Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 4354/2024/DS-ST

Ngày: 16/09/2024

V/v: Tranh chấp hợp đồng tín dụng.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Lũy.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • Ông Võ Văn Lợi
  • Ông Phạm Văn Phước

Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trọng Luân – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thảo - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 2175/2023/TLST-DS ngày 12 tháng 12 năm 2023 về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 4772/2024/QĐXXST-DS ngày 01 tháng 07 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 2175/2024/QĐ-HPT ngày 19 tháng 07 năm 2024, Thông báo số 15/TB-TA ngày 15 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S

Trụ sở: 266 – B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh

Ủy quyền bà Triệu Thanh Ly N

- Bị đơn: Ông Nguyễn Thanh V, sinh năm 1993

Hiện trú tại: Số A, Đường số A, khu phố C, phường B, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh

Bà N có đơn xin vắng mặt, ông V vắng mặt không lý do.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại phiên Tòa ngày hôm nay bà Triệu Thanh Ly N là người đại diện hợp pháp của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S tuy vắng mặt nhưng theo nội dung đơn khởi kiện, tại bản tự khai, tại biên bản về việc không tiến hành hòa giải được thì nội dung và yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn như sau:

Ngày 12/11/2020, ông Nguyễn Thanh V có ký với Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh Q – P Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ thu nhập của ông Nguyễn Thanh V, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 40.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Nguyễn Thanh V đã thực hiện các giao dịch và tính đến ngày 23/10/2023, tổng số tiền còn phải trả của ông Nguyễn Thanh V là 48.403.703 đồng. Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp với khách hàng, yêu cầu khách hàng có trách nhiệm thanh toán ngay các khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để khách hàng trả nợ, tuy nhiên khách hàng vẫn chưa thanh toán các khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng tín dụng đã ký. Nay tại Tòa, Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa tuyên buộc ông Nguyễn Thanh V phải có nghĩa vụ hoàn trả ngay toàn bộ số tiền vốn và lãi tạm tính đến ngày 16/09/2024 cho Ngân hàng TMCP S – Chi nhánh Q – P là 69.191.568 đồng, trong đó vốn gốc là 45.686.748 đồng, lãi trong hạn 15.669.880 đồng, quá hạn là 7.834.940 đồng. Ngoài ra ông Nguyễn Thanh V còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo lãi suất và các khoản phí phát sinh theo quy định tại các hợp đồng tín dụng đã ký kết kể từ ngày 17/09/2024 cho đến khi trả dứt nợ.

Bị đơn ông Nguyễn Thanh V vắng mặt suốt trong quá trình tố tụng nên Tòa án không thu thập được lời khai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa có bà Đoàn Thị T - Kiểm sát viên phát biểu:

Về tố tụng: Vụ án trên đã được Toà án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thụ lý và giải quyết đúng theo trình tự mà Bộ luật Tố tụng dân sự đã quy định.Tuy nhiên về thời hạn đưa vụ án ra xét xư có vi phạm cần phải rút kinh nghiệm.

Về nội dung yêu cầu của nguyên đơn:

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là phù hợp với các chứng cứ có tại hồ sơ và chứng minh công khai tại phiên tòa, yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử xét chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

2

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Quan hệ tranh chấp giữa Ngân hàng TMCP S và ông Nguyễn Thanh V là tranh chấp hợp đồng tín dụng, nên căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự, tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận, huyện. Bị đơn cư trú tại Thành phố T nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự quan hệ tranh chấp trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

[1.2] Ông Nguyễn Thanh V là bị đơn trong vụ án, Tòa án đã tiến hành niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định để ông Nguyễn Thanh V đến Tòa cung cấp lời khai, tham gia phiên họp công khai chứng cứ, hòa giải và nghe xét xử nhưng ông Nguyễn Thanh V vẫn không đến Tòa, không nộp cho Tòa án văn bản nêu ý kiến của mình và không có lý do, nguyên đơn có đơn xin được vắng mặt. Căn cứ vào quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

2. Về nội dung tranh chấp:

Căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ, lời trình bày cũng như yêu cầu của bà Triệu Thanh Ly N là đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP S, Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa án xử buộc ông Nguyễn Thanh V phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S tạm tính đến ngày 16/09/2024 là 69.191.568 đồng, trong đó vốn gốc là 45.686.748 đồng, lãi trong hạn 15.669.880 đồng, lãi quá hạn là 7.834.940 đồng, trả 01 lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật, ông Nguyễn Thanh V có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 17/09/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng, yêu cầu của Ngân hàng TMCP S, Hội đồng xét xử xét:

[2.1] Ngân hàng TMCP S khởi kiện ông Nguyễn Thanh V, kèm theo đơn là các tài liệu chứng minh ông Nguyễn Thanh V có nợ tiền Ngân hàng TMCP S. Tòa án đã triệu tập ông Nguyễn Thanh V đến Tòa để cung cấp bản tự khai, tham gia phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên Tòa nhưng ông Nguyễn Thanh V đều không đến Tòa, không có văn bản phản đối nên theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự thì yêu cầu khởi kiện không thuộc trường hợp phải chứng minh. Ông

3

Nguyễn Thanh V phải chịu tránh nhiệm về yêu cầu khởi kiện và những tài liệu, chứng cứ mà Ngân hàng TMCP S đưa ra.

