|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số 436/2024/DS-PT
Ngày 14/8/2024
V/v tranh chấp thừa kế tài sản và
hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Phan Nam
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Tuyển
Ông Phạm Việt Hà
- Thư ký phiên tòa: Bà Triệu Hương Thùy, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Ông Bùi Minh Nghĩa, Kiểm sát viên cao cấp;
Ngày 14/8/2024 tại điểm cầu trung tâm Phòng xét xử trực tuyến số V trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội và điểm cầu thành phần là Phòng xét xử trực tuyến Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án dân sự thụ lý số: 325/2024/TLPT-DS ngày 21/6/2024 về “Tranh chấp thừa kế tài sản và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” do có kháng cáo của bị đơn đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2024/DS-ST ngày 04/3/2024 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 8166/2024/QĐPT ngày 23 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1957; nơi cư trú: Thôn N, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng, có mặt;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà Nguyễn Thị S: Luật sư Lã Thùy D, Văn phòng L3, Đoàn Luật sư tỉnh Q; địa chỉ: Số B T, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng, có mặt;
- Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1980; nơi cư trú tại: Thôn C, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng, có mặt;
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ủy ban nhân dân huyện T, thành phố Hải Phòng; địa chỉ: ĐT C, thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng.
- Người đại diện theo ủy quyền: Ông Hoàng Văn T - Phó Trưởng phòng tài nguyên và môi trường huyện, theo Văn bản ủy quyền ngày 12/7/2023, vắng mặt;
- + Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1966; nơi cư trú: Thôn C, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng, có mặt;
- + Bà Nguyễn Thị S1, sinh năm 1959; nơi cư trú: Thôn C, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng, có mặt;
- + Anh Phạm Văn H, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn N, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị S1, bà Nguyễn Thị N: Luật sư Lã Thùy D, Văn phòng L3, Đoàn Luật sư tỉnh Q, địa chỉ: Số B T, phường V, quận L, thành phố Hải Phòng, có mặt
- + Chị Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1990; chị Nguyễn Hồng V, sinh năm 1991 và chị Nguyễn Kiều O, sinh năm 2000; cùng nơi cư trú: Thôn C, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng. Chị T1, chị V có mặt; chị O, vắng mặt;
- Người đại diện theo ủy quyền của chị Nguyễn Kiều O: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1966; nơi cư trú: Thôn C, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng, có mặt.
- + Anh Nguyễn Hoàng V1, sinh năm 2001 và chị Nguyễn Hoàng Đ, sinh năm 2004, cùng nơi cư trú: Thôn C, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng. Anh V1, chị Đ đều có mặt;
- + Anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1994; hiện đang cư trú tại Trung Quốc, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện và quá trình tố tụng người được ủy quyền lại của nguyên đơn là bà Nguyễn Thị S trình bày:
Bố bà là cụ Nguyễn Văn S2, sinh năm 1932; mẹ bà là cụ Nguyễn Thị U, sinh năm 1934, đều trú quán tại: Thôn C, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng. Năm 1956 bố mẹ bà kết hôn và sinh được 5 người con gồm:
- Nguyễn Thị S, sinh năm 1957; trú tại: Thôn C, xã Q, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng.
- Nguyễn Thị S1, sinh năm 1959, trú tại: Thôn T, xã T, huyện T, thành phố Hải Phòng.
- Nguyễn Văn K, sinh năm 1963 (chết năm 2006), trú tại: Thôn C, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng. Ông K có vợ là bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1966 và 03 con: Nguyễn Thị T2, sinh năm 1991; Nguyễn Thị V2, sinh năm 1992; Nguyên Kiều O1, sinh năm 2000; cùng trú tại: Thôn C, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng.
- Nguyễn Văn H1, sinh năm 1972 (chết năm 2005); trú tại: Thôn C, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng.
- Nguyễn Văn H2, sinh năm 1974 (chết năm 2018). Ông H2 có vợ là bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1980 và có 02 con: Nguyễn Hoàng V1, sinh năm 2001 và Nguyễn Hoàng Đ, sinh năm 2004; cùng trú tại: Thôn C, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng.
Năm 2005, cụ U chết không để lại di chúc.
Năm 2016, cụ S2 chết có để lại di chúc ngày 24/7/2016 với nội dung phân chia đất ao cho các con. Bản di chúc này không có người làm chứng, không có xác nhận của chính quyền địa phương.
Khi còn sống, cụ U, cụ S2 có tạo dựng được 01 ngôi nhà cấp 4 ba gian lợp mái ngói Prô xi măng, công trình phụ trên diện tích 2.195m² đất ở và vườn ao liền kề, thuộc thửa đất số 369, tờ bản đồ số 16, địa chỉ tại: Thôn C, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 288977, ngày 03/11/2005 cho chủ sử dụng đất là hộ ông Nguyễn Văn S2. Sau khi bố mẹ bà chết thì diện tích đất trên cùng ngôi nhà được làm nơi thờ cúng và do ông Nguyễn Văn H2 sử dụng. Năm 2018, ông H2 chết, vợ ông H2 là Nguyễn Thị L và các con tiếp tục sử dụng diện tích đất trên. Gia đình đã họp bàn xây nhà thờ cúng bố mẹ để lấy chỗ chị em đi về trên diện tích đất trên nhưng mẹ con bà L không nghe ngăn cản không cho xây nhà thờ cúng.
Ngoài diện tích đất vườn ao nêu trên thì còn để lại diện tích đất ruộng canh tác là 08 sào 06 thước (3060m²) ở khu Đ gần trạm xá Quyết Tiến của 06 khẩu, trong đó: 1020m² là của cụ S2, cụ U; 1020m² của vợ chồng bà L, ông H2 và 1020m² của vợ chồng ông H1 và bà M.
Nay bà khởi kiện yêu cầu chia toàn bộ di sản của bố mẹ để lại là diện tích 2.195m² đất ở, vườn ao và diện tích đất canh tác là 2 sào 12 thước (1020m²) tại thôn C, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng theo quy định pháp luật và Hủy GCNQSDĐ số AH 288977, số vào sổ H00894 do UBND huyện T cấp ngày 03/11/2005 đối với diện tích đất 2195m² mang tên hộ ông Nguyễn Văn S2.
Bị đơn là bà Nguyễn Thị L trình bày: Về nguồn gốc đất, quá trình sinh sống, các con của cụ S2, cụ U như nguyên đơn bà S đã trình bày là đúng.
Năm 2000, bà kết hôn với ông Nguyễn Văn H2, có 02 người con là Nguyễn Hoàng V1 (sinh năm 2001) và Nguyễn Hoàng Đ (sinh năm 2004). Sau khi kết hôn thì vợ chồng bà ở cùng các cụ trên diện tích đất 2.195m² tại thôn C, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng. Năm 2005, vợ chồng bà có phá 1/2 ngôi nhà cũ của các cụ và xây ngôi nhà cấp 4, mái lợp tôn proximăng. Năm 2008, vợ chồng bà tiếp tục cải tạo, xây dựng gian nhà ngang, nhà bếp và công trình phụ như hiện nay. Vợ chồng bà và các con sống cùng các cụ từ khi kết hôn cho đến khi các cụ chết.
Ngày 23/8/2005, cụ U chết không để lại di chúc. Ngay sau khi cụ U chết, cụ S2 có nói và viết giấy viết tay để lại toàn bộ diện tích đất của hai cụ cho vợ chồng bà; đồng thời, cụ S2 cũng lên xã làm lại sổ hộ khẩu cho gia đình và làm đơn xin được cấp GCNQSDĐ; đến ngày 03/11/2005, được cấp GCNQSDĐ số AH 288977, đứng tên hộ ông Nguyễn Văn S2 đối với diện tích đất 2.195m2 đất ở và đất vườn ao thuộc thửa số 369, tờ bản đồ số 16, thôn C, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng. Thời điểm lúc đó hộ gia đình có 05 người là cụ S2, vợ chồng bà là Nguyễn Văn H2, Nguyễn Thị L và 2 con là Nguyễn Hoàng V1, Nguyễn Hoàng Đ.
Ngày 26/12/2016, cụ S2 chết. Ngày 27/7/2018, chồng bà ông Nguyễn Văn H2 chết. Hiện nay bà và các con vẫn đang quản lý diện tích đất ở (hiện trạng là 350m²) và đất ao (hiện trạng là 1.765,5m²). Đất ao bà vẫn đang nuôi thả cá.
Nay nguyên đơn khởi kiện chia di sản thừa kế, bà L có quan điểm: Diện tích đất 2.192m² đã được nhà nước cấp GCNQSDĐ cho hộ cụ S2, gia đình bà khi đó có 5 khẩu, cụ S2, vợ chồng bà và 02 con của bà mỗi người được một phần. Bà không đồng ý chia di sản thừa kế đối với tất cả diện tích đất 2.192m². Bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật chia phần di sản thừa kế của cụ S2 để lại là 1/5 diện tích đất 2.192m².
Đối với diện tích đất nông nghiệp, tổng số đất bà đang quản lý là 3060m² do quá trình dồn điền đổi thửa, trong đó có 02 sào 12 thước (1020m²) của cụ U, cụ S2 để lại. Bà đồng ý chia thừa kế đối với diện tích đất ruộng 1020m² của các cụ nhưng những người đồng thừa kế phải trả cho bà số tiền 5.000.000 đồng bà bỏ ra để chuộc diện tích ruộng này vào năm 2014 do cụ S2 đã bán cho vợ chồng anh Nguyễn Văn B1, Nguyễn Thị T3 năm 2012.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập anh Phạm Văn H trình bày: Cụ Nguyễn Văn S2 và cụ Nguyễn Thị U là bà ngoại anh có để lại diện tích đất 2195m² đất ở và đất ao, thửa số 369, tờ bản đồ số 16, thôn C, xã Q, T, Hải Phòng. Năm 2012, do kinh tế khó khăn cụ S2 có bán diện tích 320m², thửa đất số 387 (ở bên cạnh diện tích đất nêu trên) cho ông Nguyễn Văn K1 (sinh năm 1963; nơi cư trú: Thôn C, xã Q, huyện T, Hải Phòng) và bà Phạm Thị L1 với giá 7.000.000 đồng. Việc mua bán chỉ có giấy viết tay giữa cụ S2 và ông K1, không có người làm chứng, không có xác nhận của chính quyền địa phương. Giấy mua bán này hiện nay ở đâu anh cũng không biết. Việc cụ S2 bán đất cho ông K1 đã được cụ S2 viết di chúc ngày 24/7/2016 (ngày 22/6/2016 âm lịch) với nội dung “...miếng đất đã để lại cho anh K1 cháu ruột bà U, người cùng thôn“. Hiện nay giấy này ở đâu anh không biết. Năm 2017 anh mua lại diện tích đất này với giá 15.000.000 đồng. Số tiền là của anh bỏ ra, việc mua bán này chỉ có giấy viết tay giữa anh và ông K1, không có xác nhận của chính quyền địa phương, hiện nay giấy này ở đâu anh cũng không biết. Tuy nhiên, việc mua bán giữa anh và ông K1 có sự chứng kiến của vợ ông K1 là bà Phạm L1, bà Nguyễn Thị L, hai con của bà L là Nguyễn Hoàng V1, Nguyễn Hoàng Đ. Nay anh đề nghị Tòa án công nhận diện tích 320m², thửa đất số 387, tờ bản đồ số 16 tại thôn C, xã Q, huyện T, Hải Phòng là tài sản của anh. Tại phiên tòa sơ thẩm, anh H rút toàn bộ yêu cầu này.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Bà Nguyễn Thị S1 thống nhất các nội dung như nội dung trình bày của bà Nguyễn Thị S, và đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
- - Bà Nguyễn Thị N, chị Nguyễn Thị T2, chị Nguyễn Thị V2, chị Nguyễn Thị O2: Thống nhất các nội dung trình bày của bà Nguyễn Thị S; đồng thời trình bày thêm: Do ông Nguyễn Văn K (là chồng bà Nguyễn Thị N) trước đây đã được cụ S2 chia đất, nên bà N và các con không nhận đất thổ cư, còn diện tích đất ruộng, đất ao được chia đến đâu thì bà và các con được hưởng đến đó.
- - Anh Nguyễn Hoàng V1, chị Nguyễn Hoàng Đ: Thống nhất quan điểm như bị đơn bà Nguyễn Thị L đã trình bày; và trình bày bổ sung: Trước khi chết ông nội anh có để lại di chúc, tuy nhiên bản di chúc này chỉ viết tay, không có xác nhận của UBND xã. Bản gốc di chúc bà S quản lý, anh chỉ có bản chụp lại và đã gửi hình ảnh cho Tòa. Trong trường hợp Tòa án chia di sản thừa kế thì anh đồng ý chia theo di chúc của cụ S2.
- - Anh Nguyễn Văn B: Thống nhất các nội dung trình bày của nguyên đơn bà Nguyễn Thị S, đề nghị Tòa án chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật.
- - UBND huyện T: Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2024/DS-ST ngày 04/3/2024 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng đã quyết định:
Căn cứ vào theo quy định tại khoản 5, khoản 9 Điều 26, Điều 34, Điều 37, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 244, Điều 266, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 32 Luật Tố tụng hành chính;
Căn cứ các điều 609, 610, 611, 612, 613, 614, 623, 649, 650, 651, 652 Bộ luật Dân sự
Căn cứ Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH1430/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
-
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị S về việc chia di sản thừa kế đối với diện tích 2195m² đất thổ cư, vườn ao và 1020m² đất nông nghiệp tại thôn C, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng.
- Chia cho bà Nguyễn Thị L, anh Nguyễn Hoàng V1, chị Nguyễn Hoàng Đ phần di sản gồm diện tích đất thổ cư đã dâng lập 350m² được xác định bởi các mốc giới 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 25, 26, 27, 1 thửa số 323 và diện tích đất ao thổ cư 312,72 m² được xác định bởi các mốc giới 24, 25, 8, 9, 23-2, 23-1, 23, 24 tại thửa số 369 tờ bản đồ số 16 thôn C, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng, và 408m² đất ruộng (trong đó 406,4m² được xác định bởi các mốc giới 4, 5, 6, 7, 8, 9, 4 tại thửa số 294 (151 cũ) tờ bản đồ số 15 thôn C, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng và 1,6m² nằm trong diện tích đất ruộng còn lại bà L đang quản lý). Tổng trị giá 2.212.400.000 đồng (hai tỷ hai trăm mười hai triệu bốn trăm nghìn đồng), các diện tích đất có sơ đồ kèm theo.
- Chia cho bà Nguyễn Thị S phần di sản gồm diện tích đất ao thổ cư 168,64 m² được xác định bởi các mốc giới 12, 13, 23-1, 23-2, 12 tại thửa số 369 tờ bản đồ số 16 thôn C, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng, diện tích đất ao 446,2 m² được xác định bởi các mốc giới 22, 23, 23-1, 13, 14, 21, 22 tại thửa số 369 tờ bản đồ số 16 thôn C, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng và 204m² đất ruộng được xác định bởi các mốc giới 1, 2, 11, 12, 1 tại thửa số 294 (151 cũ) tờ bản đồ số 15 thôn C, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng. Tổng trị giá 1.106.200.000 đồng (một tỷ một trăm linh sáu triệu hai trăm nghìn đồng), các diện tích đất có sơ đồ kèm theo.
- Chia cho bà Nguyễn Thị L2 phần di sản gồm diện tích đất ao thổ cư 168,64 m² được xác định bởi các mốc giới 9, 10, 11, 12, 23-2, 9 tại thửa số 369 tờ bản đồ số 16 thôn C, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng, diện tích đất ao 446,2 m² được xác định bởi các mốc giới 21, 14, 15, 29, 21 tại thửa số 369 tờ bản đồ số 16 thôn C, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng và 204m² đất ruộng được xác định bởi các mốc giới 2, 3, 10, 11, 2 tại thửa số 294 (151 cũ) tờ bản đồ số 15 thôn C, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng. Tổng trị giá 1.106.200.000 đồng (một tỷ một trăm linh sáu triệu hai trăm nghìn đồng), các diện tích đất có sơ đồ kèm theo.
- Chia cho bà Nguyễn Thị N, chị Nguyễn Hồng V, chị Nguyễn Thanh T1 và chị Nguyễn Kiều O phần di sản gồm diện tích đất ao 223,1 m² được xác định bởi các mốc giới 15, 16, 17, 18, 19, 29, 15 tại thửa số 369 tờ bản đồ số 16 thôn C, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng và và 204m² đất ruộng được xác định bởi các mốc giới 3, 4, 9, 10, 3 tại thửa số 294 (151 cũ) tờ bản đồ số 15 thôn C, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng. Tổng trị giá. 349.950.000 (ba trăm bốn mươi chín triệu chín trăm năm mươi nghìn) đồng, các diện tích đất có sơ đồ kèm theo.
- Hủy GCNQSDĐ số AH 288977, số vào sổ H00894 của UBND huyện T cấp ngày 03/11/2005 chủ sử dụng đất là hộ ông Nguyễn Văn S2 đối với diện tích đất 2195m² thửa số 369, tờ bản đồ số 16 tại thôn C, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng.
- Đình chỉ yêu cầu độc lập của anh Phạm Văn H đề nghị công nhận quyền sử dụng đối với diện tích 320m², thửa đất số 387, tờ bản đồ số 16 tại thôn C, xã Q, huyện T, Hải Phòng.
-
Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị S và bà Nguyễn Thị S1.
- Bà Nguyễn Thị L phải nộp 23.070.000 đồng (hai mươi ba triệu không trăm bảy mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Anh Nguyễn Hoàng V1, chị Nguyễn Hoàng Đ mỗi người phải nộp 22.770.000 (hai mươi hai triệu bảy trăm bảy mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Bà Nguyễn Thị N, chị Nguyễn Hồng V, chị Nguyễn Thanh T1 và chị Nguyễn Kiều O mỗi người phải nộp 6.007.125đồng (sáu triệu không trăm linh bảy nghìn một trăm hai mươi lăm đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Trả lại anh Phạm Văn H số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo Biên lai số 0006438 ngày 15/3/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng,
- Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo, quyền và nghĩa vụ thi hành án.
Ngày 18/3/2024, bà Nguyễn Thị L có đơn kháng cáo bản án dân sự sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự vẫn không thống nhất được với nhau về việc giải quyết vụ án. Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị S không rút đơn khởi kiện; về cơ bản vẫn giữ nguyên quan điểm như đã trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm và đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm. Bị đơn là bà Nguyễn Thị L giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, về cơ bản giữ nguyên quan điểm đã trình bày tại Tòa án cấp sơ thẩm và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội trình bày quan điểm về việc giải quyết vụ án: Đơn kháng cáo của bà Nguyễn Thị L trong thời gian luật định nên hợp lệ. Quá trình giải quyết vụ án tại cấp phúc thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung, kháng cáo của bà Nguyễn Thị L là không có căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự xử không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị L và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định.
[1]. Về tố tụng:
[1.1] Ngày 18/3/2024, bà Nguyễn Thị L có đơn kháng cáo là trong hạn luật định nên đủ điều kiện xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm, một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có văn bản đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt hoặc ủy quyền cho người khác và không kháng cáo. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên theo quy định tại Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về thẩm quyền: Ngày 15/9/2022, bà Nguyễn Thị S khởi kiện đến Tòa án yêu cầu chia di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn S2 (chết ngày 26/12/2006) và cụ Nguyễn Thị U (chết ngày 14/8/2005) tại thôn C, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 288977 ngày 03/11/2005 do UBND huyện T cấp cho hộ ông Nguyễn Văn S2. Bị đơn bà Nguyễn Thị L cư trú tại thôn C, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng. Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng căn cứ vào khoản 5, khoản 9 Điều 26, Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 185 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 1 Điều 623, khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền, trong thời hiệu khởi kiện.
[1.3] Về yêu cầu độc lập của anh Phạm Văn H: Anh Phạm Văn H đề nghị công nhận quyền sử dụng đối với diện tích 320m², thửa đất số 387 tại thôn C, xã Q, huyện T, Hải Phòng. Ngày 17/01/2024, anh Phạm Văn H có đơn xin rút toàn bộ yêu cầu độc lập; và tại phiên tòa sơ thẩm, anh Phạm Văn H khẳng định tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu độc lập nêu trên. Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ giải quyết yêu cầu độc lập của anh Phạm Văn H là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Xét kháng cáo của bà Nguyễn Thị L thì thấy:
[2.1] Các đương sự đều thống nhất nguồn gốc 2.195m² đất nêu trên là của cụ Nguyễn Văn S2, cụ Nguyễn Thị U để lại.
Tại Văn bản ngày 18/9/2023 của UBND huyện T trả lời nội dung:
Theo sổ mục kê năm 1976, tại số thứ tự 224, trang 56, mảng bản đồ số 08, người sử dụng đất là cụ Nguyễn Văn S2, diện tích đất thổ cư 628m². Tại số thứ tự 247, trang 57, mảng bản đồ số 08, người sử dụng đất là cụ Nguyễn Văn S2, diện tích đất ao 2.104m².
Theo bản đồ, sổ mục kê kèm bản đồ năm 2004, thửa số 323, tờ bản đồ số 16, diện tích 2.195m², ghi nhận là đất ở và đất vườn liền kề, người sử dụng đất là hộ cụ Nguyễn Văn S2.
Tại sổ địa chính, quyển số 07, tại số thứ tự 73, ngày vào sổ 30/11/2005, vào sổ cấp giấy chứng nhận số HO894, thửa số 323, tờ bản đồ số 16, người sử dụng đất là cụ Nguyễn Văn S2, diện tích 2195m², trong đo đất ở 1000m², đất vườn liền kề 1195m².
Bà L cho rằng: Năm 2005, cụ U chết, cụ S2 đã làm đơn và ngày 03/11/2005 được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ số AH 288977 đối với diện tích đất 2.195m² đất ở và đất vườn ao thuộc thửa số 369, tờ bản đồ số 16, thôn C, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng mang tên hộ ông Nguyễn Văn S2; khi đó, hộ ông S2 có 05 người, nên di sản của ông S2 là 1/5 diện tích đất 2.195m². Xét thấy, sau khi cụ U chết, cụ S2 làm thủ tục cấp GCNQSDĐ đối với toàn bộ diện tích đất của cụ U và cụ S2 mà không có ý kiến của các con của cụ U và cụ S2 là ảnh hưởng đến quyền lợi của các con cụ U cụ S2; đơn xin cấp GCNQSDĐ của cụ S2 ghi tên một mình cụ S2, không ghi tên các thành viên trong hộ; và diện tích đất này là đất của ông cha để lại, không phải là đất do nhà nước cấp cho các thành viên trong hộ, nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận quan điểm này của bà L là có căn cứ. Căn cứ lời khai của các đương sự và căn các tài liệu, chứng cứ xác minh tại UBND huyện T, Tòa án cấp sơ thẩm xác định 2.195m² đất đã được cấp GCNQSDĐ số AH 288977 ngày 03/11/2005 mang tên hộ cụ Nguyễn Văn S2 là di sản thừa kế của cụ Nguyễn Văn S2 và cụ Nguyễn Thị U để lại là có căn cứ.
[2.2] Các đương sự đều trình bày thống nhất 1.020m² đất ruộng là của cụ S2, cụ U (trong đó cụ U 510m², cụ S2 510m²). Tại biên bản làm việc ngày 16/5/2023, tại UBND xã Q thể hiện: Diện tích ruộng trước đây hộ ông Nguyễn Văn S2 được chia theo NĐ 64 năm 1994 là 2530m², đến năm 2014 được dồn vào một thửa theo chính sách đồn điền đổi thửa hộ ông Nguyễn Văn H2 (vợ là bà L) được chia tại khu Q có diện tích 3060m², bà L quản lý, sử dụng toàn bộ diện tích ruộng nêu trên từ năm 2014 đến nay và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của người sử dụng đất đối với Nhà nước.
Bà L khai: Năm 2005, cụ S2 đã bán toàn bộ diện tích đất ruộng của 02 cụ cho vợ chồng ông Nguyễn Văn B2 bà Nguyễn Thị T3; đến năm 2006, bà L đã bỏ ra 5.000.000 đồng chuộc lại và quản lý, sử dụng từ thời điểm đó đến nay.
Tại Biên bản xác minh ngày 27/12/2023, bà Nguyễn Thị T3 (vợ của ông Nguyễn Văn B2) trình bày: Năm 2005, vợ chồng bà có kí hợp đồng thầu ruộng canh tác với cụ Nguyễn Văn S2. Nội dung hợp đồng là ông B2 thuê khoán diện tích ruộng 936m² của cụ S2 trong 07 năm từ 15/7/2005 đến 15/7/2012 và sẽ trả cho cụ S2 622.500 đồng/năm trong 07 năm, tổng số tiền là 4.357.500 đồng. Hợp đồng được lập thành văn bản, có xác nhận của UBND xã Q. Vợ chồng bà đã trả một lần đầy đủ số tiền 4.357.500 đồng cho cụ S2. Tuy nhiên, sau khi canh tác được 01 năm, do địa phương có chính sách đồn điền đổi thửa nên cụ S2 đã có đề nghị về việc chấm dứt hợp đồng, cụ S2 sẽ trả lại vợ chồng bà số tiền tương ứng với 06 năm thuê khoán. Do khi đó cụ S2 không có tiền, nên vợ chồng ông Nguyễn Văn H2, bà Nguyễn Thị L đã đứng ra vay số tiền 5.000.000 đồng để trả cho vợ chồng bà. Việc giao tiền này không lập văn bản mà chỉ có vợ chồng bà, cụ S2 và vợ chồng ông H2, bà L chứng kiến. Sau khi giao ruộng thì cụ S2, bà L sử dụng như thế nào thì bà không rõ.
Do vậy, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận lời khai của bà L về việc cụ S2 đã bán toàn bộ diện tích đất ruộng của 02 cụ cho vợ chồng ông B2, bà T3 và xác định diện tích ruộng được giao cho cụ S2 và cụ U (theo khẩu) là 1020m² đất (trong đó cụ U 510m², cụ S2 510m²) tại cánh đồng thôn C, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng, quá trình sử dụng cụ Soát cụ U không chuyển nhượng, tặng cho ai. Sau khi có chính sách dồn điền, đổi thửa đã nhập vào diện tích ruộng 3.060m², hiện do bà L đang quản lý sử dụng là di sản của cụ U và cụ S2 để lại là có căn cứ.
[2.3] Về di chúc của cụ Nguyễn Văn S2:
Các đương sự thống nhất trình bày cụ Nguyễn Thị U chết ngày 23/8/2005 không để lại di chúc. Cụ Nguyễn Văn S2 có để lại di chúc ngày 24/7/2016, di chúc có chữ ký của cụ S2 nhưng không có người làm chứng, không có xác nhận của chính quyền địa phương; nhưng các đương sự không cung cấp được bản gốc di chúc này khi Tòa án yêu cầu. Tại Biên bản hòa giải ngày 10/5/2022 tại UBND xã Q kết luận “...Về di chúc của cụ S2 gửi kèm theo đơn của bà S: do di chúc không có người làm chứng hoặc được chứng thực nên UBND xã không thể khẳng định được di chúc có phải do cụ Nguyễn Văn S2 lập không...”; nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định cụ Nguyễn Văn S2, cụ Nguyễn Thị U có khối tài sản là diện tích đất ở và đất ao 2.195m² và diện tích đất ruộng 1.020m². Các cụ không định đoạt, hay tặng cho khối tài sản trên cho ai; khi các cụ chết đều không để lại di chúc để chấp nhận yêu cầu khởi kiện chia di sản thừa kế của bà Nguyễn Thị S, chia khối di sản của cụ Nguyễn Văn S2 và cụ Nguyễn Thị U là diện tích đất thổ cư, đất vườn tạp, đất ao 2.195m² (số đo thực tế 2115,5m²) thuộc thửa số 369, tờ bản đồ số 16, thôn C, xã Q, huyện T, thành phố Hải Phòng và diện tích đất ruộng 1.020m² theo pháp luật là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 642, Điều 650, Điều 651 Bộ luật Dân sự.
[2.4] Về hàng thừa kế của cụ S2 và cụ U:
Cụ S2 và cụ U có 05 người con: Nguyễn Thị S, Nguyễn Thị S1; Nguyễn Văn H1 (chết ngày 04/5/2005), Nguyễn Văn K (chết ngày 25/11/2006), Nguyễn Văn H2 (chết ngày 24/7/2018).
Theo lời khai của các đương sự, ông Nguyễn Văn H1 kết hôn với bà Nguyễn Thị M và có 01 con chung là anh Nguyễn Văn B. Tuy nghiên, qua xác minh tại UBND cấp xã thấy rằng không có đăng ký kết hôn giữa ông Nguyễn Văn H1 và bà Nguyễn Thị M. Đồng thời các đương sự không cung cấp được tài liệu chứng minh quan hệ huyết thống giữa ông H1 và anh B. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xác định ông Nguyễn Văn H1 chết ngày 04/5/2005 không có vợ con và giành quyền khởi kiện cho anh Nguyễn Văn B nếu sau này có chứng cứ chứng minh là con của ông H1 là có căn cứ.
Tòa án cấp sơ thẩm xác định hàng thừa kế thứ nhất đối với phần di sản của cụ Nguyễn Thị U (chết ngày 23/8/2005) gồm: Cụ Nguyễn Văn S2, bà Nguyễn Thị S, bà Nguyễn Thị S1, ông Nguyễn Văn K (do bà Nguyễn Thị N, chị Nguyễn Thị T2, chị Nguyễn Thị V2, chị Nguyễn Thị O2 thừa kế thế vị), ông Nguyễn Văn H2 (do bà Nguyễn Thị L, anh Nguyễn Hoàng V1, chị Nguyễn Hoàng Đ thừa kế thế vị); và hàng thừa kế thứ nhất đối với phần di sản của cụ Nguyễn Văn S2 (chết ngày 26/12/2016) gồm: Bà Nguyễn Thị S, bà Nguyễn Thị S1, ông Nguyễn Văn K (do chị Nguyễn Thị T2, chị Nguyễn Thị V2, chị Nguyễn Thị O2 thừa kế thế vị), ông Nguyễn Văn H2 (do bà Nguyễn Thị L, anh Nguyễn Hoàng V1, chị Nguyễn Hoàng Đ thừa kế thế vị) là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2.5] Về chia di sản thừa kế của cụ S2 và cụ U:
Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng từng thời điểm mở thừa kế; hàng/diện người được hưởng thừa kế ở từng thời điểm mở thừa kế; công sức người quản lý di sản; hiện trạng thửa đất, giá trị quyền sử dụng đất và ý kiến của những người được hưởng thừa kế để phân chia di sản thừa kế bằng hiện vật cho các đương sự là có căn cứ, phù hợp với nhu cầu sử dụng đất và đúng quy định của pháp luật, bảo đảm đầy đủ quyền lợi hợp pháp của các đương sự. Tuy nhiên, do thời điểm mở thừa kế đối với di sản của cụ U, cụ S2 là khác nhau, nên việc chia di sản của mỗi cụ để lại được xác định cụ thể như sau:
Tổng di sản chung của các cụ là diện tích đất thổ cư, đất vườn tạp, đất ao 2.195m² (số đo thực tế 2.115,5m², trong đó có 1000m² đất thổ cư gồm 350m² đất thổ cư dâng lập và 650m² đất thổ cư hiện là ao, và 1.115,5m² đất ao) và diện tích đất ruộng 1.020m²; nên di sản của mỗi cụ là ½ khối tài sản chung gồm 175m² đất thổ cư dâng lập (có giá 4.000.000đ/m²), 325m² đất thổ cư hiện là ao (có giá 2.500.000đ/m²), 557,75m² đất ao (có giá 1.500.000đ/m²), 510m² đất ruộng (có giá 75.000đồng/m²).
Toà án cấp sơ thẩm tính công sức trong quá trình quản lý, tôn tạo di sản của ông H2, bà L bằng 01 suất thừa kế theo quy định pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay, các thừa kế đều đồng ý, nên có căn cứ.
Vợ và các con ông Nguyễn Văn K (bà Nguyễn Thị N, chị Nguyễn Thị T2, chị Nguyễn Thị V2, chị Nguyễn Thị O2) không nhận đất ở, chỉ đề nghị được nhận đất vườn, ao, ruộng. Tòa án cáp sơ thẩm chia đều di sản đất thổ cư (1000m²) cho các đồng thừa kế là bà Nguyễn Thị S, bà Nguyễn Thị S1, ông Nguyễn Văn H2; phần đất ao (1115,5m²) và đất ruộng (1020m²) cho các đồng thừa kế là bà Nguyễn Thị S, bà Nguyễn Thị S1, ông Nguyễn Văn H2, ông Nguyễn Văn K; và do trên thực tế, diện tích ruộng 1020m² của cụ S2, cụ U đã được dồn điền, nhập vào các thửa 137, 138, 151 với tổng diện tích là 3202,1m² hiện bà L đang quản lý toàn bộ, nên phân chia diện tích ruộng (1020m²) tại thửa 151 cho các đồng thừa kế là phù hợp với hiện trạng trạng sử dụng và có căn cứ, cụ thể:
- - Phần đất thổ cư dâng lập diện tích 350m² có giá trị: 350m² x 4.000.000₫ = 1.400.000.000 đồng. Di sản của cụ U là 700.000.000 đồng chia làm 05 suất (gồm cụ S2, bà S, bà S1, ông H2 và 01 suất công sức), mỗi suất tương ứng 140.000.000 đồng. Di sản của cụ S2 là 840.000.000 đồng (140.000.000 đồng + 700.000.000 đồng) chia làm 04 suất (gồm bà S, bà S1, ông H2 và 01 suất công sức), mỗi suất tương ứng 210.000.000 đồng. Như vậy, mỗi kỷ phần thừa kế đất thổ cư đối với diện tích đất 350m² là 350.000.000 đồng.
- - Phần đất thổ cư hiện là ao diện tích 650m² có giá trị: 650m² x 2.500.000đ = 1.625.000.000 đồng. Di sản của cụ U là 812.500.000 đồng chia làm 05 suất (gồm cụ S2, bà S, bà S1, ông H2 và 01 suất công sức), mỗi suất tương ứng 162.500.000 đồng. Di sản của cụ S2 là 975.000.000 đồng (162.500.000 đồng + 812.500.000 đồng) chia làm 04 suất (gồm bà S, bà S1, ông H2 và 01 suất công sức), mỗi suất tương ứng 243.750.000 đồng. Như vậy, mỗi kỷ phần thừa kế đất thổ cư đối với diện tích đất 650m² là 406.250.000 đồng.
- - Phần đất ao diện tích 1115,5m² có giá trị: 1115,5m² x 1.500.000₫ = 1.673.250.000đ. Di sản của cụ U là 836.625.000 đồng được chia làm 06 suất (gồm cụ S2, bà S, bà S1, ông K, ông H2 và 01 suất công sức), mỗi suất tương ứng 139.437.500đ. Di sản của cụ S2 là 976.062.500 đồng (139.437.500đ + 836.625.000 đồng) chia làm 05 suất (gồm bà S, bà S1, ông K, ông H2 và 01 suất công sức), mỗi suất tương ứng 195.212.500 đồng. Như vậy, mỗi kỷ phần thừa kế đất ao đối với diện tích đất 1115,5m² là 334.650.000 đồng.
- - Phần đất ruộng diện tích 1020m² có giá trị 1020m² x 75.000đ = 76.500.000 đồng. Di sản của cụ U là 38.250.000 đồng được chia làm 06 suất (gồm cụ S2, bà S, bà S1, ông K, ông H2 và 01 suất công sức), mỗi suất tương ứng 6.375.000đồng. Di sản của cụ S2 là 44.625.000 đồng (6.375.000đồng+ 38.250.000 đồng) chia làm 05 suất (gồm bà S, bà S1, ông K, ông H2 và 01 suất công sức), mỗi suất trị giá 8.925.000 đồng. Như vậy, mỗi kỷ phần thừa kế đất ruộng 1020m² là 15.300.000 đồng tương ứng diện tích 204m².
Kỷ phần mỗi đồng thừa kế được hưởng như sau:
Bà Nguyễn Thị S, bà Nguyễn Thị S1 mỗi người được hưởng kỷ phần trị giá 1.090.900.000 đồng (350.000.000 đồng + 406.250.000 đồng + 334.650.000đ) và 204m² đất ruộng trị giá 15.300.000 đồng.
Ông Nguyễn Văn H2 (bà L, anh V1, chị Đ) được hưởng 02 suất thừa kế có giá trị là 2.181.800.000₫ (350.000.000 đồng + 406.250.000 đồng + 334.650.000₫) x 2 và 408m² đất ruộng trị giá 30.600.000 đồng.
Ông Nguyễn Văn K (bà N, chị T2, chị V2, chị O2) được hưởng phần di sản có giá trị là: 334.650.000đ và 204m² đất ruộng trị giá 15.300.000 đồng.
Do bà S, bà S1 và bà N đều có chỗ ở ổn định, bà Nguyễn Thị L, anh Nguyễn Hoàng V1, chị Nguyễn Thị Đ1 hiện đang cư trú trên đất có một số công trình nhà ở, khu vệ sinh do ông H2, bà L xây dựng. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm giao toàn bộ diện tích đất thổ cư đã dâng lập 350m² cho bà Nguyễn Thị L, anh Nguyễn Hoàng V1, chị Nguyễn Thị Đ1 và 312,72 m² đất ao thổ cư giáp liền với đất thổ cư đã dâng lập là có cơ sở, phù hợp với thực tế sử dụng.
Phần diện tích đất ao thổ cư còn lại chia đều cho bà S và bà S1, diện tích đất ao chia cho bà S, bà S1, bà N tương ứng với giá trị di sản được hưởng, cụ thể như sau:
Bà L, anh V1, chị Đ1 được hưởng phần di sản là 662,72 m 2 tr ị giá 2.181.800.000đồng trong đó diện tích đất thổ cư đã dâng lập 350m² trị giá 1.400.000.000 đồng (350m² x 4.000.000 đồng), diện tích đất ao thổ cư 312,72 m² trị giá 781.800.000 đồng (312,72 m² x 2.500.000đ) và 408m² đất ruộng trị giá 30.600.000 đồng.
Bà Nguyễn Thị S được hưởng phần di sản là 168,64m² đất ao thổ cư trị giá 421.600.000 đồng (168,64m² x 2.500.000đ) và 446,2 m² đất ao trị giá 669.300.000 đồng (446,2 m² x 1.500.000đ) và 204m² đất ruộng trị giá 15.300.000 đồng.
Bà Nguyễn Thị S1 được hưởng phần di sản là 168,64m² đất ao thổ cư trị giá 421.600.000 đồng (168,64m² x 2.500.000đ) và 446,2 m² đất ao trị giá 669.300.000 đồng ( 446,2 m² x 1.500.000đ) và 204m² đất ruộng trị giá 15.300.000 đồng.
Bà N, chị V2, chị T2, chị O2 được hưởng phần di sản là 223,1 m² đất ao trị giá 334.650.000đồng (223,1 m² x 1.500.000đ) và 204m² đất ruộng trị giá 15.300.000 đồng. Chị T2, chị V2, chị O2 được hưởng thừa kế thế vị của ông Nguyễn Văn K đối với di sản của cụ Nguyễn Văn S2, tại phiên toà sơ thẩm các chị có quan điểm là giao cho bà Nguyễn Thị N quản lý chung phần di sản các chị được hưởng, quan điểm của chị Nguyễn Thị T2, chị Nguyễn Thị V2, chị Nguyễn Thị O2 là tự nguyện không trái quy định pháp luật nên chấp nhận.
[2.6] Đối với yêu cầu của bà Nguyễn Thị L buộc các đồng thừa kế thanh toán cho bà L số tiền đã chuộc lại ruộng là 5.000.000 đồng: Theo lời khai của bà Nguyễn Thị T3 (vợ ông B2), thì sau khi ông B2 và cụ S2 kí hợp đồng thuê khoán ruộng thì cụ S2 đã đề nghị chấm dứt hợp đồng thuê khoán, ông H2 và bà L đã đứng ra vay 5.000.000 đồng để cụ S2 giao lại cho vợ chồng ông B2, bà T3. Xét thấy việc chấm dứt hợp đồng là giữa cụ S2 và vợ chồng ông B2; ông H2, bà L chỉ là người đứng ra vay hộ cụ Nguyễn Văn S2 để cụ S2 trả cho vợ chồng ông B2, bà T3. Không có tài liệu cho thấy cụ S2 đã trả cho vợ chồng bà L số tiền 5.000.000 đồng hay chưa. Mặt khác, sau khi cụ S2 chấm dứt hợp đồng thuê khoán thì diện tích ruộng của cụ S2, cụ U do vợ chồng ông H2, bà L quản lý trực tiếp trồng lúa, đến năm 2014 đã thực hiện chính sách dồn điền đổi thửa, ruộng của cụ S2, cụ U được dồn cùng về một thửa có diện tích 3.060m² gia đình bà L quản lý từ đó đến nay. Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng trong quá trình dài ông H2, bà L đã canh tác trên ruộng, thu hoa màu, đã được hưởng lợi trên đất để không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị L buộc các đồng thừa kế trả cho bà L số tiền 5.000.000 đồng là có căn cứ.
[2.7] Về yêu cầu hủy GCNQSDĐ số AH 288977 do UBND huyện T cấp ngày 03/11/2005 cho hộ ông Nguyễn Văn S2 đối với diện tích đất 2195m² (trong đó đất ở là 1000m², đất vườn 1195m²) có nguồn gốc là đất thổ cư của bố mẹ cụ S2 để lại năm 1960 được nhà nước công nhận: Như đã phân tích ở trên, diện tích đất này là tài sản chung của cụ U, cụ S2. Sau khi cụ U chết, cụ S2 đã làm thủ tục đăng ký cấp lại GCNQSDĐ đối với toàn bộ diện tích đất mang tên hai cụ mà không có ý kiến của các con của cụ U và cụ S2 về việc phân chia di sản thừa kế của cụ U. Việc UBND huyện T cấp GCNQSDĐ cho hộ cụ Nguyễn Văn S2 là ảnh hưởng đến quyền lợi của các con cụ U và cụ S2. Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, hủy GCNQSDĐ đã cấp cho hộ cụ Nguyễn Văn S2 là có căn cứ.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà S, bà S1, ông K (do bà N, chị T2, chị V2, chị O2 kế thừa), ông H2 (bà L, anh V1, chị Đ1 kế thừa) phải nộp án phí theo quy định. Tuy nhiên, do bà Nguyễn Thị S và bà Nguyễn Thị S1 là người cao tuổi nên được miễn toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm. Ông Nguyễn Văn K đã chết, phần thừa kế của ông giao cho vợ và các con quản lý, sử dụng nên vợ và các con của ông là bà N, chị T2, chị V2, chị O2 phải chịu án phí; Ông Nguyễn Văn H2 đã chết, phần di sản của ông Nguyễn Văn H2 giao cho vợ và các con quản lý nên bà L, anh V1, chị Đ1 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với phần tài sản được chia thừa kế. Bà Nguyễn Thị L là người thứ ba được nhận 01 phần công sức giữ gìn tôn tạo nên không phải chịu án phí, phần án phí này được chia đều cho các đồng thừa kế, cụ thể:
Bà S, bà S1 có nghĩa vụ chịu án phí đối với phần di sản có giá trị: 1.106.200.000 đồng. Tương ứng mỗi người phải chịu án phí là: (36.000.000 đ + 3% x 306.200.000 đ) : 8 = 45.186.000 đồng, nhưng được miễn.
Ông Nguyễn Văn K có nghĩa vụ chịu án phí đối với phần di sản có giá trị: 349.950.000đ, tương ứng với án phí là 5% x 349.950.000đ = 17.497.500đồng. Phần án phí này được chia đều cho bà N, chị V2, chị T2, chị O2, mỗi người phải chịu 4.374.375 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Nguyễn Văn H2 phải chịu án phí đối với phần di sản mình được hưởng, sau khi trừ đi 1/2 suất công sức tôn tạo của bà Nguyễn Thị L, cụ thể ông H2 phải chịu án phí đối với phần di sản có giá trị là: (1.090.900.000 đồng + 545.450.000 đồng + 15.300.000 đồng + 7.650.000 đồng) = 1.659.300.000 đồng. Tương ứng ông H2 phải chịu án phí sơ thẩm là: 36.000.000 đồng + (3% x 859.300.000) = 61.779.000 đồng. Phần án phí này được chia đều cho bà L, anh V1, chị Đ1 mỗi người phải chịu 20.593.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Nguyễn Thị L được hưởng công sức tôn tạo đối với một nửa của 01 suất thừa kế có giá trị bằng: 545.450.000 đồng + 7.650.000 đồng = 553.100.000 đồng, tương ứng với án phí là 20.000.000 đồng + (153.100.100 *4%) = 26.124.000 đồng. Phần án phí đối với phần công sức tôn tạo của bà được chia đều cho các đồng thừa kế bà S, bà S1, ông H2, ông K, mỗi người phải chịu thêm: 26.124.000 đồng : 4 = 6.531.000 đồng. Bà S, bà S1 được miễn án phí. Như vậy các người kế thừa của ông K (bà N, chị T2, chị V2, chị O2) mỗi người phải chịu thêm 1.632.750 đồng án phí. Người kế thừa của ông H2 (bà L, chị Đ1, anh V1) mỗi người phải chịu thêm 2.177.000 đồng án phí.
Ngoài ra, đối với yêu cầu hủy GCNQSDĐ của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự không có giá ngạch.
Do Tòa án cấp sơ thẩm đình chỉ yêu cầu độc lập nên anh Phạm Văn H không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
Với các căn cứ nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy việc Tòa án cấp sơ thẩm quyết định chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị S là đúng pháp luật.
Tại cấp phúc thẩm, không phát sinh tình tiết mới, do đó không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bị đơn và cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
[4] Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên, căn cứ khoản 1 Điều 308; khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
QUYẾT ĐỊNH:
- Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị L; Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 17/2024/DS-ST ngày 04 tháng 3 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm bà L đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000284 ngày 01/4/2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Xác nhận bà L đã thi hành xong khoản tiền nộp án phí dân sự phúc thẩm.
- Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án dân sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Phan Nam |
Bản án số 436/2024/DS-PT ngày 14/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp thừa kế tài sản và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 436/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế tài sản và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: kc
