Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 436/2024/HS-ST

Ngày: 22-8-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Viết Dược.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Chính;

2. Ông Nguyễn Thái Hòa.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Tiến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Lê Duy Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 429/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 448/2024/QĐXXST-HS, ngày 07/8/2024 đối với:

Bị cáo: Huỳnh Tấn T, sinh năm 1993 tại Đồng Nai. Tên gọi khác: Không. Nơi cư trú: KDC A, ấp C, xã G, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 01/12. Dân tộc: Kinh. Giới tính: Nam. Tôn giáo: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Huỳnh Văn N, sinh năm 1973 và bà Tăng Thị T1, sinh năm 1971. Bị cáo chưa có vợ, con. Tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 22/01/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo Bản án số 16/2018/HS-ST.

Nhân thân:

Ngày 09/9/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nhưng được miễn hình phạt; 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo Bản án số 534/2016/HSST.

Ngày 05/9/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xử phạt 03 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”; 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo Bản án số 405/2019/HS-ST. Bản án bị Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai kháng nghị. Ngày 22/11/2019, Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm bằng Bản án số 395/2019/HS-PT, chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát, sửa Bản án số 405/2019/HS-ST về điều luật áp dụng, xử phạt bị cáo 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Ngày 22/3/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuy” theo Bản án số 31/2022/HS-ST.

Hiện bị cáo bị giam giữ tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Bị cáo có mặt.

Bị hại: Bà Nguyễn Thị Minh T2, sinh năm 1975.

Địa chỉ 137/35, khu phố B, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Vắng mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1.Ông Lê Thanh T3, sinh năm 1977. Vắng mặt.

2.Bà Nguyễn Thị Kim T4, sinh năm 1986. Vắng mặt.

Cùng địa chỉ 70/4/27, khu phố I, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 29/4/2019, Huỳnh Tấn T cùng bạn là Phạm Thành N1 (tên gọi khác là C, sinh năm 1993, ngụ tại D, khu phố D, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) đi tới tiệm cá kiểng của đối tượng tên thường gọi là D đen (không rõ họ và địa chỉ) tại khu vực thuộc tổ A, khu phố I, phường T, thành phố B chơi. Tại đây, trong quá trình ăn nhậu, đối tượng D nhờ T đi cầm 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Lead màu đỏ, biển số 39F1-6334 lấy số tiền khoảng 03 đến 04 triệu, thấy vậy T nghi ngờ là xe do trộm cắp mà có nhưng do đang cần tiền tiêu xài nên T đồng ý. Sau đó, T điều khiển chiếc xe trên chạy hướng tiệm game bắn cá “Tú Cơ” thuộc phường T thì thấy xe gần hết xăng nên T dừng lại, mở cốp xe thì thấy ổ khóa bị bẻ và không mở được nên đã biết rõ được là xe do trộm cắp mà có. Lúc này, T cố tình lấy chìa khóa mở cốp xe nhiều lần thì mở được và phát hiện bên trong cốp xe có để các Giấy đăng ký xe, Chứng minh nhân dân và Giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Thị Minh T2 và 01 điện thoại Samsung S6 nên T liền tháo sim và thay sim điện thoại của T vào để sử dụng với mục đích chiếm đoạt tài sản. Sau đó, đến chiều ngày 30/4/2019, T mang chiếc xe trên đi cầm cho ông Lê Thanh T3 (sinh năm 1977, ngụ tại số G, tổ D, khu phố I, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai) được số tiền 5.000.000 đồng. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, T nhờ người bạn tên Trịnh Quốc K (sinh năm 1987, ngụ tại A, khu phố I, phường T) điều khiển xe môtô hiệu Airblade biển số 60F2-932.00 chở đi đến khu vực cầu S, phường T thì bị lực lượng Cảnh sát 113 Công an tỉnh Đ phát hiện không đội nón bảo hiểm, yêu cầu dừng xe để kiểm tra, T liền xuống xe bỏ chạy thì bị bắt giữ, phát hiện và thu giữ toàn bộ giấy tờ và điện thoại T lấy trong xe Lead màu đỏ biển số 39F1-6334 nên đã lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xác minh, giải quyết.

Kết quả xác minh, điều tra xác định được: Vào khoảng 13 giờ 00 phút ngày 29/4/2019, bà Nguyễn Thị Minh T2 dựng xe môtô nhãn hiệu Lead màu đỏ, biển số 39F1-6334 tại khu vực dãy trọ thuộc địa chỉ nêu trên, bên trong cốp xe có để 01 điện thoại di động hiệu S S6, 01 điện thoại di động hiệu Nokia, 01 nhẫn vàng loại 18K (trọng lượng 0,3 chỉ), 01 nhẫn vàng trắng (trọng lượng 01 chỉ), 03 Giấy đăng ký xe môtô, kèm theo một số giấy tờ khác và số tiền mặt khoảng 5.000.000 đồng thì bị mất trộm.

Ngày 02/7/2019 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B đã ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự về các tội “Trộm cắp tài sản” và “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Ngày 11/4/2024, Huỳnh Tấn T đã bị khởi tố về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” để điều tra, xử lý.

Vật chứng của vụ án:

- 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Lead màu đỏ, biển số 39F1-6334 kèm theo Giấy đăng ký xe, do ông Lê Thanh T3 giao nộp, là tài sản của bà Nguyễn Thị Minh T2 bị trộm cắp, Cơ quan điều tra đã trả cho bà T2.

- 01 Chứng minh nhân dân và Giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Thị Minh T2; 02 Giấy đăng ký xe mô tô biển số 60F2-35418 và 60K8-6986 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung S6 màu vàng đồng (số imei: 354623071748272), thu giữ trên người bị can T, là tài sản và các giấy tờ, tài liệu của bà Nguyễn Thị Minh T2 để trong cốp xe bị mất nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà T2;

- Số tiền 5.000.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Nokia, 01 nhẫn vàng loại 18K (trọng lượng 0,3 chỉ) và 01 nhẫn vàng trắng (trọng lượng 01 chỉ), của bà Nguyễn Thị Minh T2 bị mất trộm, chưa xác định được đối tượng trộm cắp nên chưa thu hồi được.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 244/TCKH-HĐĐG ngày 28/6/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố B kết luận: “01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Lead màu đỏ, biển số 39F1-6334; 01 điện thoại di động hiệu S S6 và 01 nhẫn vàng loại 18K (trọng lượng 0,3 chỉ), tổng giá trị là 24.569.100 đồng.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia và 01 nhẫn vàng trắng (trọng lượng 01 chỉ) chưa thu hồi được, không rõ model, chủng loại nên không định giá được.

Về dân sự: Bị hại bà Nguyễn Thị Minh T2 không yêu cầu bồi thường. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh T3, bà Nguyễn Thị Kim T4 không có ý kiến về việc bồi thường.

Tại Cáo trạng số 423/CT-VKSBH, ngày 16/7/2024, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa truy tố bị cáo Huỳnh Tấn T về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, nêu tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Huỳnh Tấn T phạm tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo với mức hình phạt từ 14 đến 18 tháng tù. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến bào chữa, tranh luận gì đối với lời luận tội của đại diện Viện Kiểm sát. Trong lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt mức thấp nhất cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:

Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2] Về hành vi thực hiện tội phạm của bị cáo:

Xét thấy, lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 29/4/2019 và 30/4/2019, tại phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Huỳnh Tấn T đã có hành vi tiêu thụ 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Lead màu đỏ, biển số 39F1-6334, trị giá 22.400.000 đồng do phạm tội mà có, là tài sản của bà Nguyễn Thị Minh T2 bị mất trộm vào ngày 29/4/2019 tại phường T, thành phố B thì bị phát hiện, khởi tố điều tra xử lý.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tại địa phương, đã phạm vào tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Do vậy, cần có mức án nghiêm, tương xứng với tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

[3] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quyết định hình phạt:

Bị cáo đã bị đưa ra xét xử về hành vi chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích, nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân, mà tiếp tục phạm tội, thể hiện việc coi thường pháp luật, cần thiết phải cách ly bị cáo với xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Ngày 22/01/2018 bị Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm theo Bản án số 16/2018/HS-ST. Hành vi phạm tội của bị cáo lần này phạm vào tình tiết tăng nặng là tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo của pháp luật, tạo điều kiện để bị cáo cải tạo trở thành công dân sống có ích cho xã hội.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại không yêu cầu bị cáo bồi thường, nên không đặt ra xem xét, giải quyết. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lê Thanh T3, bà Nguyễn Thị Kim T4, trường hợp có yêu cầu bị cáo trả lại số tiền 5.000.000 đồng đã cầm cố xe môtô nhãn hiệu Lead màu đỏ, biển số 39F1-6334, thì có quyền khởi kiện yêu cầu bị cáo bồi thường trong vụ án khác theo quy định pháp luật.

[5] Vật chứng của vụ án:

- 01 chiếc xe môtô nhãn hiệu Lead màu đỏ, biển số 39F1-6334 kèm theo Giấy đăng ký xe, do ông Lê Thanh T3 giao nộp, là tài sản của bà Nguyễn Thị Minh T2 bị trộm cắp, nên Cơ quan điều tra đã trả cho bà T2 là phù hợp quy định pháp luật.

- 01 Chứng minh nhân dân và Giấy phép lái xe mang tên Nguyễn Thị Minh T2; 02 Giấy đăng ký xe mô tô biển số 60F2-35418 và 60K8-6986 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung S6 màu vàng đồng (số imei: 354623071748272), thu giữ trên người của Huỳnh Tấn T, là tài sản và các giấy tờ, tài liệu của bà Nguyễn Thị Minh T2 để trong cốp xe bị mất, nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà T2 là phù hợp quy định pháp luật.

- Số tiền 5.000.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu Nokia, 01 nhẫn vàng loại 18K (trọng lượng 0,3 chỉ) và 01 nhẫn vàng trắng (trọng lượng 01 chỉ), của bà Nguyễn Thị Minh T2 bị mất trộm, chưa xác định được đối tượng trộm cắp nên chưa thu hồi được.

[6] Những vấn đề khác liên quan đến vụ án:

Đối với đối tượng tên D đen (không rõ họ và địa chỉ) có dấu hiệu đồng phạm về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” và nghi phạm về hành vi “Trộm cắp tài sản” trong vụ án. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ và xử lý sau.

Đối với Phạm Thành N1 có mặt tiệm cá kiểng của đối tượng D đen vào ngày 29/4/2019 và Trịnh Quốc K là người được T nhờ chở đi đến khu vực cầu S vào ngày 30/4/2019. Tuy nhiên, N1 không biết hành vi D giao xe môtô nhãn hiệu Lead biển số 39F1-6334 cho Huỳnh Tấn T đi tiêu thụ; cả N1K đều không biết về hành vi tiêu thụ của T, nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.

Việc ông Lê Thanh T3 và vợ ông T3 là bà Nguyễn Thị Kim T4 đã nhận cầm đồ chiếc xe môtô nhãn hiệu Lead biển số 39F1-6334 với số tiền 5.000.000 đồng, nhưng do xe này có giấy tờ phù hợp biển số, quá trình giao dịch cầm đồ ông T3 không biết chiếc xe do phạm tội mà có, nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.

Đối với hành vi “Trộm cắp tài sản” trong vụ án, Cơ quan điều tra đã ra Quyết định tách vụ án và xử lý theo quy định pháp luật.

[7] Về án phí:

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo phải nộp.

[8] Quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 323; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự:

    Xử phạt bị cáo Huỳnh Tấn T 01 (một) năm tù về tội “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

    Tổng hợp hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt 06 (sáu) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “tàng trữ trái phép chất ma túy” theo Bản án số 31/2022/HS-ST ngày 22/3/2022 của Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai, buộc bị cáo Huỳnh Tấn T phải chấp hành hình phạt chung là 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày 09/01/2021.

  2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Huỳnh Tấn T phải nộp số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - TAND tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND TP Biên Hòa;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - Công an TP Biên Hòa;
  • - Chi cục THA DS TP Biên Hòa;
  • - Lưu HS, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Trịnh Viết Dược

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 436/2024/HS-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự sơ thẩm (tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)

  • Số bản án: 436/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA – TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Án xét xử
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger