Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 435/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 27 - 9 - 2024

V/v: Tranh chấp hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Võ Duy Bảo
  • 2. Bà Bùi Thị Hoa

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Hòa, Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An: Bà Nguyễn Thị Tuyết Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024 tại: trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 458/2024/TLST - HNGĐ ngày 28 tháng 12 năm 2023 về “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 394/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1994; nơi ĐKHKTT: Xóm B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nơi ở hiện nay: Xóm K, xã K, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: Anh Trần Xuân H, sinh năm 1989; địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh: Xóm B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; hiện đang làm việc và cư trú tại: D (không rõ địa chỉ). Vắng mặt (lần thứ hai).

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn T, sinh năm 1965 và bà Cao Thị T1, sinh năm 1966; cùng địa chỉ: Xóm B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt (có đề nghị xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong “Đơn khởi kiện” đề ngày 09/11/2023, Bản tự khai ngày 04/3/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày: Chị và anh Trần Xuân H kết hôn với nhau trên tinh thần tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An vào ngày 13/3/2012. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc với nhau được được một thời gian thì đến năm 2018 xẩy ra nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống. Mâu thuẫn trầm trọng nhất là vào năm 2019 anh H đi xuất khẩu lao động tại Đ, thời gian đầu sau Đ thì vợ chồng vẫn liên lạc với nhau, sau này do sống xa cách thì vợ chồng ít liên lạc với nhau. Do sống xa cách, vợ chồng không quan tâm nhau, mâu thuẫn vợ chồng trở nên trầm trọng, nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không còn tình cảm với nhau, anh H có người phụ nữ khác, vợ chồng cũng đã ly thân từ năm 2019 cho đến nay. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, vì vậy chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Xuân H. Tuy nhiên, do vợ chồng không liên lạc gì với nhau nên chị Nguyễn Thị N không cung cấp được địa chỉ cụ thể của anh Trần Xuân H tại Đ mà chỉ biết anh H vẫn thường xuyên liên lạc về với bố mẹ đẻ là ông Trần Văn T, sinh năm 1965 và bà Cao Thị T1, sinh năm 1966; cùng địa chỉ cư trú: Xóm B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An và ông T, bà T1 biết địa chỉ cụ thể của anh H ở Đubai nên đề nghị Toà án tiến hành xác minh, thu thập chứng cứ để làm căn cứ giải quyết vụ án theo quy định pháp luật.

- Về con chung: Chị và anh Trần Xuân H có 03 con chung là Trần Nhật L, sinh ngày 03/6/2012; Trần Đại P, sinh ngày 19/6/2017 và Trần Đức L1, sinh ngày 02/02/2020. Hiện nay cháu L, cháu P, cháu L1 đang ở cùng với ông bà nội là ông Trần Văn T và bà Cao Thị T1 (bố mẹ đẻ anh Trần Xuân H) tại xóm B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Nay ly hôn chị đề nghị Tòa án giao cháu L, cháu P và cháu L1 cho chị trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và không yêu cầu anh Trần Xuân H cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Chị N không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại phiên tòa, bị đơn là anh Trần Xuân H vắng mặt mặc dù đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Theo kết quả xác minh tại Công văn số 33528/QLXNC-P3 ngày 14/12/2023 của Cục Q – Bộ C thì: “Trường hợp Trần Xuân H, sinh ngày 03/01/1989m có thông tin xuất nhập cảnh nhiều lần (03 lượt), lần gần nhất xuất cảnh ngày 28/08/2019 qua của khẩu Nội Bìa bằng hộ chiếu số C7668698, hiện chưa có thông tin nhập cảnh”. Vì vậy, sau khi thụ lý, Toà án đã gửi, niêm yết các văn bản tố tụng: Thông báo về việc thụ lý vụ án; Công văn đề nghị cung cấp thông tin, địa chỉ của anh H ở nước ngoài; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa... nhưng anh H vẫn không có mặt, không có văn bản trình bày ý kiến để giải quyết nên vụ án không tiến hành hoà giải được.

