² (phần đất ký hiệu D theo Bản trích đo địa chính số 48) cho gia đình bà. Để phần nào giảm bớt thiệt hại cho Ngân hàng bà đồng ý trả 30.000.000 đồng để Ngân hàng thu nợ gốc của các bị đơn

* Đại diện của Ông Lê Hoàng N4: vẫn giữ yêu cầu kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu độc lập của ông N4: Huỷ hợp đồng thế chấp giữa ông Ngô Trung D với Ngân hàng; hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa ông và ông Ngô Trung D; đề nghị Tòa án kiến nghị UBND quận N thu hồi GCN QSDĐ đứng tên ông Ngô Trung D ngày 03-11-2009, số phát hành AC 324927, số vào sổ cấp GCN QSDĐ H00221, để chỉnh lý trả lại cho ông theo đúng quy định của pháp luật. bác một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc phát mãi là quyền sử dụng đất tại thửa 1857, tờ bản đồ số 05, diện tích 322,0m² theo Hợp đồng thế chấp số 51; đối với số tiền 25 triệu đồng theo thời gian hơn 15 năm qua, nếu xét xử chuyển trả lại cho ông N4 toàn bộ phần đất tại thửa 1857,ông N4 sẽ trừ gốc lãi tổng cộng 75 triệu đồng để phần nào Ngân hàng thu được phần nợ gốc, các hộ dân là bà N3, bà H đều là thân nhân với nhau nên sau đó các bên sẽ tự chủ động giải quyết tách thửa cho nhau. Thực tế giao dịch của ông nam với ông D là giả tạo nên đề nghị vô hiệu, bản thân tại vị trí E biên bản thẩm định ghi nhận là của ông D là chưa chính xác vì ông D không sử dụng đất tại đây; phần đất mộ để giữ lại nhưng nếu sau này phát mãi thì ông N4 sẽ bị ảnh hưởng vì không có đường đi vào khu mộ. Như đã nêu trên nếu trường hợp không khắc phục được những vi phạm về thủ tục tố tụng thì đề nghị huỷ án sơ thẩm.

* Đại diện ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Các giao dịch mua bán đất của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chỉ làm bằng giấy tay, không có công chứng theo quy định. Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Lê Hoàng N4 với bị đơn cũng đã có kết luận giám định của V - Bộ C3 kết luận. Luật Ngân hàng N8 không quy định về việc thẩm định tài sản. Căn cứ vào quy định tại khoản 2 Điều 133 Bộ luật Dân sự năm 2015 và mục 1 phần 2 của Công văn số 64 ngày 03-4-2019 của Tòa án nhân dân tối cao để xác định Ngân hàng ngay tình. Đề nghị giữ Y bản án sơ thẩm.

* Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ:

Về thực hiện pháp luật: Thẩm phán chủ tọa phiên tòa và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý đến khi xét

xử theo trình tự phúc thẩm. Các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự đối với người tham gia tố tụng.

Đơn và thời hạn nộp tạm ứng kháng cáo của trong hạn luật định nên được xem là hợp lệ về mặt hình thức.

Về nội dung kháng cáo: Nguồn gốc thửa đất 1857 do ông N5 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 13/7/2005. Ngày 27/6/2005, ông N5 chuyển nhượng toàn bộ thửa đất cho ông N4. Ngày 27/10/2009, ông N4 chuyển nhượng toàn bộ thửa đất này cho ông D, Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất quận Ô chỉnh lý sang tên ông D ngày 03/11/2009.

Xét đối với yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất cho bà H1, bà N3, bà H, ông T1, nhận thấy: Căn cứ điểm b.3 tiểu mục 2.3 mục 2 phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình: Mặc dù hợp đồng chuyển nhượng giữa ông N5 với ông P1, giữa ông N5 với ông L1 không có công chứng hoặc chứng thực; thời điểm chuyển nhượng, ông N5 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng ông P1, ông L1 đã nhận đất sử dụng, ông P1 xây dựng nhà ở ổn định từ khi nhận chuyển nhượng đến nay; sau khi ông N4 (con ông N5) được cấp giấy chứng nhận vào năm 2005 cũng không phản đối việc ông P1, ông L1 sử dụng đất, hiện nay ông N4 cũng đồng ý tách phần đất đã chuyển nhượng cho phía gia đình ông P1 (bà H), gia đình L1 (bà N3), nên đủ điều kiện để công nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đã viện dẫn. Cụ thể, công nhận cho gia đình bà H được sử dụng diện tích đất 1.739,9m², công nhận cho gia đình bà N3 được sử dụng diện tích đất 604m² tại thửa 1857.

- Xét đối với yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng với ông D, nhận thấy:. Căn cứ Điều 434 Bộ luật Dân sự năm 2005 và điểm a khoản 1 Điều 130 Luật Đất đai năm 2003; điểm c khoản 1 Điều 10, điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị định số 163/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện, tất cả các thủ tục liên quan đến việc Ngân hàng cho vay đều thực hiện cùng một ngày 22/7/2010. Do đó, có cơ sở để xác định, trước khi Ngân hàng giải ngân, cán bộ tín dụng không tiến hành xem xét thẩm định thực tế tài sản, dẫn đến không phát hiện gia đình bà H, gia đình bà N3 đang sử dụng đất. Như đã phân tích nêu trên, gia đình bà H được công nhận diện tích đất 1.739,9m², gia đình bà N3 được cộng nhận diện tích đất 604m², nên cần hủy một phần hợp đồng thế chấp đối với diện tích đất này tại thửa 1857 là phù hợp.

- Xét đối với yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa ông D với ông N4, nhận thấy: Ngày 27/10/2009, ông N4 ký hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ thửa đất 1857 cho ông D, hợp đồng được công chứng tại Văn phòng C. Ngày 03/11/2009, Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất quận Ô chỉnh lý sang tên ông D. Tại Kết luận giám định số 175/KL-KTHS ngày 26/8/2022 của V, Bộ C3 kết luận, chữ ký, chữ viết đứng tên Lê Hoàng N4 trong hợp đồng chuyển nhượng so với chữ ký, chữ viết của Lê Hoàng N4 trên các mẫu so sánh do cùng một người ký, viết ra. Như vậy, có cơ sở để xác định, ông N4 đã chuyển nhượng thửa đất 1857 cho ông D. Hiện tại, ông D đã được công nhận quyền sử dụng đất thông qua việc chỉnh lý sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, trước khi ông D nhận chuyển nhượng, gia đình bà H, gia đình bà N3 đã nhận chuyển nhượng và đang trực tiếp sử dụng đất, đủ điều kiện công nhận quyền sử dụng đất như đã phân tích, nên cần hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng đối với diện tích đất 1.739,9m² do gia đình bà H đang sử dụng, diện tích đất 604m² do gia đình bà N3 đang sử dụng tại thửa 1857 là phù hợp.

- Đối với yêu cầu của ông N4 về việc không đồng ý phát mãi thửa đất 1857, nhận thấy: Căn cứ khoản 1 Điều 299 Bộ luật Dân sự quy định các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm: “Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”. Do ông D không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là phù hợp. Tuy nhiên, khi phát mãi thửa đất 1857 thì cần cấn trừ diện tích khu mộ 278,5m², diện tích gia đình bà H đang sử dụng 1.739,9m², diện tích gia đình bà N3 đang sử dụng 604m² do đã được công nhận quyền sử dụng đất cho gia đình bà H, bà N3 như đã phân tích.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của bà H, bà N3, bà H1, ông N4 và buộc bà H, bà H1, ông N4 phải chịu án phí có giá ngạch là chưa đúng theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án nên đề nghị sửa lại án phí.

Từ những phân tích trên, đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 115/2023/DS-ST ngày 26/6/2023 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, chấp nhận một phần kháng cáo của bà H1, bà H, bà N3, ông T1, ông N4 theo hướng phân tích như đã nêu trên.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại tòa phúc thẩm; Căn cứ vào kết quả tranh luận trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên, những người tham gia tố tụng khác

  1. [1] Về quan hệ pháp luật: Căn cứ vào đơn khởi kiện ngày 15-9-2020 và Hợp đồng tín dụng ngày 22-7-2010 cho thấy giữa nguyên đơn với bị đơn có giao dịch vay mượn, do phía bị đơn không thực hiện đúng nghĩa vụ trả vốn, lãi cho nguyên đơn nên nguyên đơn có đơn khởi kiện; trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án có ban hành các thông báo thụ lý vụ án bổ sung đối với các yêu cầu độc lập của những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nên quan hệ tranh chấp đầy đủ là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng; tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tranh chấp hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 như án sơ thẩm nhận định là phù hợp.
  2. [2] Căn cứ vào kết quả xác minh của Công an phường A, quận N, thành phố Cần Thơ thể hiện ông D, bà N1 có đăng ký thường trú tại 3 đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ nhưng hiện tại không cư trú tại địa phương, rời địa phương năm 2016, không rõ địa chỉ. Nguyên đơn đã ghi đúng địa chỉ của ông D, bà N1 trong đơn khởi kiện theo địa chỉ tại hợp đồng tín dụng; ông D, bà N1 thay đổi nơi cư trú mà không thông báo cho nguyên đơn biết địa chỉ nơi cư trú mới cũng được coi là cố tình giấu địa chỉ theo hướng dẫn tại khoản 2 Điều 6 Nghị quyết số 04/2017/NQ - HĐTP ngày 05-5-2017 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Cấp sơ thẩm xác định có đủ cơ sở xác định địa chỉ của bị đơn tại quận N, thành phố Cần Thơ. Căn cứ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ là phù hợp.
  3. [3] Về thủ tục tố tụng: Ông Ngô Trung D, bà Lý Thị Ánh N1 và Văn phòng C2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt; Văn phòng công chứng 24h có yêu cầu giải quyết vắng mặt. Tòa án cấp sơ thẩm và phúc thẩm áp dụng Điều 227, Điều 228 BLTTDS năm 2015 để xét xử vắng mặt là phù hợp quy định của pháp luật.
  4. [4] Về thủ tục hình thức kháng cáo: Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập có đơn kháng cáo trong hạn luật định, đã nộp tiền tạm ứng án phí hoặc thuộc trường hợp được miễn nộp án phí nên hợp lệ về mặt hình thức.
  5. [4] Xét nội dung kháng cáo: Để xét kháng cáo, cần đánh giá khách quan toàn diện nội dung, cần thiết phải xem xét lại toàn bộ hồ sơ các bên đã thực hiện đối chiếu với quy định của pháp luật.
  6. [5] Xét hợp đồng tín dụng, giữa Ngân hàng và bị đơn ký kết hợp đồng tín dụng vào ngày 22/7/2010. Căn cứ vào Bảng kê tính lãi từ ngày 09-9-2011 đến ngày

26-6-2023 nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả tiền lãi trong hạn 465.372.000 đồng là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận. Đối với tiền lãi quá hạn, tại phiên tòa sơ thẩm đại diện nguyên đơn cho rằng do chính sách của ngân hàng thay đổi nên nguyên đơn rút lại yêu cầu khởi kiện đối với số tiền lãi quá hạn, việc rút một phần đối với số tiền lãi của đại diện nguyên đơn là hoàn toàn tự nguyện, không vượt quá yêu cầu khởi kiện, có lợi cho bị đơn nên cấp sơ thẩm chấp nhận và đình chỉ xét xử đối với phần yêu cầu trả tiền lãi quá hạn theo quy định tại khoản 2 Điều 244 BLTTDS năm 2015.Các bên cũng không kháng cáo phần này nên không đặt ra xem xét lại.

  1. [6] Để đảm bảo cho khoản vay, bị đơn đã ký 02 Hợp đồng thế chấp, gồm có:
    1. [6.1] Hợp đồng thế chấp tài sản số 52/2010/HĐTC ngày 22-7-2010, số công chứng 3512, quyển số 01/2010/TP/CC-SCC/HĐGD tại Phòng công chứng số 2 thành phố C (nay là Văn phòng C2), đăng ký thế chấp ngày 22-7-2010 tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất quận N (tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 496, tờ bản đồ số 34, diện tích 42,9m² (CLN) tọa lạc tại hẻm C, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ theo GCN QSDĐ số AN226367, số vào sổ cấp GCN QSDĐ H02249.QSDĐ do UBND quận N cấp ngày 09-9-2008 cho ông Ngô Trung D. Hợp đồng thế chấp này không bị kháng cáo, kháng nghị nên có hiệu lực và khi Ngân hàng có yêu cầu thi hành án thì xử lý tài sản bảo đảm để thực hiện nghĩa vụ trả nợ.
    2. [6.2] Hợp đồng thế chấp tài sản số 51/2010/HĐTC ngày 22-7-2010, số công chứng 3511, quyển số 01/2010/TP/CC-SCC/HĐGD tại Phòng công chứng số 2 thành phố C (nay là Văn phòng C2), đăng ký thế chấp ngày 22-7-2010 tại Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất quận Ô (tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 1857, tờ bản đồ số 05, diện tích 3220,0m² (ODT + CLN) tọa lạc tại khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ theo GCN QSDĐ số AC324927, số vào sổ cấp GCN QSDĐ H00221 do UBND quận Ô cấp ngày 13-7-2005 cho hộ ông Lê Văn N5 được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất quận Ô chỉnh lý biến động sang ông Ngô Trung D vào ngày 03-11-2009).

    Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tranh chấp đều liên quan đến phần nhà đất trên Hợp đồng thế chấp tài sản số 51/2010/HĐTC ngày 22-7-2010. Lần lượt phân tích lồng ghép và sẽ có đánh giá hợp đồng này sau khi đánh giá các yêu cầu độc lập của những người có liên quan.

  2. [7] Nguồn gốc thửa đất 1857 do ông N5 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 13/7/2005, diện tích 3.220,00m². Ngày 27/6/2005, ông N5 chuyển nhượng toàn bộ thửa đất cho ông N4, Phòng T6 chỉnh lý sang tên ông N4 ngày

17/8/2005. Ngày 27/10/2009, ông N4 chuyển nhượng toàn bộ thửa đất này cho ông D, Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất quận Ô chỉnh lý sang tên ông D ngày 03/11/2009.

  1. [8] Xét yêu cầu độc lập công nhận quyền sử dụng đất cho bà H1, bà N3, bà H, ông T1, nhận thấy:
    1. [8.1] Bà Nguyễn Thị H căn cứ vào “Tờ hợp đồng mua bán đất” ngày 16-3-2001 và “Giấy nhượn đất” không thể hiện ngày tháng năm ký giữa ông Lê Văn N5 với ông Lê Văn P1 (chồng của bà) để yêu cầu công nhận phần diện tích 1.739,9m² (vị trí A + C theo Bản trích đo địa chính số 48); đồng thời yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ký ngày 27-10-2009 giữa ông Lê Hoàng N4 với ông Ngô Trung D và hủy một phần hợp đồng thế chấp tài sản số 51/2010/HĐTC ngày 22-7-2010 ký giữa Ngân hàng với ông Ngô Trung D liên quan đến phần diện tích đất gia đình đã nhận chuyển nhượng.

    Theo “tờ sang đất” thể hiện, vợ chồng ông N5, bà D2 chuyển nhượng cho ông L1 (chồng bà N3, cha bà H1) một cái bờ ngang 3 tầm, dài 22 tầm 3 thước với giá 02 chỉ 05 phân vàng 24. “Tờ sang đất” không ghi ngày, tháng, năm, không công chứng hoặc chứng thực, theo lời trình bày của phía gia đình ông L1 thì ông L1 đã giao đủ vàng và nhận đất sử dụng đến nay.

    Cả hai giấy này đều không có công chứng hoặc chứng thực, theo lời trình bày của phía gia đình ông P1 thì ông P1 đã giao đủ vàng và nhận đất, xây dựng nhà ở ổn định đến nay.

    1. [8.2] Căn cứ điểm b.3 tiểu mục 2.3 mục 2 phần II Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10/8/2004 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình quy định: “Đối với hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất vi phạm điều kiện được hướng dẫn tại điểm a.4 và điểm a.6 tiểu mục 2.3 mục 2 này, nếu sau khi thực hiện hợp đồng chuyển nhượng, bên nhận chuyển nhượng đã trồng cây lâu năm, đã làm nhà kiên cố... và bên chuyển nhượng không phản đối và cũng không bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính theo các quy định của Nhà nước về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai, thì Toà án công nhận hợp đồng. Nếu bên nhận chuyển nhượng chỉ làm nhà trên một phần đất, thì Toà án công nhận phần hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng phần đất có nhà ở và hủy phần hợp đồng đối với diện tích đất còn lại, buộc bên nhận chuyển nhượng giao trả phần đất đó cho bên chuyển nhượng, trừ trường hợp việc giao trả không bảo đảm mục đích sử dụng cho cả hai bên giao kết hợp đồng, đồng thời buộc các bên thanh toán cho nhau phần chênh lệch”.
    2. [8.3] Mặc dù hợp đồng chuyển nhượng giữa ông N5 với ông P1, giữa ông N5 với ông L1 không có công chứng hoặc chứng thực; thời điểm chuyển nhượng, ông N5 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng ông P1, ông L1 đã nhận đất sử dụng, ông P1 xây dựng nhà ở ổn định từ khi nhận chuyển nhượng đến nay; sau khi ông N4 (con ông N5) được cấp giấy chứng nhận vào năm 2005 cũng không phản đối việc ông P1, ông L1 sử dụng đất, hiện nay ông N4 cũng đồng ý tách phần đất đã chuyển nhượng cho phía gia đình ông P1 (bà H), gia đình L1 (bà N3), nên đủ điều kiện để công nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đã viện dẫn. Cụ thể, công nhận cho gia đình bà H được sử dụng diện tích đất 1.739,9m², công nhận cho gia đình bà N3 được sử dụng diện tích đất 604m² tại thửa 1857.
  2. [9] Đối với yêu cầu hủy hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng với ông D, nhận thấy:
    1. [9.1] Ngày 22/7/2010, ông D và bà N1 ký hợp đồng tín dụng số 51/2010/HĐTD để vay của Ngân hàng số tiền 850.000.000 đồng, tài sản thế chấp là thửa đất 1857, 496 do ông D đứng tên giấy chứng nhận. Hợp đồng thế chấp được công chứng tại Văn phòng C2, đăng ký giao dịch bảo đảm cùng ngày 22/7/2010.
    2. [9.2] Căn cứ Điều 434 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Việc thế chấp tài sản phải được lập thành văn bản, có thể lập thành văn bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng chính. Trong trường hợp pháp luật có quy định thì văn bản thế chấp phải được công chứng, chứng thực hoặc đăng ký".
    3. [9.3] Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 130 Luật Đất đai năm 2003 quy định: “Hợp đồng thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất phải có chứng nhận của công chứng nhà nước; trường hợp hợp đồng thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân thì được lựa chọn hình thức chứng nhận của công chứng nhà nước hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất”.
    4. [9.4] Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 10, điểm a khoản 1 Điều 12 Nghị định số 163/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm thì thế chấp quyền sử dụng đất phải đăng ký giao dịch bảo đảm, việc thế chấp quyền sử dụng đất có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký thế chấp.

    Như vậy, hợp đồng thế chấp giữa Ngân hàng với ông D được lập thành văn bản và có công chứng đúng theo quy định của pháp luật; sau khi công chứng hợp đồng, các bên đã thực hiện đăng ký giao dịch bảo đảm nên phát sinh hiệu lực. Tuy nhiên, căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ thể hiện, tất cả các thủ tục liên quan

    đến việc Ngân hàng cho vay đều thực hiện cùng một ngày 22/7/2010 như: hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, công chứng hợp đồng thế chấp, đăng ký giao dịch bảo đảm, báo cáo thẩm định hồ sơ cho vay do cán bộ tín dụng lập đối với một tài sản tọa lạc tại quận N và một tài sản tọa lạc tại quận Ô, giấy đề nghị kiêm phương án vay vốn nhu cầu đời sống. Do đó, có cơ sở để xác định, trước khi Ngân hàng giải ngân, cán bộ tín dụng không tiến hành xem xét thẩm định thực tế tài sản, dẫn đến không phát hiện gia đình bà H, gia đình bà N3 đang sử dụng đất. Mặt khác, gia đình bà H được công nhận diện tích đất 1.739,9m², gia đình bà N3 được công nhận diện tích đất 604m², nên cần hủy một phần hợp đồng thế chấp đối với diện tích đất này tại thửa 1857 là phù hợp.