[2.2] Căn cứ vào văn bản là Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 12 tháng 11 năm 2020 có chữ ký của ông Nguyễn Thanh V đã cho thấy ông Nguyễn Thanh V có đề nghị Ngân hàng TMCP S cấp thẻ tín dụng, Ngân hàng TMCP S đã chấp nhận cấp thẻ tín dụng cho ông Nguyễn Thanh V và hạn mức được cấp là 40.000.000 đồng, mục đích vay tiêu dùng, lãi suất thỏa thuận. Việc thỏa thuận trên giữa Ngân hàng TMCP S và ông Nguyễn Thanh V là phù hợp quy định tại Điều 116, Điều 117, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Đều 91 của Luật các tổ chức tín dụng. Sau khi được Ngân hàng TMCP S cấp thẻ, ông Nguyễn Thanh V đã tiến hành giao dịch. Trong quá trình giao dịch, ông Nguyễn Thanh V không thanh toán nợ cho Ngân hàng TMCP S theo như hai bên đã thỏa thuận mặc dù Ngân hàng TMCP S nhiều lần nhắc nhở. Do ông Nguyễn Thanh V vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng TMCP S đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông Nguyễn Thanh V. Ông Nguyễn Thanh V đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ, nên việc Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu ông Nguyễn Thanh V phải trả nợ cho Ngân hàng TMCP S với số tiền nợ gốc là 45.686.748 đồng là có cơ sở và đúng pháp luật, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận.

[2.3] Đối với số tiền nợ lãi: Ông Nguyễn Thanh V đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng TMCP S đã áp dụng mức lãi suất mà hai bên đã ký để tính lãi, căn cứ Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010 quy định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”. Các bên tự nguyện thỏa thuận về mức tiền lãi và được quy định trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng ngày 12 tháng 11 năm 2020, Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng TMCP S thì ông Nguyễn Thanh V phải chịu số tiền lãi đến ngày 16 tháng 09 năm 2024 và tiếp tục trả lãi từ ngày 17 tháng 09 năm 2024 trên số tiền nợ gốc chưa trả theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng đề ngày 12 tháng 11 năm 2020 cho đến khi thanh toán xong các khoản tiền nợ gốc, lãi là có cơ sở, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận.

[2.4] Về thời gian trả nợ, như phân tích tại [1], [2], và [3] thì ông Nguyễn Thanh V đã vi phạm thời gian thanh toán nợ. Việc ông Nguyễn Thanh V vi phạm thời gian thanh toán nợ đã làm ảnh hưởng đến lợi ích của Ngân hàng TMCP S. Nay Ngân hàng TMCP S yêu cầu ông Nguyễn Thanh V phải trả 01 lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật là hoàn toàn có cơ sở không trái pháp luật. Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận.

4

[2.5] Về đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức tại phiên tòa hôm nay về nội dung vụ án, đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Thủ Đức là có cơ sở.

Từ những phân tích tại [2.1], [2.2], [2.3], [2.4] và [2.5] cho thấy yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S là có cơ sở, đúng pháp luật, Hội đồng xét xử nghĩ nên chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

Về án phí:

- Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

- Bị đơn phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • - Khoản 3 Điều 26, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, Điều 147, Điều 180, Điều 227, Điều 228, Điều 273, Điều 278, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Điều 6 Nghị quyết 04/2017/NQ-HĐTP ngày 05/5/2017 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Điều 116, Điều 117, Điều 463, Điều 466, Điều 357, khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự 2015;
  • - Căn cứ Điều 91 Luật Các tổ chức tín dụng;
  • - Điều 2, Điều 6, Điều 7, Điều 9, Điều 30 Luật Thi hành án dân sự;
  • - Căn cứ Luật phí và lệ phí;
  • - Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

[1] Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S về việc yêu cầu ông Nguyễn Thanh V có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP S.

Buộc ông Nguyễn Thanh V có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền 69.191.568 đồng, trong đó vốn gốc là 45.686.748 đồng, lãi trong hạn 15.669.880 đồng, lãi quá hạn là 7.834.940 đồng. Trả 01 (một) lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Các bên thi hành tại Cơ quan có thẩm quyền về thi hành án dân sự.

5

Trường hợp ông Nguyễn Thanh V chậm trả tiền thì còn phải chịu thêm tiền lãi phát sinh tính từ ngày 17 tháng 09 năm 2024 cho đến khi thi hành xong theo mức lãi suất được quy định trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng đề ngày 12 tháng 11 năm 2020 mà hai bên đã ký.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

[2] Về án phí:

[2.1] Án phí dân sự sơ thẩm ông Nguyễn Thanh V phải chịu là 3.459.578 đồng, nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền. Ông Nguyễn Thanh V chưa nộp án phí.

[2.2] H lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền 1.210.092 đồng mà Ngân hàng TMCP S đã tạm nộp án phí theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000711 ngày 16 tháng 11 năm 2023 của Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Thủ Đức lập.

[3] Về quyền kháng cáo:

Các đương sự được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Toà tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được tống đạt hoặc ngày niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân phường.

Nơi nhận:

  • - TAND TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - VKSND TP Thủ Đức;
  • - Chi Cục THADS TP Thủ Đức;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu (P/10).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Văn Lũy

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 4354/2024/DS-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 4354/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger