TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ----------*&*---------- |
Bản án số:436/2023/HNGĐ-ST Ngày 18-8-2023 V/v: “Tranh chấp ly hôn, con chung" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thịnh Quang Thắng
Hội thẩm nhân dân:1/ Bà Hoàng Thị An
2/ Bà Ngô Thị Yêm
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Hải Yến – Thư ký Toà án nhân dân Huyện Đông Anh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Huyện Đông Anh tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thùy Dung– Kiểm sát viên
Ngày 18-8-2023, tại trụ sở Toà án nhân dân Huyện Đông Anh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 267/TLST - HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2023/QĐXX ngày 27/7/2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 32/2023/QĐ-ST ngày 08/8/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1990; Cư trú tại: Thôn Thố Bảo, xã Vân Nội, huyện Đông Anh, Hà Nội
- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1990; Cư trú tại: Thôn T, xã V, huyện Đ, Hà Nội
Có mặt: chị H
Vắng mặt: anh C
NỘI DUNG VỤ ÁN
* Theo đơn khởi kiện ngày 09/6/2023 và các lời khai bổ sung, nguyên đơn chị Nguyễn Thị H trình bày:
- Về tình cảm: Chị với anh Nguyễn Văn C kết hôn ngày 27/9/2011 có đăng ký kết hôn tại UBND xã V. Vợ chồng chị kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện không ai gò ép hay ép buộc gì cả. Sau khi cưới chị H và chung sống với gia đình anh C tại thôn T, xã V, huyện Đ, Hà Nội. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là do vợ chồng không hiểu ý, bất đồng quan điểm trong sinh hoạt nên ngày càng xa cách. Hai bên gia đình cũng chưa gặp nhau để hoà giải hàn gắn cho vợ chồng. Mẫu thuẫn căng thẳng nhất là cách đây khoảng hơn một năm cũng do sinh hoạt và bất đồng quan điểm. Sau đó, chị có làm đơn ra Toà xin ly hôn nhưng anh C không đồng ý. Chị đã rút đơn ly hôn. Sau khi rút đơn xin ly hôn thì vợ chồng có ngồi nói chuyện với nhau nhưng không thể hàn gắn được. Vợ chồng bắt đầu ly thân từ tháng 5/2022 đến nay. Nay quan điểm của chị xác định tình cảm không còn. Chị kiên quyết xin ly hôn anh C
- Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là là Nguyễn Bình M, sinh ngày 21/02/2012 và Nguyễn Như N, sinh ngày 13/4/2019. Hiện nay các con một tuần ở với chị và một tuần ở với anh C. Vì nhà chị và nhà anh C gần nhau. Hiện nay chị đang làm công nhân. Thu nhập bình quân 15.000.000đ-20.000.000đ/tháng. Ly hôn thì chị có nguyện vọng nuôi N, anh C nuôi cháu M và hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
- Về tài sản, nợ: Vợ chồng chị tự giải quyết, không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Anh C trình bày:
- Về tình cảm: Anh với Nguyễn Thị H kết hôn ngày 27/9/2011 có đăng ký kết hôn tại UBND xã V. Vợ chồng anh kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện không ai gò ép hay ép buộc gì cả. Sau khi cưới chị H và chung sống với gia đình anh tại thôn T, xã V, huyện Đ, Hà Nội. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 thì xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân là từ khi chị H đi làm ở sân gôn Vân Trì và có mối quan hệ xã hội rộng về nhà chồng không được như ý. Chị H muốn tự do và thích đi thì đi thích về thì về nên xẩy ra mâu thuẫn. Hai bên gia đình cũng chưa gặp nhau để hoà giải hàn gắn cho vợ chồng. Mẫu thuẫn căng thẳng nhất là cách đây khoảng hơn một năm chị H bảo không thích ở nhà em mà muốn hai vợ chồng về nhà mẹ đẻ chị H ở nhưng anh không đồng ý. Sau đó, chị H có làm đơn ra Toà xin ly hôn nhưng anh không đồng ý. Chị H rút đơn ly hôn. Sau khi chị H rút đơn xin ly hôn thì vợ chồng có ngồi nói chuyện với nhau nhưng chị H không đồng ý và không hàn gắn được. Vợ chồng bắt đầu ly thân từ tháng 7/2022 đến nay. Nay chị H xin ly hôn, anh chưa đồng ý mà để vợ chồng còn một số công chuyện có liên quan anh còn giải quyết. Sau khi giải quyết xong thì anh mới đồng ý ly hôn. Anh không có giải pháp nào để cải thiện tình cảm vợ chồng nhưng còn một số việc liên quan nên anh chưa đồng ý ly hôn.
- Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là là Nguyễn Bình M, sinh ngày 21/02/2012 và Nguyễn Như N, sinh ngày 13/4/2019. Hiện nay các con một tuần ở với anh và một tuần ở với chị H. Vì nhà anh và nhà chị H gần nhau. Hiện nay anh đang làm nghề cơ khí tự do. Thu nhập bình quân 15.000.000đ-20.000.000đ/tháng. Nếu trong trường hợp thì anh có nguyện vọng nuôi cháu M, chị H nuôi cháu N và hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.
- Về tài sản, nợ: Vợ chồng anh tự giải quyết, không yêu cầu Toà án giải quyết.
* Tại phiên toà:
- Chị H vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn anh C; về con chung: Chị xác định vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Bình M, sinh ngày 21/02/2012 và Nguyễn Như N, sinh ngày 13/4/2019. Ly hôn chị nuôi dưỡng cháu N, anh C nuôi dưỡng cháu M và không yêu cầu giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đông Anh phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và các đương sự. Về nội dung: Đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H; Về con chung : Vợ chồng anh C, chị H có 02 con chung là Nguyễn Bình M, sinh ngày 21/02/2012 và Nguyễn Như N, sinh ngày 13/4/2019. Ly hôn giao cho chị H nuôi dưỡng cháu N, anh C nuôi dưỡng cháu M và không giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản chung: Chị H không yêu cầu giải quyết; Về án phí: Chị H phải chịu án phí.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về quan hệ pháp luật:
Chị H có đăng ký kết hôn với anh C có đăng ký tại UBND xã V, huyện Đ, Hà Nội. Chị H xin ly hôn anh C. Anh C có nơi cư trú tại Thôn T, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội. Do vậy, xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp về ly hôn theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về tố tụng: Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập anh C đến Toà án để hoà giải về việc chị H xin ly hôn nhưng anh C vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa hôm nay, Tòa án đã triệu tập anh C hợp lệ lần thứ 2 nhưng anh C vắng mặt không có lý do. Do đó, Tòa án xét xử vắng mặt anh C là phù hợp với quy định của Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự;
[3] Về nội dung:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H kết hôn với anh Nguyễn Văn C1 kết hôn có đăng ký kết hôn tại UBND xã V là hôn nhân hợp pháp.
Xét yêu cầu xin ly hôn của chị H, Hội đồng xét xử thấy rằng: Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa, chị H kiên quyết xin ly hôn. Anh C không đồng ý ly hôn. Anh C đã được Tòa án Thông báo và triệu tập nhiều lần đến hoà giải nhưng anh C không có mặt. Theo xác minh tại địa phương, gia đình thì anh chị quá trình chung sống có nhiều mâu thuẫn. Hiện nay anh chị đã ly thân không quan tâm đến nhau. Do vậy, nếu cứ kéo dài cuộc sống hôn nhân như hiện nay thì sẽ không đạt được mục đích, Hội đồng xét xử cần căn cứ các điều 51, 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị H là phù hợp.
[3.2] Về con chung: Vợ chồng anh C, chị H có 02 con chung là Nguyễn Bình M, sinh ngày 21/02/2012 và Nguyễn Như N, sinh ngày 13/4/2019. Ly hôn anh chị đều thống nhất chị H nuôi dưỡng cháu N, anh C nuôi dưỡng cháu M. Xét việc thống nhất của anh chị là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với pháp luật nên được chấp nhận.
Về cấp dưỡng: Hai bên thống nhất không yêu cầu Toà án giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung nên HĐXX không đặt ra xem xét giải quyết.
[3.3] Về tài sản, nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết
[4] Về án phí: Án phí ly hôn sơ thẩm 300.000đ chị H phải chịu để sung công quỹ nhà nước;
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 51, 56,81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình; - Khoản 1 Điều 28, khoản 4 Điều 147, Điều 203, Điều 227, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
- Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Nguyễn Thị H đối với anh Nguyễn Văn C. Chị Nguyễn Thị H được ly hôn anh Nguyễn Văn C.
- Về con chung: Vợ chồng anh C, chị H có 02 con chung là Nguyễn Bình M, sinh ngày 21/02/2012 và Nguyễn Như N, sinh ngày 13/4/2019. Ly hôn giao chị H nuôi dưỡng cháu N, anh C nuôi dưỡng cháu M. Ghi nhận sự tự nguyện của các bên không yêu cầu giải quyết vấn đề cấp dưỡng nuôi con chung cho đến khi con chung thành niên hoặc có sự thay đổi khác. Chị H, anh C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được cản trở.
- Về tài sản, nợ chung: Chị H không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không xem xét giải quyết
- Về án phí LHST: 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) chị H phải chịu cả nhưng được trừ vào số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai thu số AA/2021/0006912 ngày 12/6/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Đông Anh. Chị H đã nộp đủ án phí.
- Án xử công khai, sơ thẩm, chị H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; Anh C có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nơi nhận:
| Thịnh Quang Thắng |
Bản án số 436/2023/HNGĐ-ST ngày 18/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp ly hôn, con chung
- Số bản án: 436/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, con chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/08/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị H vẫn giữ nguyên quan điểm xin ly hôn anh C; về con chung: Chị xác định vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Bình M, sinh ngày 21/02/2012 và Nguyễn Như N, sinh ngày 13/4/2019. Ly hôn chị nuôi dưỡng cháu N, anh C nuôi dưỡng cháu M và không yêu cầu giải quyết về vấn đề cấp dưỡng nuôi con; Về tài sản, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết
