|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 436/2024/HNGĐ-ST
Ngày 28/08/2024
V/v Ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Loan;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thắng ;
Ông Chu Trần Vĩnh .
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu Vân - Thư ký Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm.
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Huyên
Ngày 28 tháng 08 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Bắc Từ Liêm xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 238/2024/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 07 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 55/2024/QĐST-HNGĐ ngày 08/8/2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1986; Nơi thường trú: Xóm Chùa, xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội; Có mặt tại phiên tòa;
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1986; Nơi cư trú: P302, tòa nhà B, chung cư G, phường C, quận B, thành phố Hà Nội; Vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện về việc ly hôn và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, nguyên đơn ông Nguyễn Xuân T trình bày:
Ông Nguyễn Xuân T và bà Nguyễn Thị D kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kêt hôn ngày 29/11/2010 tại UBND xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội theo Giấy chứng nhận kết hôn số 117/2010. Khi mới kết hôn dù kinh tế khó khăn nhưng cuộc sống vợ chồng của ông bà vẫn êm ấm, hạnh phúc. Quá trình chung sống, hai ông bà có hai con chung là cháu Nguyễn Mai T1 và cháu Nguyễn Mai A. Với tính chất công việc khác nhau nên hai bên có nhiều cách nhìn nhận, quan điểm khác nhau trong cuộc sống, cùng với đó trong quan hệ với gia đình nhà chồng có nhiều bất đồng, như mâu thuẫn giữa bà D và mẹ đẻ ông T. Bà D có những lời nói, hành động không tôn trọng mẹ chồng dẫn đến mâu thuẫn vợ chồng, tình cảm sứt mẻ. Sau khi bà D sinh con thứ hai, lại nảy sinh mâu thuẫn giữa hai bên. Bà D không chào hỏi mẹ chồng và đòi mua chung cư để sống riêng và từ khi sống riêng không về nhà ông T thăm hỏi bố mẹ chồng nữa. Mặt khác, hai ông bà đều gặp áp lực từ công việc. Mỗi khi vợ chồng cãi vã,
2
bà D lại nhận là nhà cửa, tiền bạc hai vợ chồng có được là do nhà vợ, khiến ông T thấy mình không được vợ tôn trọng. Từ đó vợ chồng ông bà ngày càng phát sinh những bất đồng quan điểm, mâu thuẫn trầm trọng dẫn đến vợ chồng ông thường xuyên xảy ra những vụ tranh cãi, gây gổ vì những bất đồng tưởng như nhỏ nhặt trong cuộc sống. Mặc dù đã được bố mẹ hai bên khuyên ngăn, hòa giải nhưng vợ chồng ông vẫn không có được tiếng nói chung.
Ông T, bà D đã sống ly thân từ năm 2022. Ông T ở tại xã K với gia đình còn bà D và các con sinh sống và chuyển hộ khẩu về tòa nhà B - C302 G, phường C, quận B. Bà D khi giỗ, ngày tết cũng không về nhà ông T. Ông T xác định vợ chồng không còn tình cảm, không thể tiếp tục chung sống. Ông T thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên hai vợ chồng ông đã đồng thuận ly hôn nhưng bà D không đồng ý cùng ra Tòa giải quyết, để mặc ông T tự làm thủ tục ly hôn. Ông T đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà D theo nguyện vọng.
Về con chung: Ông T, bà D có hai con chung là Nguyễn Mai T1 sinh ngày 13/02/2012 và Nguyễn Mai A sinh ngày 25/09/2020. Sau khi ông bà sống ly thân, hai cháu ở với bà D. Cháu T1 đã có nguyện vọng là được ở với mẹ sau khi bố mẹ ly hôn. Ông T thấy để bà D trực tiếp nuôi con sẽ tốt hơn nên ông đồng ý để bà D trực tiếp nuôi dưỡng và chăm sóc hai con chung. Ông T tự nguyện cấp dưỡng nuôi con hàng tháng để bà D nuôi hai con chunglà 3.000.000 đồng/tháng.
Ông T đang làm quản lý sản xuất tại Công ty TNHH H có hợp đồng lao động với thu nhập bình quân khoảng 25 triệu đồng/tháng.
Về tài sản chung: Ông bà có tài sản chung là căn hộ S tòa B, chung cư G, phường C, quận B, thành phố Hà Nội. Toàn bộ nhà ở chung cư này ông T đã thỏa thuận với bà D để lại cho bà D và hai con của ông bà sử dụng và không yêu cầu tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Ông bà không có nợ chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn, bà Nguyễn Thị D không đến Tòa án theo triệu tập, không tham gia các phiên họp, phiên hòa giải, cung cấp lời khai, tài liệu, chứng cứ cho Tòa án.