  3. [10] Đối với yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng giữa ông D với ông N4, nhận thấy:
    1. [10.1] Ngày 27/10/2009, ông N4 ký hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ thửa đất 1857 cho ông D, hợp đồng được công chứng tại Văn phòng C. Ngày 03/11/2009, Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất quận Ô chỉnh lý sang tên ông D.
    2. [10.2] Tại Kết luận giám định số 175/KL-KTHS ngày 26/8/2022 của V, Bộ C3 kết luận, chữ ký, chữ viết đứng tên Lê Hoàng N4 trong hợp đồng chuyển nhượng so với chữ ký, chữ viết của Lê Hoàng N4 trên các mẫu so sánh do cùng một người ký, viết ra. Như vậy, có cơ sở để xác định, ông N4 đã chuyển nhượng thửa đất 1857 cho ông D. Hiện tại, ông D đã được công nhận quyền sử dụng đất thông qua việc chỉnh lý sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, trước khi ông D nhận chuyển nhượng, gia đình bà H, gia đình bà N3 đã nhận chuyển nhượng và đang trực tiếp sử dụng đất, đủ điều kiện công nhận quyền sử dụng đất như đã phân tích, nên cần hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng đối với diện tích đất 1.739,9m² do gia đình bà H đang sử dụng, diện tích đất 604m² do gia đình bà N3 đang sử dụng tại thửa 1857 là phù hợp.
  4. [11] Đối với yêu cầu của ông N4 về việc không đồng ý phát mãi thửa đất 1857, nhận thấy:
    1. [11.1] Căn cứ khoản 1 Điều 299 Bộ luật Dân sự quy định các trường hợp xử lý tài sản bảo đảm: “Đến hạn thực hiện nghĩa vụ được bảo đảm mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”. Do ông D không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ là phù hợp. Tuy nhiên, khi phát mãi thửa đất 1857 thì cần cấn trừ diện tích khu mộ 278,5m², diện tích gia đình bà H đang sử dụng 1.739,9m², diện tích gia đình bà N3 đang sử dụng 604m² do đã được công nhận quyền sử dụng đất cho gia đình bà H, bà N3 như đã phân tích.
    2. [11.2] Phía ông N4 cũng xác định những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là những người thân trong gia đình và bản án như đã phân tích nêu trên đã công nhận phần diện tích đất cho bà H, ông T1 và bà N3 nên các bên cũng có thể tự thoả thuận được đi vào khu đất mồ mã gia đình nên không đặt ra đánh giá lại. Riêng đối với yêu cầu của ông N4 đề nghị huỷ toàn bộ nội dung hợp đồng chuyển nhượng là không có căn cứ để chấp nhận nên giữ y phần tuyên của án sơ thẩm đối với vị trí tại thửa B.
    3. [11.3] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 115/2023/DS-ST ngày 26/6/2023 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, chấp nhận một phần kháng cáo của bà H1, bà H, bà N3, ông T1, ông N4 theo hướng như Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ
      • - Công nhận cho gia đình bà H được sử dụng diện tích đất 1.739,9m², công nhận cho gia đình bà N3 được sử dụng diện tích đất 604m² tại thửa 1857.
      • - Hủy một phần hợp đồng thế chấp giữa ông D với Ngân hàng đối với diện tích đất 1.739,9m² do gia đình bà H đang sử dụng, diện tích đất 604m² do gia đình bà N3 đang sử dụng, diện tích khu mộ 278,5m² tại thửa 1857.
      • - Hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng giữa ông D với ông N4 đối với diện tích đất 1.739,9m² do gia đình bà H đang sử dụng, diện tích đất 604m² do gia đình bà N3 đang sử dụng tại thửa 1857.
    4. [11.4] Như vậy, cần tuyên thêm nội dung buộc Ngân hàng sau khi thực hiện việc phát mãi quyền sử dụng đất tại vị trí nêu trên thì giao trả lại giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất để các hộ nêu trên thực hiện việc thủ tục tách thửa sang tên quyền sử dụng đất được công nhận có như vậy mới đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Theo đó Ngân hàng phải có nghĩa vụ giao trả lại cho bà H tài sản thế chấp là: diện tích đất 1.739,9m² (vị trí A và vị trí C (ONT + CLN); bà N3 diện tích đất 604m² (vị trí D đất CLN); ông N4 diện tích khu đất mộ 278,5m² (vị trí E) tại thửa đất số 1857, tờ bản đồ số 05, tọa lạc tại khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ theo GCN QSDĐ số AC324927.

      Bà N3, bà H, ông N4 có quyền liên hệ Chi nhánh Văn phòng Đ1 xóa đăng ký giao dịch thế chấp quyền sử dụng đất các thửa đất nêu trên

  5. [12] Tại phiên toà hôm nay, theo phân tích của Hội đồng xét xử: đại điện của bà N3 đồng ý nộp số tiền 30 triệu đồng bà H nộp 20 triệu đồng để phần nào giảm bớt thiệt hại cho Ngân hàng nên Hội đồng xét xử ghi nhận vào phần tuyên án.
  6. [13] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ như đã nêu trên phù hợp với quan điểm với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
  7. [14] Về án phí dân sự sơ thẩm: Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của bà H, bà N3, bà H1, ông N4 và buộc bà H, bà H1, ông N4 phải chịu án phí có giá ngạch là chưa đúng theo quy định tại khoản 3 Điều 24 Nghị quyết số 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Vì vậy, cần sửa lại án phí khi đánh giá yêu cầu tại cấp phúc thẩm như đã nêu trên: Bà H, bà H1, ông N4 mỗi người phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
  8. [15] Về án phí dân sự phúc thẩm: Những người có kháng cáo là bà H, ông T1; bà N3 được chấp nhận kháng cáo nên không phải chịu án phí.

    Ông Lê Hoàng N4 cũng được chấp nhận một phần kháng cáo sửa về án phí nên cũng không phải chịu án phí.

    Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ:

Khoản 1 và 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận kháng cáo của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập là bà Nguyễn Thị H và bà Nguyễn Thị N3; không chấp nhận kháng cáo của ông Lê Hoàng N4: Sửa một phần Bản án sơ thẩm. Công nhận cho gia đình bà H được sử dụng diện tích đất 1.739,9m², công nhận cho gia đình bà N3 được sử dụng diện tích đất 604m² tại thửa 1857. Hủy một phần hợp đồng thế chấp giữa ông D với Ngân hàng đối với diện tích đất 1.739,9m² do gia đình bà H đang sử dụng, diện tích đất 604m² do gia đình bà N3 đang sử dụng, diện tích khu mộ 278,5m² tại thửa 1857. Hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng giữa ông D với ông N4 đối với diện tích đất 1.739,9m² do gia đình bà H đang sử dụng, diện tích đất 604m² do gia đình bà N3 đang sử dụng tại thửa 1857.

  1. Chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị H, bà Nguyễn Thị N3, bà Lê Thị Cẩm H1 và ông Lê Hoàng N4.
    • - Công nhận cho gia đình bà H được sử dụng diện tích đất 1.739,9m², công nhận cho gia đình bà N3 được sử dụng diện tích đất 604m² tại thửa 1857.
    • - Hủy một phần hợp đồng thế chấp giữa ông D với Ngân hàng đối với diện tích đất 1.739,9m² do gia đình bà H đang sử dụng, diện tích đất 604m² do gia đình bà N3 đang sử dụng, diện tích khu mộ 278,5m² tại thửa 1857.
    • - Hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng giữa ông D với ông N4 đối với diện tích đất 1.739,9m² do gia đình bà H đang sử dụng, diện tích đất 604m² do gia đình bà N3 đang sử dụng tại thửa 1857.

    Ghi nhận việc đại diện Bà Nguyễn Thị N3 đồng ý nộp số tiền 30.000.000 đồng (Ba mươi triệu đồng), bà Nguyễn Thị H nộp 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng) để Ngân hàng thu trả vào phần nợ gốc của các bị đơn theo các hợp đồng tín dụng đã ký.

    Ngân hàng N6 phải có nghĩa vụ giao trả lại cho bà Nguyễn Thị H tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 1857, tờ bản đồ số 05, diện tích đất 1.739,9m² ( tại vị trí A và vị trí C (ODT + CLN) tọa lạc tại khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ theo GCN QSDĐ số AC324927, số vào sổ cấp GCN QSDĐ H00221 do UBND quận Ô cấp ngày 13-7-2005 cho hộ ông Lê Văn N5 được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất quận Ô chỉnh lý biến động sang ông Ngô Trung D vào ngày 03-11-2009 theo hợp đồng thế chấp tài sản số 51/2010/HĐTC ngày 22-7-2010.

    Ngân hàng N6 phải có nghĩa vụ giao trả lại cho bà Nguyễn Thị N3 tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 1857, tờ bản đồ số 05, diện tích đất 604m² (vị trí D đất CLN) tọa lạc tại khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ theo GCN QSDĐ số AC324927, số vào sổ cấp GCN QSDĐ H00221 do UBND quận Ô cấp ngày 13-7-2005 cho hộ ông Lê Văn N5 được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất quận Ô chỉnh lý biến động sang ông Ngô Trung D vào ngày 03-11-2009 theo hợp đồng thế chấp tài sản số 51/2010/HĐTC ngày 22-7-2010.

    Bà Nguyễn Thị N3 và bà Nguyễn Thị H có quyền liên hệ Chi nhánh Văn phòng Đ1, thành phố Cần Thơ xóa đăng ký giao dịch thế chấp quyền sử dụng đất các thửa đất nêu trên để đăng ký theo diện tích được công nhận.

  2. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N6 đối với bị đơn ông Ngô Trung D, bà Lý Thị Ánh N1.

Buộc ông Ngô Trung D, bà Lý Thị Ánh N1 phải trả cho Ngân hàng N6 số nợ gốc, lãi tính đến ngày 26-6-2023 là 1.265.372.000 đồng (Một tỷ hai trăm sáu mươi lăm triệu ba trăm bảy mươi hai nghìn đồng). Trong đó nợ gốc: 800.000.000 đồng (tám trăm triệu đồng), nợ lãi trong hạn 465.372.000 đồng (bốn trăm sáu mươi lăm triệu ba trăm bảy mươi hai nghìn đồng).

  1. Trường hợp ông Ngô Trung D, bà Lý Thị Ánh N1 không trả được số nợ trên hoặc trả nợ không đủ cho Ngân hàng N6 thì Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp như sau:

    + Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 496, tờ bản đồ số 34, diện tích 42,9m² (CLN) tọa lạc tại hẻm C, đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ theo GCN QSDĐ số AN226367, số vào sổ cấp GCN QSDĐ H02249.QSDĐ do UBND quận N cấp ngày 09-9-2008 cho ông Ngô Trung D theo hợp đồng thế chấp tài sản số 52/2010/HĐTC ngày 22-7-2010.

    + Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 1857, tờ bản đồ số 05, diện tích 3220,0m² (ODT + CLN) tọa lạc tại khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ theo GCN QSDĐ số AC324927, số vào sổ cấp GCN QSDĐ H00221 do UBND quận Ô cấp ngày 13-7-2005 cho hộ ông Lê Văn N5 được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất quận Ô chỉnh lý biến động sang ông Ngô Trung D vào ngày 03-11-2009 theo hợp đồng thế chấp tài sản số 51/2010/HĐTC ngày 22-7-2010 (khấu trừ đi phần đất khu mộ với diện tích 278,5m² (tại vị trí E) cho ông Lê Hoàng N4; khấu trừ phần đất gia đình bà Nguyễn Thị H được sử dụng diện tích đất 1.739,9m² (tại vị trí A và C) và khấu trừ phần đất cho bà Nguyễn Thị N3 được công nhận sử dụng diện tích đất 604m² (vị trí D) tại thửa 1857 theo Bản trích đo địa chính số 48 kèm theo.

    Kể từ ngày 27-6-2023 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của BLDS năm 2015.

  2. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn trả tiền lãi quá hạn.
  3. Ghi nhận Ngân hàng giao phần đất khu mộ với diện tích 278,5m² tại vị trí E theo Bản trích đo địa chính số 48 cho ông Lê Hoàng N4 quản lý.

    Ngân hàng N6 phải có nghĩa vụ giao trả lại cho ông Lê Hoàng N4 tài sản thế chấp là: Quyền sử dụng đất tại thửa đất số 1857, tờ bản đồ số 05, diện tích đất 278,5m² (vị trí E) tọa lạc tại khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ theo GCN QSDĐ số AC324927, số vào sổ cấp GCN QSDĐ H00221 do UBND quận Ô cấp ngày 13-7-2005 cho hộ ông Lê Văn N5 được Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất quận Ô chỉnh lý biến động sang ông Ngô Trung D vào ngày 03-11-2009 theo hợp đồng thế chấp tài sản số 51/2010/HĐTC ngày 22-7-2010.

    Ông Lê Hoàng N4 có quyền liên hệ Chi nhánh Văn phòng Đ1 xóa đăng ký giao dịch thế chấp quyền sử dụng đất các thửa đất nêu trên.

  4. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Bị đơn ông Ngô Trung D, bà Lý Thị Ánh N1 có trách nhiệm trả lại cho Ngân hàng số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).
  5. Về chi phí giám định: Ông Lê Hoàng N4 phải chịu 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng), ông N4 đã nộp xong.
  6. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Bị đơn ông Ngô Trung D, bà Lý Thị Ánh N1 phải chịu án phí là 49.961.160 đồng (Bốn mươi chín triệu chín trăm sáu mươi mốt nghìn một trăm sáu mươi đồng).
    • - Bà Nguyễn Thị H phải chịu án là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), khấu trừ vào số tiền 4.955.000 đồng tạm (Bốn triệu chín trăm năm mươi lăm nghìn đồng) ứng án phí bà H đã nộp theo biên lai thu số 0001187 ngày 05-7-2021, bà H được nhận lại 4.655.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm năm mươi lăm nghìn đồng).
    • - Bà Lê Thị Cẩm H1 phải chịu án là 300.000 đồng, khấu trừ vào số tiền 2.565.000 đồng (Hai triệu năm trăm sáu mươi lăm nghìn đồng) tạm ứng án phí bà H1 đã nộp theo biên lai thu số 0001627 ngày 15-02-2022, bà H1 được nhận lại 2.265.000 đồng (Hai triệu hai trăm sáu mươi lăm nghìn đồng).
    • - Ông Lê Hoàng N4 phải chịu án phí là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), khấu trừ vào số tiền 900.000 đồng (chín trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí ông N4 đã nộp theo biên lai thu số 0001141 ngày 22-6-2021, ông N4 được nhận lại 600.000 đồng (Sáu trăm nghìn đồng).
    • - Bà Nguyễn Thị N3 được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
    • - Nguyên đơn Ngân hàng N6 được nhận lại 31.989.000 đồng (Ba mươi mốt triệu chín trăm tám mươi chín nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 003158 ngày 15-10-2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ.
  7. Về án phí dân sự phúc thẩm: Không ai phải chịu.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Hoàng N4 được nhận lại 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự đã nộp theo biên lai thu số 0001328 ngày 11/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyên Thị H2 được nhận lại 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự đã nộp theo biên lai thu số 0001349 ngày 17/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Lê Văn T1 được nhận lại 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự đã nộp theo biên lai thu số 0001350 ngày 17/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ninh Kiều

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Bà Nguyễn Thị N3 thuộc trường hợp được miễn nộp án phí

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (Ngày 26/9/2024).

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND TPCT;
  • - TAND Q.Ninh Kiều
  • - Chi Cục THADS Q.Ninh Kiều;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lê Thị Minh Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 436/2024/DSPT ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 436/2024/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng, hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 26/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa một phần án sơ thẩm
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger