TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 436/2024/HNGĐ-ST Ngày: 02/5/2024 |
V/v tranh chấp về ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Diễm .
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Văn Tiên ;
- Bà Nguyễn Thị Mây.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà: Bà Võ Thị Kiều - Kiểm sát viên.
Ngày 02 tháng 5 năm 2024, tại Phòng xử án trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 434/2023/TLST – HNGĐ ngày 27 tháng 4 năm 2023,về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 249/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2024,Quyết định hoãn phiên tòa số: 380/QÐST-HPTngày 09 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Quách Thủy L, sinh năm: 1991.(Có đơn xin vắng mặt)
Bị đơn: Ông Trần Văn T, sinh năm: 1985. (Vắng mặt)
Cùng địa chỉ: A,tổ C, khu phố C, phường T,quận A,thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn ly hôn, bản tự khai và biên bản tiến hành hòa giải, nguyên đơn là bà Quách Thủy L trình bày:
Bà Quách Thủy L và ông Trần Văn T tự nguyện đăng ký kết hôn số 54,quyển số 01/2009 tại Ủy ban nhân dân phường T, quận A,thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 28/4/2009.Trong quá trình sống chung có nhiều mâu thuẫn xảy ra, nguyên nhân là do ông T thường xuyên kiếm chuyện để cãi nhau, thậm chí ông T còn đánh đập làm bà L bị bầm tím mặt và xúc phạm bà L. Bà L và ông T đã ly thân từ tháng 5 năm 2023 đến nay. Bà L tạo điều kiện nhiều lần để hàn gắn gia đình nhưng ông T không thay đổi. Bà L rất mệt mỏi đối với cuộc hôn nhân này về tinh thần. Nay, bà Linh cảm t không còn niềm tin và thương yêu,quý trọng ông T nữa, không thể đoàn tụ được nữa, bà L đề nghị sớm được ly hôn để ổn định cuộc sống và tinh thần. Vì vậy, bà L yêu cầu được ly hôn với ông Trần Văn T .
- Trong quá trình chung sống, vợ chồng có 02 (hai) con chung tên: Trần Thành Đ, sinh năm: 2009 và Trần Khánh N, sinh năm: 2012 sẽ do bà Quách Thủy L trực tiếp nuôi dưỡng, không yêu cầu ông Trần Văn T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Bà L xác định ông T và bà L không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà Quách Thủy L có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án ly hôn giữa bà với ông Trần Văn T, lý do: bà L bận đi làm không thể xin nghỉ được, bà L vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày trong bản tự khai và biên bản hòa giải tại Tòa án, bà L không bổ sung hay thay đổi ý kiến gì thêm.
Tại bản tự khai của cháu Trần Thành Đ trình bày: nếu Ba M ly hôn thì cháu muốn sống với Mẹ là bà Quách Thủy L, cháu Đ chứng kiến Ba đánh đập Mẹ từ khi con được 09 (chín) tuổi.
Tại bản tự khai của cháu Trần Khánh N trình bày: nếu Ba M ly hôn thì cháu muốn sống với M là bà Quách Thủy L, cháu N chứng kiến Ba đánh đập Mẹ từ khi con được 02 (hai) tuổi.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành thủ tục niêm yết công khai thông báo về việc thụ lý vụ án đối với bị đơn ông Trần Văn T. Tuy nhiên,Tòa án không nhận được bất kỳ văn bản nào ghi nhận ý kiến,yêu cầu của bị đơn đối với yêu cầu của nguyên đơn bà Quách Thủy L.
Tòa án tiếp tục triệu tập các đương sự để tham gia về phiên hòa giải nhưng ông Trần Văn T liên tục vắng mặt. Do đó, vụ án không tiến hành hòa giải được nên vụ án đưa ra xét xử công khai tại phiên tòa.
Tại phiên tòa ngày 09/4/2024, bị đơn ông Trần Văn T vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất không rõ lý do, nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa theo quy định tại các điều 227 và 233 Bộ luật Tố tụng dân sự.
3
Tại phiên tòa ngày 02/5/2024,bị đơn ông Trần Văn T vẫn vắng mặt không có lý do và bà Quách Thủy L vắng mặt tại phiên tòa do có đơn xin vắng mặt, nên Hội đồng xét xử quyết định tiếp tục xét xử vụ án theo quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 phát biểu ý kiến:
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án, thông qua việc kiểm sát thụ lý, lập hồ sơ vụ án và kiểm sát trực tiếp tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh có ý kiến như sau:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến thời điểm xét xử, Thẩm phán đã chấp hành đúng các quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án.
- Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử: Tại phiên tòa, phiên toà được tiến hành theo đúng trình tự pháp luật tố tụng dân sự.
- Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Quách Thủy L thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự, ông Trần Văn T vắng mặt không rõ lý do nên ông Trần Văn T đã tự từ bỏ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án:
+ Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Quách Thủy L với ông Trần Văn T .
+ Về con chung: Giao 02 (hai) con chung tên: Trần Thành Đ, sinh năm: 2009 và Trần Khánh N, sinh năm: 2012 cho bà Quách Thủy L trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông Trần Văn T đến khi có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của bà Quách Thủy L .
+Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Bà L xác định ông T và bà L không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên tòa:
Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và giữ nguyên ý kiến, yêu cầu đã trình bày trong quá trình giải quyết vụ án.
Bị đơn vắng mặt (lần 2) không rõ lý do nên không có lời khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại các điều 227 và 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
4
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa,Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Các đương sự tranh chấp với nhau về việc ly hôn. Đây là quan hệ pháp luật “tranh chấp về ly hôn”. Bị đơn đang cư trú, sinh sống tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào các điều 28, 35 và 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Về yêu cầu của đương sự:
Căn cứ vào lời khai của đương sự; căn cứ vào tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp và Tòa án thu thập được có đủ cơ sở xác định:
Ông Trần Văn T và bà Quách Thủy L chung sống với nhau có đăng ký kết hôn số 54, quyển số 01/2009 tại Ủy ban nhân dân phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 28/4/2009. Nay, bà Quách Thủy L nộp đơn xin được ly hôn với ông Trần Văn T .
Về con chung: có 02 (hai) con chung tên: Trần Thành Đ, sinh năm: 2009 và Trần Khánh N, sinh năm: 2012 sẽ do bà Quách Thủy L trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông Trần Văn T đến khi có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của bà Quách Thủy L .
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Bà L xác định bà L và ông T không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân Quận 12 tiến hành xác minh tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận A về tình trạng hôn nhân giữa hai vợ chồng ông Trần Văn T và bà Quách Thủy L xác định: mâu thuẫn của ông T và bà L thì Ủy ban nhân dân phường T, quận A không có chứng cứ gì nên chuyển Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Hội đồng xét xử xét thấy:
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 51 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 về Quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn: Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 về căn cứ cho ly hôn và ly hôn theo yêu cầu của một bên: Tòa án xem xét yêu cầu ly hôn, nếu xét thấy khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được thì Tòa án giải quyết cho ly hôn.
5
Căn cứ vào lời trình bày của các đương sự; căn cứ vào kết quả xác minh tình trạng hôn nhân của hai vợ chồng có đủ cơ sở để kết luận: Quan hệ tình cảm vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn thật sự có mâu thuẫn trầm trọng, hai vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc, tôn trọng lẫn nhau, không cùng nhau chia sẻ trong việc xây dựng gia đình hạnh phúc, trong việc chăm sóc, nuôi dạy con cái, mặc dù Tòa án hòa giải nhiều lần nhưng các bên đương sự không thể hàn gắn để đoàn tụ. Xét thấy,đời sống chung của vợ chồng nguyên đơn và bị đơn không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử, xét thấy có đủ cơ sở thực tế và căn cứ pháp lý chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn.
Về con chung: giao 02 (hai) con chung tên: Trần Thành Đ, sinh năm: 2009 và Trần Khánh N, sinh năm: 2012 cho bà Quách Thủy L trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông Trần Văn T đến khi có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của bà Quách Thủy L .
Vì lợi ích của con, đảm bảo sự ổn định về tinh thần, sức khỏe trong cuộc sống, trong học tập nên căn cứ theo quy định tại Điều 58 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014: Quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con sau khi ly hôn; việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau ly hôn; nghĩa vụ, quyền của cha mẹ không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; quyền, nghĩa vụ của cha mẹ trực tiếp nuôi con đối với người không trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn và thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Xét thấy, nguyện vọng bà Quách Thủy L và của các con: Trần Thành Đ và Trần Khánh N là có cơ sở vì bà L là người trực tiếp chăm nom, quan tâm chăm sóc con từ nhỏ cho đến nay, vậy nên giao các con cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng là thỏa đáng nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung về tài sản: Bà L xác định bà L và ông T không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về án phí:
Nguyên đơn yêu cầu ly hôn với bị đơn nên nguyên đơn là bà Quách Thủy L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp hôn nhân và gia đình không có giá ngạch là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng.
6
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các điều 9, 51, 53, 54, 56, 57, 58 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào các điều 28, 35, 39, 208, 227,228, 233 và 271 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Luật phí và lệ phí;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016-UBTVQH14;
Căn cứ vào Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
1.1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Quách Thủy L được ly hôn với ông Trần Văn T .
Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 54, quyển số 01/2009 tại Ủy ban nhân dân phường T, quận A, thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 28/4/2009 không còn giá trị pháp lý kể từ ngày án có hiệu lực pháp luật.
1.2. Về con chung: Giao 02 (hai) con chung tên: Trần Thành Đ, sinh năm: 2009 và Trần Khánh N, sinh năm: 2012 cho bà Quách Thủy L trực tiếp nuôi dưỡng. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với ông Trần Văn T đến khi có yêu cầu cấp dưỡng nuôi con của bà Quách Thủy L.
Vì lợi ích của con chung, các bên không được quyền ngăn cản việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung, được quyền yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con; các bên và cá nhân, cơ quan, tổ chức quy định tại Khoản 5 Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 được quyền yêu cầu thay đổi quyền nuôi con.
1.3. Về tài sản chung: Bà Quách Thủy L xác định bà L và ông Trần Văn T không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
1.4. Về nghĩa vụ chung về tài sản: Bà Quách Thủy L xác định bà L và ông Trần Văn T không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Về án phí:
Bà Quách Thủy L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp hôn nhân và gia đình không có giá ngạch là 300.000 (Ba trăm ngàn) đồng, nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp, theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2022/0005847 ngày 27/4/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Quách Thủy L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm đối với vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình.
3. Quyền yêu cầu thi hành án, nghĩa vụ thi hành án, thời hiệu thi hành án:
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6;6a;7;7a và 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008, được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
4. Quyền kháng cáo:
Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thị Diễm |
Bản án số 436/2024/HNGĐ-ST ngày 02/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 436/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 02/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