Trước khi mở phiên tòa, bà D đã gửi đơn trình bày đề ngày 26/8/2024 tới Tòa án với nội dung: việc ly hôn giữa bà D và ông T, bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Bà D đồng ý ly hôn với ông T do ông T có mối quan hệ bên ngoài. Hiện bà D đang nuôi hai con chung của ông bà là Nguyễn Mai T1 sinh ngày 13/02/2012 và Nguyễn Mai A sinh ngày 25/09/2020. Bà D có nguyện vọng được nuôi hai con chung và yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con 05 triệu đồng/tháng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Bà D đang làm việc tại Công ty Cổ phần A1 với thu nhập khoảng 40 triệu đồng/tháng. Chi phí sinh hoạt, kể cả tiền học cho hai con khoảng 30 triệu đồng/tháng.
Về tài sau chung: trước khi ông T làm đơn ly hôn, ông T, bà D đã thỏa thuận giải quyết xong về tài sản chung gồm ô tô và căn hộ chung cư S tòa B, chung cư G, phường C, quận B. Các tài sản khác là tài sản riêng của bà D, không liên quan đến ông T. Bà xác định hai vợ chồng không còn tài sản chung, không đề nghị Tòa án giải quyết về tài sản trong vụ án này.
3
Bà D đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt bà D tại phiên tòa ngày 28/8/2024 và đề nghị Tòa án gửi bản án đến địa chỉ cư trú của bà.
* Tại bản ghi ý kiến của Tòa án và đơn trình bày nguyện vọng, cháu Nguyễn Mai T1, sinh ngày 13/02/2012 con lớn của bà D, ông T có nguyện vọng được ở với mẹ là bà D sau khi bố mẹ ly hôn. Cháu T1 hiện ở với mẹ là bà D, còn bố cháu (ông T) sống tại nhà ông bà nội của cháu (Bố mẹ ông T).
Tại Biên bản xác minh ngày 11/6/2024 của Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm, chính quyền địa phương nơi bà D cư trú cung cấp thông tin: Trước đây ông T, bà D cùng chung sống tại căn hộ C tòa B – C302 khu nhà ở cao tầng CT2, chung cư G, tổ dân phố H, phường C, quận B. Trong quá trình chung sống, hai bên không có điều tiếng gì, không đề nghị địa phương hòa giải mâu thuẫn nên địa phương không nắm được mâu thuẫn vợ chồng. Hiện ông T không còn cư trú tại địa chỉ trên. Ông T chuyển đi nơi khác sinh sống khi nào, chuyển đi đâu địa phương không nắm rõ.
Tại phiên tòa:
- Ông T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, đề nghị Tòa án giải quyết cho ông được ly hôn với bà D ; Giao hai con của ông bà là Nguyễn Mai T1 sinh ngày 13/02/2012 và Nguyễn Mai A sinh ngày 25/09/2020cho bà D nuôi dưỡng; Ông T cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 9/2024 đến khi cháu Mai A đủ 18 tuổi. Ông và bà D đã giải quyết xong tài sản chung, nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về cấp dưỡng nuôi con : Thu nhập bình quân của ông T hiện là 25.000.000 đồng/tháng (Làm thêm giờ thì sẽ được thêm 3-5 triệu đồng). Công việc hiện tại ông T đang làm tại công ty của người nhà bà D, sau ly hôn sẽ có thay đổi, chắc chắn có sự giảm sút lớn về thu nhập nên ông chỉ có khả năng cấp dưỡng nuôi con 03 triệu đồng/tháng. Hơn nữa, ông và bà D thỏa thuận là bà D sẽ sở hữu căn hộ chung cư, ông tự lo nơi ở mới nên ông cũng cần có tích lũy hoặc trả nợ nếu mua nhà.
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Bắc Từ Liêm phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ việc:
+ Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định tại Điều 48 Bộ luật tố tụng dân sự, thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, lập hồ sơ đầy đủ, đúng quy định. Tại phiên tòa: Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm. Các quy định về phiên tòa, thủ tục bắt đầu phiên tòa, tranh tụng đều được thực hiện theo đúng quy định tại Chương 14 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông T chấp hành các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình, bà D không chấp hành quy định về quyền và nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 71, 72, 234 Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của ông T với bà D; Ông T được ly hôn với bà D ; Giao con chung của ông T, bà D là cháu Nguyễn Mai T1 sinh ngày 13/02/2012 và cháu Nguyễn Mai A sinh ngày 25/09/2020 cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng; Ông T cấp dưỡng nuôi con chung 3.000.000 đồng/tháng đến khi cháu Mai A đủ 18 tuổi. Về tài sản chung, nợ chung: Các bên đương sự đã tự giải quyết nên không xem xét. Ông T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
4
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận công khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
- - Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị D là bị đơn trong vụ án cư trú tại căn hộ C tòa B, chung cư G, tổ dân phố H, phường C, quận B, thành phố Hà Nội nên thẩm quyền giải quyết vụ án thuộc về Tòa án nhân dân quận Bắc Từ Liêm theo quy định tại Điều 28, khoản 1 điều 35, khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Việc xét xử vắng mặt bà D: Bà D đã được triệu tập hợp lệ và có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bà D.
[2] Về nội dung:
2.1. Về quan hệ hôn nhân:
Ông Nguyễn Xuân T và bà Nguyễn Thị D kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã K, huyện Đ, thành phố Hà Nội ngày 29/11/2010. Hôn nhân của ông bà là hợp pháp. Ông bà chung sống được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Theo ông T nguyên nhân mâu thuẫn là do hai bên bất đồng quan điểm sống, không tìm được tiếng nói chung, mâu thuẫn với các thành viên khác trong gia đình dẫn đến vợ chồng hay xảy ra mâu thuẫn, bà D không tôn trọng chồng. Còn theo bà D, mâu thuẫn do ông T có mối quan hệ bên ngoài. Mâu thuân giữa hai bên trầm trọng từ năm 2022. Năm 2022, ông T, bà D đã sống ly thân đến nay. Ông T yêu cầu được ly hôn với bà D và bà D cũng đồng ý ly hôn theo yêu cầu của ông T. Xét bà D, ông T không còn tình cảm, không quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không cùng hướng tới mục đích chung là xây dựng hôn nhân, gia đình hạnh phúc. Mâu thuẫn giữa ông bà là trầm trọng, hôn nhân không thể kéo dài được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được. Việc ông T yêu cầu ly hôn với bà D, bà D đồng ý ly hôn là có căn cứ. Do vậy, căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông T với bà D.
2.2. Về con chung:
Ông T, bà D có hai con chung là Nguyễn Mai T1 sinh ngày 13/02/2012 và Nguyễn Mai A sinh ngày 25/09/2020. Hai ông bà đều thống nhất giao hai con chung cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn, cháu T1 có nguyện vọng được ở với mẹ đẻ là bà D sau khi cha mẹ ly hôn. Xét về quyền lợi mọi mặt của các con khi giao cho cha mẹ nuôi sau li hôn thấy: Từ khi ông T, bà D ly thân đến nay, hai con chung của ông bà đều do bà D trực tiếp nuôi dưỡng, bà D có nơi ở, công việc và thu nhập ổn định, các con chung của ông bà đều là con gái sự chăm sóc, dạy dỗ từ người mẹ thuận lợi hơn và đảm bảo sự ổn định trong cuộc sống của các cháu. Căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình cần chấp nhận yêu cầu của ông T, bà D giao hai con chung của ông bà cho bà D trực tiếp nuôi dưỡng. Ông T, là người không trực tiếp nuôi dưỡng con chung, có quyền thăm nom con chung.
2.3. Về cấp dưỡng nuôi con:
5
Bà D yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi hai con chung 05 triệu đồng/tháng. Ông T đề nghị cấp dưỡng nuôi hai con chung 3.000.000 (Ba triệu) đồng/tháng kể từ tháng 9/2024 đến khi cháu Mai A đủ 18 tuổi. Xét: Mức sống của dân cư và nhu cầu sinh hoạt của dân cư, thu nhập của cha mẹ để đảm bảo cuộc sống, sinh hoạt và học tập cho hai con chung của ông T, bà D, mức cấp dưỡng nuôi con là 3.000.000 đồng/tháng mà ông D1 đưa ra để cấp dưỡng nuôi con cho đến khi cháu Mai A đủ 18 tuổi hoặc cho đến khi có sự thay đổi khác là có căn cứ, cần chấp nhận.
2.4. Về tài sản chung, nhà đất, nợ chung: Ông T và bà D đã tự giải quyết xong, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
[3] Về án phí: Ông T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự ; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về điều luật áp dụng : Các điều 56, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc ly hôn của ông Nguyễn Xuân T với bà Nguyễn Thị D.
- Về quan hệ hôn nhân : Ông Nguyễn Xuân T được ly hôn bà Nguyễn Thị D.
- Về con chung: Ông T, bà D có hai con chung là Nguyễn Mai T1 sinh ngày 13/02/2012 và Nguyễn Mai A sinh ngày 25/09/2020. Giao cả hai con chung của ông T, bà D cho bà D trực tiếp trông nom, chăm sóc và nuôi dưỡng. Ông T có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.
- Về cấp dưỡng nuôi con : Ông T cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 3.000.000 đồng/tháng kể từ tháng 9/2024 cho đến khi cháu Mai A đủ 18 tuổi hoặc đến khi có sự thay đổi khác.
- Về tài sản chung, nhà đất, nợ chung: Ông T và bà D đã tự giải quyết xong, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí : Ông Nguyễn Xuân T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình về giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con. Ông T đã nộp 300.000 đồng tạm ứng án phí theo biên lai số 0021569 ngày 15/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bắc Từ Liêm nay chuyển thành án phí. Ông T phải nộp tiếp 300.000 đồng án phí sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo : Ông T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bà D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Nguyễn Thị Thanh L |
Bản án số 436/2024/HNGĐ-ST ngày 28/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI về ly hôn
- Số bản án: 436/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN BẮC TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Nguyễn Xuân T xin ly hôn với bà Nguyễn Thị D vì mâu thuẫn VC trầm trọng