Tại biên bản xác minh ngày 04/7/2024 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn T (bố đẻ của anh Trần Xuân H) trình bày: Anh Trần Xuân H là con trai của ông Trần Văn T và bà Cao Thị T1, chị Nguyễn Thị Nghĩa L2 vợ của anh H (con dâu của ông bà). Anh H hiện đang lao động tại D, vẫn thường xuyên liên lạc về với ông bà qua điện thoại bằng ứng dụng Facebook. Tuy nhiên địa chỉ cụ thể của anh H ở D ông bà không biết vì anh H không nói cho ông bà biết. Anh H đã biết việc chị N đang làm thủ tục xin ly hôn tại Tòa án. Hiện nay 03 con chung của anh H, chị N đều đang ở cùng và được ông T, bà T1 chăm sóc, nuôi dưỡng. Các cháu được ông bà chăm sóc từ nhỏ tới nay. Nếu anh H, chị N ly hôn, ông T và bà T1 đồng ý và cam kết quản lý, chăm sóc nuôi dưỡng 03 con chung trong thời gian anh H đang ở nước ngoài. Nay chị N và anh H ly hôn, ông bà không yêu cầu anh H và chị N thanh toán tiền nuôi dưỡng các cháu từ trước đến nay và cả sau này. Vì điều kiện đi lại khó khăn, xa xôi, còn phải chăm lo cho các cháu nhỏ nên ông bà xin phép được vắng mặt tại các buổi làm việc và các phiên tòa mà Tòa án mở.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:

- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình thụ lý và giải quyết vụ án, Thẩm phán đã tuân thủ đúng các quy định tại Điều 48 Bộ luật Tố tụng dân sự; việc thụ lý và giải quyết vụ án đúng quy định tại Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, khoản 2 Điều 38, điểm b khoản 1 Điều 470 Bộ luật Tố tụng dân sự; xác định đúng tư cách đương sự, thời hạn chuẩn bị xét xử đảm bảo đúng quy định... Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa cũng đã tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: nguyên đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 71, 73 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt là không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về việc giải quyết vụ án: áp dụng Điều 56, 81, 82, 83, 122, 123 và 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

+ Về quan hệ hôn nhân: xử cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn anh Trần Xuân H.

+ Về con chung: giao ba cháu Trần Nhật L, sinh ngày 03/6/2012; Trần Đại P, sinh ngày 19/6/2017 và Trần Đức L1, sinh ngày 02/02/2020 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho anh H do anh H chưa có yêu cầu.

+ Về tài sản, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.

+ Về án phí: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị N phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Ngày 09/11/2003, chị Nguyễn Thị N có đơn khởi kiện gửi tới Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An yêu cầu giải quyết ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn với anh Trần Xuân H. Theo đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ kèm theo thì chị N và anh H đều có nơi thường trú tại xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An nhưng từ khoảng năm 2019 thì anh H đã đi xuất khẩu lao động ở D đến nay chưa về nên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37 và Điều 469 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 122, 123 và 127 Luật Hôn nhân và Gia đình.

Tuy nhiên, quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, anh Trần Xuân H là bị đơn và ông Trần Văn T, bà Cao Thị T1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt. Ông T, bà T1 đã có đề nghị xét xử vắng mặt. Đối với bị đơn anh Trần Xuân H, hiện nay vẫn đăng ký hộ khẩu thường trú tại xóm B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An nhưng đã xuất khẩu lao động tại D từ năm 2019, không có mặt tại địa phương mà không thông báo địa chỉ nơi cư trú hiện nay. Toà án đã có công văn yêu cầu cung cấp địa chỉ anh H ở nước ngoài nhưng theo ông Trần Văn T (bố đẻ anh H) thì anh H tuy vẫn có liên hệ với gia đình và đã biết việc Toà án đang thụ lý giải quyết yêu cầu ly hôn của chị Nguyễn Thị N nhưng vẫn không cung cấp địa chỉ cụ thể, không gửi lời khai về nên gia đình không có để cung cấp cho Toà án. Do đó, cần xác định đây là trường hợp bị đơn cố tình giấu địa chỉ. Theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn anh Trần Xuân H, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn T và bà Cao Thị T1.

[2]. Xét các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N:

[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị Nguyễn Thị N và anh Trần Xuân H được xác lập trên cơ sở do hai người tự nguyện, có tìm hiểu và có đăng ký kết hôn. Sau khi kết hôn, vợ chồng đã có thời gian chung sống hòa thuận và có với nhau 3 người con chung nhưng hạnh phúc gia đình không xây dựng được lâu dài do hai anh chị có nhiều bất đồng, mâu thuẫn trong cuộc sống, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn từ năm 2018 cho đến nay mà không quan tâm, liên lạc gì đến nhau. Quá trình giải quyết vụ án, anh H lại không có mặt tại Tòa án để làm việc, cũng không cung cấp được chứng cứ gì về phương án khắc phục tình trạng vợ chồng. Hội đồng xét thấy, thời gian vợ chồng chung sống với nhau là không dài nhưng đã ly thân nhiều năm nay mà cả hai bên đương sự đều không có giải pháp gì để đoàn tụ, nguyên đơn chị N cũng kiên quyết yêu cầu giải quyết ly hôn. Điều đó chứng tỏ tình trạng vợ chồng đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc chị N yêu cầu giải quyết ly hôn là phù hợp với quy định tại Điều 51, 53, 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên chấp nhận.

[2.2]. Về quan hệ con chung: Quá trình giải quyết vụ án, chị N, ông T và bà T1 đều thống nhất trình bày: Vợ chồng chị N, anh H có ba con chung là Trần Nhật L, sinh ngày 03/6/2012; Trần Đại P, sinh ngày 19/6/2017 và Trần Đức L1, sinh ngày 02/02/2020. Hiện nay cháu L, cháu P và cháu L1 đang ở với ông Trần Văn T và bà Cao Thị T1. Nay ly hôn, chị N xin được trực tiếp nuôi dưỡng cả ba cháu và không yêu cầu cấp dưỡng. Ông T, bà T1 cũng có nguyện vọng được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng cháu L, cháu P và cháu L1. Hội đồng xét thấy: Mặc dù từ trước đến nay cháu L, cháu P và cháu L1 đã ở cùng với ông T, bà T1 nhưng theo quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 thì việc nuôi con chung chưa thành niên sau ly hôn là quyền và nghĩa vụ của bố mẹ; yêu cầu được nuôi con của chị Nghĩa L2 hoàn toàn chính đáng. Mặt khác, anh H hiện nay đang ở nước ngoài; ông T, bà T1 cũng không cung cấp được địa chỉ cụ thể nơi cư trú của anh H nên cần giao cả ba cháu cho chị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và Gia đình là phù hợp với hoàn cảnh thực tế về việc nuôi con và điều kiện hoàn cảnh của các bên. Chị N xin được trực tiếp nuôi dưỡng cả ba cháu nhưng không yêu cầu anh H cấp dưỡng nuôi con nên Toà án chưa xem xét.

Về công sức trông nom, chăm sóc, giáo dục các cháu Trần Nhật L, Trần Đại P và Trần Đức L1: ông T, bà T1 là người đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng ba cháu nhưng chưa yêu cầu chị N, anh H phải thanh toán các khoản chi phí chăm sóc nên Hội đồng xét xử không xem xét. Các bên có quyền khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết bằng một vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.

[2.3]. Về tài sản chung và nợ chung: Tại đơn khởi kiện, Bản tự khai, chị N không yêu cầu Toà án giải quyết, anh H cũng chưa có ý kiến gì nên Toà án chưa có cơ sở xem xét. Các đương sự có quyền khởi kiện khi có yêu cầu.

[3]. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí dân sự ly hôn theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 28, khoản 3 Điều 35, điểm a, c khoản 1 Điều 37, Điều 147, Điều 207, khoản 1 Điều 228, khoản 1 Điều 273, Điều 469, Điều 478 và khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83, 84, 122, 123, 127 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N.

1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Thị N được ly hôn với anh Trần Xuân H.

2. Về quan hệ con chung: Giao ba con chung là Trần Nhật L, sinh ngày 03/6/2012; Trần Đại P, sinh ngày 19/6/2017 và Trần Đức L1, sinh ngày 02/02/2020 cho chị Nguyễn Thị N trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Chị Nguyễn Thị N không yêu cầu và anh Trần Xuân H cũng chưa có ý kiến nên Tòa án chưa xem xét.

Anh Trần Xuân H có quyền đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở anh Trần Xuân H trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích mọi mặt của con, khi có lý do chính đáng hoặc có căn cứ theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của một hoặc các bên thì Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con và yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

3. Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị N không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết. Dành quyền khởi kiện liên quan đến chia tài sản chung, nợ chung cho các đương sự trong một vụ án dân sự khác khi các đương sự có yêu cầu.

4. Về án phí: Chị Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0001432 ngày 22/12/2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Nghệ An.

5. Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

6. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn như sau: chị Nguyễn Thị N, ông Trần Văn T và bà Cao Thị T1 có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật. Anh Trần Xuân H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - UBND xã Diễn Liên, huyện Diễn Châu
  • (theo Giấy ĐKKH số 23/2012 ngày 13/03/2012);
  • - Lưu hồ sơ vụ án;

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Thanh Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 435/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 435/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giải quyết ly hôn giữa chị N và anh H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger